Quy trình Thủy trị liệu cho người bệnh sau bỏng

Thủy trị liệu cho người bệnh sau bỏng là phương pháp dùng nước ấm để làm sạch vết thương, làm mềm sẹo và giúp người bệnh tập vận động các khớp dễ dàng

THUỶ TRỊ LIỆU CHO NGƯỜI BỆNH SAU BỎNG

1. ĐẠI CƯƠNG

  • Thuỷ trị liệu là phương pháp điều trị hỗ trợ rất cần thiết cho người bệnh sau bỏng. Thủy trị liệu có nhiều tác dụng như làm sạch vết thương bỏng, loại bỏ các chất bẩn, dị vật, chất hoại tử đang bong, rụng trên bề mặt vết bỏng…, làm mềm mô xơ, sẹo, giảm co kéo, giảm đau, hỗ trợ cho các khớp bị co rút vận động dễ dàng hơn giúp cho quá trình tập phục hồi chức năng của người bệnh sau bỏng thuận lợi và hiệu quả hơn.
  • Có nhiều hình thức thủy trị liệu cho người bệnh sau bỏng như tắm, ngâm bằng nước nóng, lạnh, ủ ấm cục bộ hay toàn thân, tắm bằng vòi, tia nước, xoa bóp dưới nước… Tác dụng tổng quát của thủy trị liệu bao gồm: thủy nhiệt (nước nóng, lạnh), thủy hóa học (nước có khí, nước khoáng), thủy động lực (áp lực cơ học). Tùy theo mục tiêu điều trị cụ thể mà lựa chọn phương pháp thủy trị liệu cho phù hợp với người bệnh, nhưng phải luôn chú ý đảm bảo nguyên tắc an toàn và vô khuẩn: nước tắm vô khuẩn, bồn tắm vô khuẩn, người tắm vô khuẩn.
Thủy trị liệu cho người bệnh sau bỏng

2. CHỈ ĐỊNH

  • Người bệnh bị viêm da, vết thương, vết loét chậm liền sau bỏng.
  • Sẹo xấu, sẹo co kéo, sẹo tăng cảm (hay ngứa), mỏm cụt đau sau bỏng.
  • Viêm, đau dây thần kinh sau bỏng.
  • Chuẩn bị cho xoa bóp, day sẹo, tập vận động phục hồi chức năng sau bỏng.
  • Cứng khớp, teo cơ, suy mòn sau bỏng.
  • Trước khi thay băng người bệnh bỏng bị viêm da, khớp, cơ.

3. CHỐNG CHỈ ĐỊNH

  • 3.1. Thuỷ trị liệu bằng nước nóng: Đối với vết thương nhiễm khuẩn nặng (không nên điều trị toàn thân). Các khối u (cả u lành và u ác tính). Tắc động mạch hay tĩnh mạch. Các trường hợp mất hay giảm cảm giác nóng lạnh. Người bệnh bỏng (có rối loạn tâm thần). Bệnh tim mạch, hô hấp, thận (không điều trị toàn thân).
  • 3.2. Thuỷ trị liệu bằng nước lạnh: Tăng huyết áp. Trạng thái thần kinh hưng phấn. Người bệnh suy nhược cơ thể nặng, thiếu máu.

4. THẬN TRỌNG

5. CHUẨN BỊ

5.1. Người thực hiện:

a) Nhân lực trực tiếp:
  • Bác sĩ chuyên khoa phục hồi chức năng.
  • Kỹ thuật y phục hồi chức năng.
b) Nhân lực hỗ trợ:

5.2. Thuốc:

  • Muối khoáng, nguyên tố vi lượng, sữa tắm, lá chè, ngải cứu, tía tô, lá tre, cúc tần... hoặc nước sắc các loại lá trên.

5.3. Vật tư:

  • Nước có nhiệt độ thích hợp từ 20 – 400C
  • Khăn lau, khăn bông, chăn ủ
  • Khẩu trang y tế
  • Cồn sát khuẩn hoặc dung dịch khử khuẩn tay chứa cồn
  • Chậu, bồn ngâm.
  • Vòi tia Charcot hoặc Shotlander
  • Nhiệt kế bách phân.
  • Máy đo huyết áp
  • Bình đun nước nóng.

5.4. Thiết bị y tế:

  • Bể tập vận động
  • Máy tạo áp lực, tạo xoáy

5.5. Người bệnh:

  • Người thực hiện giải thích cho người bệnh, người chăm sóc về kỹ thuật trước khi thực hiện: mục đích, các bước tiến hành ...
  • Kiểm tra mạch huyết áp (nếu cần).
  • Tắm sạch trước lúc vào bồn, vào bể điều trị (tắm vòi bình thường).

5.6. Hồ sơ bệnh án:

  • Hồ sơ bệnh án theo quy định hoặc phiếu điều trị chuyên khoa.

5.7. Thời gian thực hiện kỹ thuật:

  • Khoảng 30 – 60 phút

5.8. Địa điểm thực hiện:

  • Phòng thực hiện kỹ thuật, buồng bệnh.

5.9. Kiểm tra hồ sơ:

  • Kiểm tra người bệnh: Đánh giá tính chính xác của người bệnh: đúng người bệnh, đúng chẩn đoán, đúng chỉ định...
  • Đầy đủ hồ sơ bệnh án theo quy định hoặc phiếu điều trị chuyên khoa.

6. TIẾN HÀNH QUY TRÌNH KỸ THUẬT

  • Chuẩn bị nước có nhiệt độ thích hợp từ 20-400C, có các muối khoáng và nguyên tố vi lượng, có pha thuốc hoặc sữa tắm, tạo bọt, một số vị thuốc đông y như lá chè, ngải cứu, tía tô, lá tre, cúc tần, hoặc nước sắc các loại lá trên.
  • 6.1. Ủ ấm cục bộ hay toàn thân: Dùng vải hoặc khăn bông nhúng nước vắt còn ẩm, rồi phủ trực tiếp lên cơ thể. Ủ lạnh: nước 20 - 300C. Ủ ấm: nước 34 – 460C. Thường sau 30 phút do điều nhiệt của cơ thể và bốc hơi, nên khô dần, nếu cần ủ tiếp có thể thay vải ẩm khác. Thường mỗi lần điều trị 30 phút đến 1 giờ (tuỳ theo chỉ định). Sau đó lau khô và nằm hoặc ngồi nghỉ 5 - 10 phút.
  • 6.2. Thuỷ liệu cục bộ hay toàn thân: Thực hiện kỹ thuật tắm ngâm cục bộ hay toàn thân. Nhiệt độ nước: mát (25-300C); trung tính (33-340C), ấm (35-360C); nóng (37-400C); rất nóng (trên 400C). Tắm cục bộ (tay, chân, hạ bộ): dùng chậu thùng. Tắm toàn thân (trừ đầu, mặt): bồn tắm 150 - 200 lít. Thời gian: mỗi lần 5 - 10 phút đối với nước lạnh, mát và nóng; 15-30 phútđối với ấm và trung hoà. Sau khi tắm ngâm, lau khô và nằm nghỉ 5 - 10 phút.
  • 6.3. Tắm vòi tia nước áp lực: Vòi tia Charcot: Nước ấm dưới áp lực 2 - 4atm, ở khoảng cách 3m, bắn vào một số bộ phận cơ thể, tạo nên tác dụng xoa day bằng tia nước (không để tia vào vùng mặt, gáy, ngực, bụng và sinh dục). Vòi tia Shotlander: 2 tia nước lạnh và nóng áp lực, tia vào cơ thể như trên, nhưng thay đổi nóng lạnh liên tục, cách nhau 5 - 10 giây.
  • 6.4. Xoa bóp dưới nước bằng tia nước: Bồn nước ấm 200 - 300 lít, người bệnh vừa tắm ngâm vừa dùng tia nước dưới áp lực bắn vào từng vùng vơ thể (lưng, mông, chân, tay) kiểu xoa day, mỗi lần 0,25-0,5 giờ.

7. THEO DÕI VÀ XỬ TRÍ TAI BIẾN

  • Tình trạng ý thức, nhịp thở, mạch, huyết áp của người bệnh trong quá trình điều trị.
  • Tình trạng đau đớn, nhiễm lạnh hoặc chảy máu tại vết thương bỏng…
  • Điện giật: đảm bảo an toàn về điện đối với máy có dùng nguồn điện.
  • Đảm bảo an toàn về nhiệt độ: dùng nhiệt kế hoặc hệ thống đo tự động để kiểm tra và kiểm soát nhiệt độ nước tắm, đặc biệt trong tắm ngâm và tắm hơi nước (có thể mệt xỉu, có thể nhiễm lạnh, bỏng, truỵ tim mạch…).
  • Đảm bảo an toàn về áp lực tia nước: có thể gây tổn thương cơ, mạch máu, thần kinh… cho nên cần có hệ thống kiểm tra áp suất.
  • Đảm bảo an toàn tim mạch đặc biệt ở người già; chết đuối, chết ngạt ở trẻ em.
  • Xử lý nếu có chảy máu tại vết thương bỏng.
  • Chống ô nhiễm nước: có thể gây bệnh ngoài da hoặc một số cơ quan như mắt, tai mũi họng, sinh dục… cho nên cần đảm bảo vệ sinh và kiểm tra chất lượng nước.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Y tế, 2017, “Hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên ngành Phục hồi chức năng” (đợt 2), ban hành theo Quyết định số 5737/QĐ-BYT ngày 22 tháng 12 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
  2. Nguyễn Xuân Nghiên, Cao Minh Châu và cộng sự, 2019, “Vật lý trị liệu Phục hồi chức năng”, NXB Y học.

Đăng nhận xét

X