Hướng dẫn AHA/ASA 2026: Phục hồi chức năng sau Đột quỵ ở Người trưởng thành

Phục hồi chức năng sau Đột quỵ ở Người trưởng thành: Hướng dẫn từ Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ và Hiệp hội Đột quỵ Hoa Kỳ (AHA/ASA) 2026

Lorie G. Richards, PhD, OTR/L, FAHA, Chủ tịch; Nneka L. Ifejika, MD, MPH, FAHA, Phó Chủ tịch; Joel Stein, MD, FAHA, Phó Chủ tịch; Mona N. Bahouth, MD, PhD; Martha Abshire Saylor, PhD, MSN, RN, FAHA; A.M. Barrett, MD; Peii Chen, PhD; Anne F. Deutsch, PhD, RN; Wendy Dusenbury, PhD, DNP, FAHA; Charles Ellis, Jr, PhD, CCC-SLP; Janice Eng, PhD; Jamie Fleet, MD; Heather R. Ford, MOT, OTR/L; Emily S. Grattan, PhD, OTR/L; Richard L. Harvey, MD, FAHA; Corinne A. Jones, PhD, SLP; Chandramouli Krishnan, PhD, PT; Sara Kutzle; Deven Matthews; Nicole Mazwi, MD; Jamila Minga, PhD, CCC-SLP; Dawn M. Nilsen, EdD, OTR/L; Elizabeth Noser, MD; Heather R. Porter, PhD, CTRS, FDRT; Preeti Raghavan, MBBS; Dorian K. Rose, MS, PhD, PT; Elizabeth R. Skidmore, PhD, OTR/L; Marie-Pierre St-Onge, PhD, FAHA; Mary Ellen Stoykov, PhD, OTR/L; Amelia Tenberg Schettini, MSN; Alexandra L. Terrill, PhD; David L. Tirschwell, MD, MSc, FAHA; Paul Vilar, MSN, RN, SCRN; Alicen Whitaker-Hilbig, DPT, PhD; cùng Richard Zorowitz, MD, FAHA, Hội đồng Bình duyệt Chuyên gia

Tóm tắt

Mục tiêu:

Văn bản "Hướng dẫn năm 2026 về Phục hồi Chức năng và Hồi phục sau Đột quỵ ở Người trưởng thành" được ban hành nhằm thay thế bản hướng dẫn năm 2016. Hướng dẫn cập nhật này cung cấp hệ thống các khuyến cáo toàn diện, cập nhật và dựa trên bằng chứng khoa học vững chắc, hướng tới đối tượng người đọc là các bác sĩ lâm sàng, nhân viên y tế liên ngành và người chăm sóc.

Phương pháp:

Từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2025, nhóm tác giả đã tiến hành tra cứu toàn diện các tài liệu y văn xuất bản kể từ sau hướng dẫn năm 2016, tập trung vào các nghiên cứu trên người bằng tiếng Anh được lập chỉ mục trong MEDLINE, PubMed, Cochrane Library và các cơ sở dữ liệu chọn lọc khác có liên quan. Các văn bản có chủ đề liên quan do Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) công bố trước đây cũng được xem xét kỹ lưỡng.

Cấu trúc:

Hướng dẫn này đưa ra các khuyến cáo dựa trên những bằng chứng khoa học cập nhật nhất hiện có về phục hồi chức năng và hồi phục sau đột quỵ. Những cập nhật quan trọng bao gồm các khuyến cáo mới và được sửa đổi xuyên suốt tiến trình hồi phục sau đột quỵ, bao gồm đánh giá và điều trị các bệnh lý nội khoa đồng mắc, nguy cơ gãy xương, phòng ngừa té ngã, phục hồi chức năng ứng dụng công nghệ, hỗ trợ người chăm sóc, sự tham gia xã hội, cũng như việc trở lại làm việc và lái xe an toàn. Mặc dù hướng dẫn này phản ánh những bước tiến vượt bậc của chuyên ngành, tài liệu cũng nêu bật các khoảng trống tri thức và nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết của việc tiếp tục nghiên cứu nhằm hoàn thiện và nâng cao hơn nữa các chiến lược điều trị.

Từ khóa: Tuyên bố Khoa học của AHA ■ người chăm sóc ■ hướng dẫn ■ hồi phục ■ phục hồi chức năng ■ đột quỵ

ARN công nhận giá trị của hướng dẫn trong việc thúc đẩy phục hồi chức năng chất lượng cao, lấy người bệnh làm trung tâm và nâng cao thực hành lâm sàng cho người đang hồi phục sau đột quỵ.
Xem mục lục

Thông điệp cốt lõi hàng đầu

Tóm tắt 

Lời nói đầu 

1. Giới thiệu 

Phương pháp luận và tổng quan bằng chứng 

Cơ cấu nhóm biên soạn hướng dẫn 

Xem xét và phê duyệt tài liệu 

Phạm vi của hướng dẫn 

Phân loại khuyến cáo và mức độ bằng chứng 

Từ viết tắt 

2. Chương trình Phục hồi Chức năng 

2.1. Tổ chức Chăm sóc Phục hồi chức năng sau Đột quỵ (Các cấp độ Chăm sóc) 

2.2. Các can thiệp Phục hồi chức năng Nội trú giai đoạn cấp

3. Phòng ngừa và Quản lý y tế các Bệnh lý đồng mắc 

3.1. Phòng ngừa tổn thương Da và Co rút cơ

3.2. Phòng ngừa Thuyên tắc và Huyết khối tĩnh mạch (VTE) 

3.3. Điều trị rối loạn chức năng Bàng quang và Ruột 

3.4. Đánh giá, Phòng ngừa và Điều trị đau vai bên liệt 

3.5. Đau trung ương sau Đột quỵ 

3.6. Phòng ngừa té ngã 

3.7. Đánh giá sức khỏe Tâm thần và điều trị Trầm cảm, Lo âu sau Đột quỵ bao gồm trạng thái Cảm xúc và Hành vi 

3.8. Loãng xương sau Đột quỵ 

3.9. Giấc ngủ và tình trạng Mệt mỏi sau Đột quỵ 

4. Lượng giá 

4.1. Lượng giá tình trạng Khuyết tật và nhu cầu Phục hồi chức năng 

4.2. Lượng giá khiếm khuyết Vận động, Hoạt động và khả năng Di chuyển 

4.3. Lượng giá rối loạn Giao tiếp 

4.4. Lượng giá Nhận thức và Tri giác 

4.5. Lượng giá khiếm khuyết Cảm giác bao gồm Xúc giác, Thị giác và Thính giác 

5. Khiếm khuyết Cảm giác - Vận động và Hoạt động 

5.1. Hoạt động thể chất 

5.2. Mất thực dụng chi 

5.3. Kiểm soát Co cứng cơ 

5.4. Thăng bằng và Thất điều 

5.5. Dáng đi và Khả năng Di chuyển 

5.6. Hoạt động Chi Trên bao gồm ADLs, IADLs, Xúc giác và Cảm thụ bản thể 

5.7. Dụng cụ thích nghi, Thiết bị Y tế bền, dụng cụ Chỉnh hình và Xe lăn 

5.8. Thay đổi và Quản lý lối sống 

5.9. Điều trị và can thiệp khiếm khuyết Thị giác 

5.10. Sàng lọc, quản lý Rối loạn nuốt và hỗ trợ Dinh dưỡng 

6. Nhận thức và Giao tiếp 

6.1. Các Liệu pháp không dùng thuốc cho suy giảm Nhận thức bao gồm Trí nhớ 

6.2. Các rối loạn giao tiếp mắc phải 

6.3. Rối loạn Vận ngôn: Loạn vận ngôn và Mất dùng vận động lời nói 

6.4. Hội chứng Bỏ quên không gian 

7. Chuyển tiếp Chăm sóc và Phục hồi Chức năng Dựa vào Cộng đồng 

7.1. Đảm bảo tính liên tục trong Y tế và Phục hồi chức năng xuyên suốt quá trình trị liệu và Hòa nhập cộng đồng 

7.2. Gắn kết và hỗ trợ Người chăm sóc 

7.3. Kết nối với các Nguồn lực cộng đồng 

7.4. Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng và Phục hồi chức năng từ xa 

7.5. Chức năng Tình dục 

7.6. Tham gia hoạt động Vui chơi, Giải trí và Xã hội 

7.7. Trở lại công việc 

7.8. Trở lại lái xe 

Công khai Xung đột lợi ích 

Tài liệu tham khảo 

CÁC THÔNG ĐIỆP CHÍNH CẦN GHI NHỚ

  1. Tham gia các liệu pháp phục hồi chức năng đa chuyên ngành đóng vai trò then chốt giúp giảm thiểu khiếm khuyết thần kinh và cải thiện chức năng sau đột quỵ. Do những tổn thương về cấu trúc và chức năng cơ thể có tính chất đa dạng, việc nâng cao năng lực hoạt động đòi hỏi phải kết hợp đồng thời các biện pháp can thiệp phục hồi (tái tạo chức năng) và can thiệp bù trừ.
  2. Sự phối hợp trao đổi thông tin liên tục và xuyên suốt giữa đội ngũ phục hồi chức năng với các đơn vị cung cấp dịch vụ y tế khác là yêu cầu bắt buộc nhằm tránh gián đoạn trong chăm sóc, đồng thời mang lại dịch vụ phục hồi chức năng hiệu quả, tối ưu và giá trị cao trên toàn bộ tiến trình điều trị. Quy trình phục hồi chức năng cần được bắt đầu ngay từ giai đoạn cấp tính của đột quỵ.
  3. Phục hồi chức năng là sự kết hợp đồng thời giữa các can thiệp nhằm tái lập cấu trúc, chức năng cơ thể và việc học các chiến lược bù trừ. Hiện vẫn còn những điểm chưa thống nhất về phương pháp điều trị tối ưu nhất, thời điểm can thiệp cũng như liều lượng thực hiện.
  4. Quy trình phục hồi chức năng cần cung cấp đủ thời lượng và cường độ cho nhiều hình thức luyện tập theo nhiệm vụ cụ thể nhằm giảm bớt các suy giảm chức năng và hướng dẫn các chiến lược bù trừ. Sau 24 giờ kể từ khi khởi phát đột quỵ, người bệnh nên thực hiện các bài tập thể dục và rèn luyện kỹ năng theo nhiệm vụ với cường độ từ trung bình đến cao.
  5. Việc định kỳ đánh giá lại và tái tham gia trị liệu tại nhiều thời điểm khác nhau có ý nghĩa rất quan trọng nhằm xác định các mục tiêu hoặc phương pháp can thiệp mới, đồng thời ngăn ngừa tình trạng suy giảm chức năng.
  6. Người đồng hành chăm sóc bắt buộc phải được đào tạo và trang bị kiến thức nhằm vừa nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần của chính họ, vừa tối ưu hóa sức khỏe và hiệu quả phục hồi cho người bệnh mà họ chăm sóc.
  7. Sức khỏe tâm thần là yếu tố then chốt quyết định sự hồi phục thành công sau đột quỵ. Bệnh nhân đột quỵ cần được tầm soát sớm trầm cảm và lo âu, tái sàng lọc định kỳ tại nhiều thời điểm và được điều trị kịp thời khi có chỉ định. Trầm cảm sau đột quỵ là một biến chứng phổ biến nhưng có thể điều trị được; tình trạng này nếu không can thiệp sẽ cản trở đáng kể quá trình phục hồi chức năng cũng như làm giảm chất lượng cuộc sống.
  8. Nên cân nhắc áp dụng y tế từ xa, đặc biệt khi người bệnh đột quỵ không có điều kiện di chuyển đến cơ sở y tế để trị liệu phục hồi chức năng. Phương thức này hỗ trợ hiệu quả cho quá trình chuyển tiếp chăm sóc và phục hồi chức năng liên tục sau đột quỵ, mở rộng cơ hội tiếp cận dịch vụ và tối ưu hóa chi phí điều trị.
  9. Các thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn hơn, được thiết kế chặt chẽ về những can thiệp phục hồi chức năng là vô cùng cấp thiết nhằm lấp đầy khoảng trống bằng chứng hiện nay. Đặc biệt, cần tiếp tục đẩy mạnh các nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu chuyển giao về tổn thương cũng như sự phục hồi của hệ thần kinh để thúc đẩy các phương pháp tiếp cận cá thể hóa, dựa trên cơ chế bệnh sinh trong phục hồi chức năng đột quỵ.
  10. Nên sử dụng các thang đo kết quả chuẩn hóa ở các cấp độ cấu trúc/chức năng cơ thể, hoạt động và sự tham gia để xác định các can thiệp cần thiết và ghi nhận tiến triển. Việc đánh giá định kỳ sau khi xuất viện là cần thiết nhằm phát hiện sớm các khía cạnh bị suy giảm hoặc những vấn đề mới phát sinh đòi hỏi phải can thiệp phục hồi chức năng bổ sung.
  11. Các biến chứng thứ phát do bất động, chẳng hạn như loét tì đè và thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch, gây cản trở lớn đến tiến trình hồi phục sau đột quỵ. Các hướng dẫn hiện hành chủ yếu dựa trên dữ liệu từ nhóm bệnh nhân nằm viện bị suy giảm khả năng vận động do nhiều bệnh lý khác nhau. Do đó, cần có thêm các nghiên cứu chuyên biệt hơn trên bệnh nhân đột quỵ đang tiếp nhận phục hồi chức năng ở nhiều giai đoạn hồi phục khác nhau.

LỜI MỞ ĐẦU

Từ năm 1990, Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) và Hiệp hội Đột quỵ Hoa Kỳ (ASA) đã chuyển giao các bằng chứng khoa học thành các hướng dẫn thực hành lâm sàng với những khuyến nghị cụ thể nhằm cải thiện sức khỏe mạch máu não. Các hướng dẫn này được xây dựng dựa trên những phương pháp tiếp cận có hệ thống để đánh giá và phân loại bằng chứng, tạo nền tảng vững chắc cho việc cung cấp dịch vụ chăm sóc bệnh mạch máu não đạt chất lượng cao. AHA và ASA tài trợ cho quá trình xây dựng và xuất bản các hướng dẫn thực hành lâm sàng mà không tiếp nhận bất kỳ sự hỗ trợ thương mại nào; các thành viên tham gia đều cống hiến thời gian và chuyên môn một cách tự nguyện cho công tác biên soạn và phản biện.

Các hướng dẫn thực hành lâm sàng về đột quỵ đưa ra những khuyến nghị áp dụng cho bệnh nhân mắc bệnh hoặc có nguy cơ mắc bệnh mạch máu não. Mặc dù trọng tâm hướng đến thực hành y khoa tại Hoa Kỳ, nhiều nội dung mang tính thực tiễn cao đối với người bệnh trên toàn thế giới. Dù các hướng dẫn có thể được sử dụng làm cơ sở cho những quyết định của cơ quan quản lý hoặc đơn vị chi trả bảo hiểm, mục tiêu cốt lõi vẫn là nâng cao chất lượng chăm sóc và phục vụ tối đa lợi ích của bệnh nhân. Hướng dẫn được thiết kế nhằm xác định các thực hành đáp ứng nhu cầu của đa số bệnh nhân trong hầu hết hoàn cảnh, nhưng không thể thay thế phán đoán lâm sàng của người thầy thuốc; ngoài ra, các khuyến nghị được đưa ra cần được xem xét linh hoạt trong bối cảnh giá trị cá nhân, nguyện vọng và các bệnh lý đi kèm của từng người bệnh cụ thể.

AHA và ASA luôn nỗ lực đảm bảo ban soạn thảo hướng dẫn quy tụ đầy đủ năng lực chuyên môn và đại diện cho cộng đồng y khoa rộng lớn bằng cách lựa chọn các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, đa dạng về giới tính, chủng tộc, dân tộc, góc nhìn học thuật, vùng địa lý và phạm vi thực hành lâm sàng, đồng thời mời các tổ chức và hội nghề nghiệp có chuyên môn liên quan tham gia xác nhận tài liệu. AHA và ASA áp dụng các chính sách và phương pháp nghiêm ngặt trong quá trình xây dựng hướng dẫn nhằm hạn chế tối đa thiên vị và ngăn chặn các tác động không phù hợp.

Bắt đầu từ năm 2017, nhiều cải tiến đối với các hướng dẫn của AHA/ASA đã được triển khai nhằm tinh gọn dung lượng và tăng cường tính tiện dụng cho người đọc. Hướng dẫn được trình bày dưới dạng các khối kiến thức mô-đun (modular knowledge chunks), trong đó mỗi khối bao gồm một bảng các khuyến nghị, phần tóm tắt ngắn gọn, văn bản bổ trợ cho từng khuyến nghị và sơ đồ dòng chảy hoặc bảng biểu bổ sung khi thích hợp.

Bác sĩ Nerissa Ko, Thạc sĩ Y khoa (MD, MA)
Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tuyên bố Khoa học thuộc Hội đồng Đột quỵ AHA

NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ CÓ TÁC ĐỘNG LỚN

Bảng này nêu bật một số khuyến nghị mới và có khả năng làm thay đổi thực hành lâm sàng kể từ lần cập nhật hướng dẫn trước, không phải là danh mục toàn bộ tất cả các cập nhật.

Phần / Lĩnh vực Điểm Mới và Có Tác Động Lớn
Phục hồi chức năng Xuyên suốt tiến trình
  • Phục hồi chức năng được khái niệm hóa như một tiến trình liên tục, kéo dài không có điểm kết thúc cố định, hỗ trợ việc đánh giá và can thiệp xuyên suốt vòng đời.
  • Nhấn mạnh mô hình xuất viện sớm có hỗ trợ (ESD) kết hợp chăm sóc đa chuyên khoa phối hợp cho các đối tượng bệnh nhân phù hợp.
Công nghệ và Phục hồi chức năng từ xa Gia tăng sự chú trọng vào các can thiệp có ứng dụng công nghệ, bao gồm y tế từ xa, nhằm cải thiện khả năng tiếp cận, tính liên tục và hiệu quả của dịch vụ chăm sóc.
Quản lý Y tế đối với Bệnh đồng mắc
  • Bổ sung phần mới về giấc ngủ và mệt mỏi sau đột quỵ, bao gồm cả các can thiệp hành vi.
  • Mở rộng các khuyến nghị về đau trung ương sau đột quỵ (CPSP), bao gồm các tiêu chuẩn chẩn đoán chuẩn hóa và hướng dẫn điều trị bằng thuốc.
  • Mở rộng các chiến lược phòng ngừa té ngã, bao gồm các chương trình có cấu trúc, đào tạo nhiệm vụ kép và thái cực quyền.
Sức khỏe Tâm thần và Sức khỏe Hành vi
  • Khuyến nghị sàng lọc thường quy và theo dõi dọc đối với trầm cảm và lo âu.
  • Mở rộng phạm vi khuyến nghị về sức khỏe tâm thần bao hàm đồng thời cả trầm cảm lẫn lo âu.
Chức năng Bàng quang và Ruột Mở rộng các chiến lược đánh giá và quản lý, bao gồm siêu âm đo thể tích bàng quang, đi tiểu theo giờ quy định, tập cơ sàn chậu và kích thích điện.
Đau Vai bên liệt
  • Mở rộng phương pháp tiếp cận điều trị đa phương thức, bao gồm điều biến thần kinh, tiêm độc tố botulinum và các liệu pháp bổ trợ.
  • Khuyến cáo rõ ràng KHÔNG sử dụng bài tập ròng rọc kéo qua đầu do nguy cơ gây tổn thương mô.
Đánh giá
  • Nhấn mạnh hơn vào các công cụ đánh giá đã được chuẩn hóa và xác thực trên các lĩnh vực vận động, nhận thức, giao tiếp và cảm giác.
  • Mở rộng đánh giá sang các khiếm khuyết về thị giác, thính giác và tri giác.
Phục hồi chức năng Cảm giác - Vận động Cập nhật các khuyến nghị về những hình thức luyện tập theo nhiệm vụ và các kỹ thuật can thiệp bổ trợ.
Nhận thức và Giao tiếp
  • Mở rộng hướng dẫn về dụng cụ thích nghi, dụng cụ chỉnh hình, công nghệ hỗ trợ và quản lý lối sống.
  • Mở rộng các phương pháp tiếp cận phi dược lý trong phục hồi chức năng nhận thức.
  • Nâng cao các khuyến cáo về xử trí rối loạn giao tiếp, rối loạn vận ngôn và hội chứng bất chú ý không gian (spatial neglect).
Chuyển tiếp Chăm sóc và Phục hồi chức năng tại Cộng đồng
  • Tăng cường các khuyến nghị nhằm đảm bảo tính liên tục của quá trình chăm sóc qua các môi trường khác nhau và chuyển tiếp vào cộng đồng.
  • Mở rộng trọng tâm vào việc thu hút sự tham gia, đào tạo và hỗ trợ cho người chăm sóc.
  • Gia tăng nhấn mạnh vào việc kết nối chuyển gửi đến các nguồn lực cộng đồng và dịch vụ hỗ trợ dài hạn.
Sự Tham gia và Tái hòa nhập
  • Mở rộng nội dung đề cập đến hoạt động giải trí, sở thích và sự tham gia xã hội.
  • Mở rộng các khuyến nghị về việc quay trở lại làm việc, bao gồm phục hồi chức năng nghề nghiệp cá thể hóa.
  • Mở rộng các khuyến cáo về việc lái xe trở lại thông qua đánh giá an toàn có cấu trúc.

1. GIỚI THIỆU

Đột quỵ vẫn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật ở người trưởng thành. Bệnh lý này gây ra gánh nặng kinh tế lớn cho cá nhân và xã hội, với tổng chi phí hàng năm tại Hoa Kỳ lên tới 56,2 tỷ USD, bao gồm chi phí điều trị nội trú cấp tính, phục hồi chức năng và số ngày nghỉ việc do bệnh tật. Phục hồi chức năng đóng vai trò then chốt trong việc giảm thiểu tàn tật và nâng cao chất lượng cuộc sống sau đột quỵ.1

Mục tiêu của phục hồi chức năng là giúp bệnh nhân đột quỵ khôi phục tối đa về hình thể bình thường và khả năng hoạt động độc lập, giảm thiểu nhu cầu trợ giúp từ người khác và thúc đẩy chất lượng cuộc sống tối ưu. Khung tham chiếu tổng thể cho phục hồi chức năng là mô hình Phân loại Quốc tế về Hoạt động, Khuyết tật và Sức khỏe (ICF) của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong đó khả năng hoạt động chức năng được mô tả ở ba cấp độ: khiếm khuyết cấu trúc và chức năng cơ thể (ví dụ: cơ bắp, các kết nối thần kinh), hạn chế hoạt động (ví dụ: đi lại, mặc quần áo, giặt giũ) và hạn chế sự tham gia vào các vai trò cuộc sống và cộng đồng (ví dụ: tham gia sinh hoạt tôn giáo, làm việc, tham gia sự kiện cộng đồng, thăm hỏi người thân). Khả năng hoạt động chức năng chịu sự chi phối của các yếu tố môi trường (thể chất, tài chính, xã hội) và các yếu tố cá nhân (hiểu biết về sức khỏe, tuổi tác, lối sống, đặc điểm nhân cách).2

Sau đột quỵ, các tổn thương thần kinh gây suy giảm cấu trúc/chức năng cơ thể, từ đó dẫn đến hạn chế hoạt động và hạn chế tham gia xã hội. Mức độ nghiêm trọng của những hạn chế này có thể được giảm thiểu hoặc trầm trọng thêm tùy thuộc vào các yếu tố cá nhân và môi trường. Người bệnh đột quỵ cũng trải qua nhiều trạng thái tâm trạng biến đổi không theo đường thẳng. Những trạng thái tâm lý này có thể tác động đến mức độ cam kết và đáp ứng với phục hồi chức năng; ngược lại, các hoạt động phục hồi chức năng và tiến triển đạt được cũng tác động ngược trở lại tâm trạng người bệnh. Trong quá trình can thiệp, các nhà lâm sàng áp dụng nhiều chiến lược khác nhau nhằm giảm thiểu khiếm khuyết, hạn chế hoạt động, từ đó tạo điều kiện cho bệnh nhân tái hòa nhập vào các hoạt động đời sống và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Cần nhận thức rõ ràng rằng sự hồi phục sau đột quỵ hiếm khi diễn ra theo một đường thẳng đơn thuần, không chỉ giới hạn ở chức năng thể chất và cũng không có một điểm kết thúc xác định cứng nhắc. Thay vào đó, đây là một tiến trình thích ứng động, phi tuyến tính, trong đó người bệnh liên tục đối mặt với sự đảo lộn cuộc sống, phát triển các năng lực mới, tái định hình bản thân và dần kết nối lại với các vai trò cũng như mối quan hệ có ý nghĩa.3,4 Điều này hoàn toàn tương thích với cách mà nhiều người bệnh đột quỵ mô tả về trải nghiệm của chính họ.5 Sự phục hồi không chỉ bao hàm những tiến bộ về thể chất và chức năng mà còn đòi hỏi nỗ lực liên tục về mặt cảm xúc để thích nghi và tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống.6 Vì vậy, hồi phục không phải là việc quay trở lại con người trước đây, mà là sự phát triển một bản thể mới kiên cường và vững vàng hơn.

Sơ đồ tiến trình chuyển tiếp và lộ trình phục hồi chức năng sau đột quỵ cấp
Hình 1. Lộ trình từ giai đoạn đột quỵ cấp tính qua phục hồi chức năng và tái phục hồi.
Lộ trình điều trị rất đa dạng: một số người bệnh có thể trở về nhà trực tiếp từ bệnh viện, trong khi những người khác cần được chăm sóc tích cực sau giai đoạn cấp. Kết quả đầu ra cũng khác biệt, một số bệnh nhân phải chăm sóc dài hạn, trong khi số khác hồi phục hoàn toàn và sống độc lập tại cộng đồng. Nhiều người bệnh vẫn còn khiếm khuyết chức năng tồn dư, đòi hỏi sự hỗ trợ từ người chăm sóc chính thức hoặc không chính thức. IRF: cơ sở phục hồi chức năng nội trú; LTCH: bệnh viện chăm sóc dài hạn; SNF: cơ sở điều dưỡng chuyên sâu; Outpatient rehab: phục hồi chức năng ngoại trú; Home health: dịch vụ y tế tại nhà; Informal care: chăm sóc không chính thức tại gia đình.

Phục hồi chức năng là một tiến trình kéo dài diễn ra trên nhiều môi trường khác nhau. Quá trình này bắt đầu ngay tại bệnh viện cấp tính và tiếp nối ở nhiều môi trường sau xuất viện, bao gồm cơ sở phục hồi chức năng nội trú (IRF), cơ sở điều dưỡng chuyên sâu (SNF) hoặc tại nhà với các chương trình trị liệu tại phòng khám hay dịch vụ y tế tại nhà. Dịch vụ phục hồi chức năng được cung cấp bởi cả người chăm sóc chính thức (nhân viên y tế, điều dưỡng viên được trả lương) và người chăm sóc không chính thức (gia đình, bạn đời, bạn bè). Phục hồi chức năng từ xa đang nổi lên như một nền tảng thay thế đầy tiềm năng cho điều trị tại nhà. Trong nhiều trường hợp, quá trình phục hồi chức năng vẫn tiếp diễn tại gia đình cùng người thân sau khi các chương trình phục hồi chức năng chính thức kết thúc hoặc khi người bệnh không thể tiếp cận các dịch vụ chính quy.

Hướng dẫn này tập trung chuẩn hóa các yếu tố cấu thành của phục hồi chức năng đột quỵ dựa trên các mốc thời gian xuyên suốt tiến trình chăm sóc đột quỵ, được xây dựng dựa trên bằng chứng khoa học đã công bố và ý kiến chuyên gia khi y văn còn khoảng trống. Nội dung bao gồm các đánh giá và can thiệp/chương trình thuộc các mảng lớn sau: Chương trình Phục hồi Chức năng, Phòng ngừa Đột quỵ và Quản lý Y tế các Bệnh đồng mắc, Đánh giá, Khiếm khuyết Cảm giác - Vận động và Hoạt động, Nhận thức và Giao tiếp, và Chuyển tiếp Chăm sóc kết hợp Phục hồi Chức năng tại Cộng đồng. Các can thiệp bao gồm can thiệp hành vi (luyện tập tác vụ, giáo dục và tư vấn); thuốc điều trị; kích thích điện và các dạng kích thích khác; cùng các can thiệp dựa trên công nghệ. Các can thiệp phục hồi trong các lĩnh vực này dựa trên nguyên lý giảm bớt tổn thương thần kinh thông qua việc luyện tập lặp đi lặp lại với cường độ cao.

Việc bổ sung các tác nhân dược lý hoặc các hình thức kích thích thần kinh vào quá trình luyện tập tác vụ nhằm gia tăng tiềm năng mềm dẻo của não bộ cũng như điều trị các biến chứng sau đột quỵ (ví dụ: co cứng, trầm cảm). Công nghệ hiện đại ngày càng phát triển nhằm hỗ trợ người bệnh đột quỵ thực hiện các bài tập theo nhiệm vụ, tạo điều kiện tăng số lần lặp lại, cung cấp phản hồi và hướng dẫn nâng cao cho hệ thần kinh để tác động chính xác vào khiếm khuyết, đồng thời tăng cường sự tập trung và động lực (ví dụ thông qua trò chơi điện tử). Công nghệ cũng hỗ trợ đắc lực cho người bệnh tự tập luyện tại nhà. Các can thiệp bù trừ nhắm vào việc thực hiện hoạt động, bao gồm các dụng cụ trợ giúp (AD) (ví dụ: gậy chống, bảng giao tiếp) và học các kỹ thuật mới để hoàn thành sinh hoạt thường ngày (ví dụ: mặc quần áo bằng một tay).

Việc xây dựng các hướng dẫn phục hồi chức năng gặp nhiều phức tạp do tính chất liên ngành rộng lớn, đòi hỏi nhiều chuyên khoa cùng tham gia chăm sóc, và thực tế là phục hồi chức năng có thể kéo dài mà không có thời điểm kết thúc cụ thể. Trước đây, bệnh nhân đột quỵ thường được chia thành các giai đoạn hồi phục: cấp tính, bán cấp và mạn tính, nhưng định nghĩa giữa các nghiên cứu thiếu tính đồng nhất. Dựa trên tuyên bố đồng thuận gần đây, tài liệu này sử dụng các định nghĩa sau để phân định 5 giai đoạn hồi phục đột quỵ:

  • Tối cấp: 0 đến 24 giờ;
  • Cấp tính: 1 đến 7 ngày sau đột quỵ;
  • Bán cấp sớm: 7 ngày đến 3 tháng;
  • Bán cấp muộn: 3 đến 6 tháng;
  • Mạn tính: >6 tháng sau đột quỵ.7
Hầu hết các nghiên cứu về phục hồi chức năng được thực hiện ở giai đoạn mạn tính hoặc bán cấp muộn do các yếu tố hậu cần và để tránh các biến số gây nhiễu từ sự hồi phục tự nhiên cũng như các liệu pháp phục hồi chức năng tiêu chuẩn đồng thời. Trong hướng dẫn này, chúng tôi nhìn chung tránh ấn định mốc thời gian cụ thể cho từng can thiệp trừ khi có lý do đặc biệt bắt buộc (ví dụ: cân nhắc an toàn), dẫu cho cơ sở bằng chứng về thời điểm can thiệp ở bất kỳ giai đoạn nào vẫn còn hạn chế. Một vấn đề quan trọng khác thường bị bỏ sót là liều lượng can thiệp (cường độ, lịch trình, thời lượng). Các thông số này dao động rất lớn giữa các nghiên cứu và việc so sánh liều lượng hiếm khi được thực hiện; vì vậy, liều lượng cụ thể phần lớn không được đưa vào khuyến nghị trừ khi có bằng chứng rõ ràng. Chính sách của AHA đã có những bước tiến kể từ các bản hướng dẫn trước đây: các hướng dẫn mới chủ động lược bỏ những khuyến cáo có đề cập đến các thiết bị hoặc dược phẩm chưa được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) cấp phép riêng cho chỉ định hồi phục đột quỵ. Thay vào đó, các nội dung này được ghi nhận như những khoảng trống tri thức cần tiếp tục nghiên cứu. Những thuốc và công nghệ đã được khuyến cáo trong các hướng dẫn trước đó được áp dụng điều khoản chuyển tiếp để tiếp tục đưa vào. Đối với một số mảng đã có hướng dẫn chi tiết trong các văn bản khác của AHA (ví dụ: phòng ngừa thứ phát đột quỵ), chúng tôi dẫn chiếu người đọc đến các tài liệu đó thay vì lặp lại nội dung. Các rào cản về tiếp cận và công bằng trong dịch vụ phục hồi chức năng được trình bày trong Tuyên bố Chính sách riêng của AHA/ASA.8

PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ TỔNG QUAN BẰNG CHỨNG

Các khuyến nghị trong hướng dẫn này được xây dựng dựa trên bằng chứng tối đa và được hỗ trợ bởi quy trình rà soát y văn toàn diện. Quá trình tra cứu y văn chủ yếu tập trung vào các nghiên cứu trên người, xuất bản bằng tiếng Anh từ sau bản Hướng dẫn Phục hồi Chức năng và Hồi phục sau Đột quỵ ở Người lớn năm 2016 đến tháng 10 năm 2025, được lập chỉ mục trong MEDLINE, PubMed, Cochrane Library và các cơ sở dữ liệu liên quan khác. Phụ lục Dữ liệu trực tuyến chứa các bảng tổng hợp bằng chứng chi tiết được Nhóm Soạn thảo sử dụng để xây dựng khuyến nghị. Nhóm biên soạn cũng xem xét các tài liệu liên quan đã được AHA/ASA công bố trước đây (Bảng 1).

Bảng 1. Các Hướng dẫn và Tuyên bố Khoa học Liên quan của AHA/ASA

Tiêu đề Tài liệu Tổ chức Năm Công bố
Các Hướng dẫn của AHA/ASA
Hướng dẫn Phục hồi Chức năng và Tái phục hồi sau Đột quỵ ở Người lớn: Hướng dẫn dành cho Chuyên gia Y tế từ AHA/ASA AHA/ASA 20169
Hướng dẫn năm 2021 về Phòng ngừa Đột quỵ ở Bệnh nhân Đột quỵ và Cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua: Hướng dẫn từ AHA/ASA AHA/ASA 202110
Hướng dẫn năm 2024 về Phòng ngừa Ban đầu Đột quỵ: Hướng dẫn từ AHA/ASA AHA/ASA 202411
Hướng dẫn năm 2026 về Xử trí Sớm Bệnh nhân Đột quỵ Nhồi máu não Cấp: Hướng dẫn từ AHA/ASA AHA/ASA 202612
Các Tuyên bố Khoa học của AHA/ASA
Thống kê Bệnh Tim và Đột quỵ năm 2024: Báo cáo Dữ liệu Hoa Kỳ và Toàn cầu từ Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ AHA 20241
Sử dụng Rượu và Bệnh Tim mạch: Tuyên bố Khoa học từ AHA AHA 202513
Lời kêu gọi Hành động nhằm Ngăn ngừa Thuyên tắc Huyết khối Tĩnh mạch ở Bệnh nhân Nằm viện: Tuyên bố Chính sách từ AHA AHA 202014
Chăm sóc Bệnh nhân Đột quỵ Nhồi máu não Cấp (Điều trị Can thiệp nội mạch / Hồi sức tích cực sau can thiệp): Cập nhật Tuyên bố Khoa học Chăm sóc Điều dưỡng Toàn diện 2009 từ AHA AHA 200915
Tổng quan Toàn diện về Chăm sóc Điều dưỡng và Phục hồi Chức năng Liên ngành cho Bệnh nhân Đột quỵ: Tuyên bố Khoa học từ AHA AHA 201016
Quản lý Viêm nội tâm mạc Nhiễm trùng ở Người tiêm chích Ma túy: Tuyên bố Khoa học từ AHA AHA 202217
Sức khỏe Giấc ngủ Đa chiều: Định nghĩa và Ý nghĩa đối với Sức khỏe Chuyển hóa Tim mạch: Tuyên bố Khoa học từ AHA AHA 202518
Tổng quan về Y tế Từ xa trong Quản lý Bệnh Tim mạch: Tuyên bố Khoa học từ AHA AHA 202219
Khuyến nghị về Hoạt động Thể chất và Tập thể dục cho Người sống sót sau Đột quỵ: Tuyên bố dành cho Chuyên gia Y tế từ AHA/ASA AHA 201420
Ưu tiên Nghiên cứu Thuyên tắc Huyết khối Tĩnh mạch: Tuyên bố Khoa học từ Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ và Hiệp hội Quốc tế về Huyết khối và Cầm máu AHA/ISTH 202021

Cơ cấu Nhóm Soạn thảo và Quy trình Phê duyệt

Mỗi chuyên đề được phân công một tác giả chính cùng một người phản biện chính (và đôi khi có phản biện phụ). Việc phân công căn cứ vào chuyên môn của các thành viên và đảm bảo không có xung đột lợi ích kinh tế liên quan đến nội dung phụ trách. Toàn bộ các khuyến nghị đều được thảo luận kỹ lưỡng trong toàn thể nhóm để thu nạp các góc nhìn đa chiều, sau đó tiến hành bỏ phiếu đồng thuận thông qua quy trình Delphi sửa đổi. Tỷ lệ đồng thuận cho các khuyến nghị trong hướng dẫn này đạt từ 82,2% đến 100%.

Nhóm Soạn thảo Hướng dẫn bao gồm các bác sĩ thần kinh mạch máu và đột quỵ, bác sĩ y học phục hồi, chuyên viên vật lý trị liệu, chuyên viên hoạt động trị liệu, chuyên viên âm ngữ trị liệu, chuyên viên giải trí trị liệu, điều dưỡng phục hồi chức năng, bác sĩ nội trú đang đào tạo chuyên sâu và 2 đại diện người bệnh. Tài liệu đã được phản biện và phê duyệt bởi Ủy ban Giám sát Tuyên bố Khoa học Đột quỵ của AHA, Ủy ban Cố vấn và Điều phối Khoa học AHA, Ban Điều hành AHA cùng đại diện từ các hội chuyên ngành hàng đầu như AAN, AAPM&R, ACRM, AOTA, APTA, ASHA, ASNR, ATRA, ARN và 33 chuyên gia phản biện độc lập.

Phân loại Mức độ Khuyến cáo và Chất lượng Bằng chứng

Mỗi khuyến cáo đều được phân loại dựa trên cả hai tiêu chí là COR và LOE. Trong đó, COR thể hiện mức độ mạnh yếu của một khuyến cáo, phản ánh ước tính về tầm quan trọng cũng như mức độ chắc chắn của lợi ích mang lại khi so sánh với các rủi ro đi kèm. Về phần mình, LOE đánh giá chất lượng của các bằng chứng khoa học ủng hộ cho phương pháp can thiệp; việc đánh giá này dựa vào loại hình thiết kế, số lượng, cũng như tính nhất quán của dữ liệu thu thập được từ các thử nghiệm lâm sàng và nhiều nguồn khác (Bảng 2).

PHÂN LOẠI MỨC ĐỘ KHUYẾN CÁO CHẤT LƯỢNG BẰNG CHỨNG
Nhóm 1 (MẠNH) — Lợi ích >>> Nguy cơ
Thuật ngữ: Được khuyến cáo; Được chỉ định/hữu ích/hiệu quả; Nên được thực hiện/áp dụng.
Mức A: Bằng chứng chất lượng cao từ hơn 1 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (RCT); hoặc Phân tích gộp các RCT chất lượng cao; hoặc ≥1 RCT được xác nhận bởi các nghiên cứu sổ bộ chất lượng cao.
Nhóm 2a (TRUNG BÌNH) — Lợi ích >> Nguy cơ
Thuật ngữ: Là hợp lý; Có thể hữu ích/hiệu quả; Nên lựa chọn phương pháp A hơn phương pháp B.
Mức B-R (Ngẫu nhiên): Bằng chứng chất lượng trung bình từ 1 hoặc nhiều RCT; hoặc Phân tích gộp các RCT chất lượng trung bình.
Nhóm 2b (YẾU) — Lợi ích ≥ Nguy cơ
Thuật ngữ: Có thể hợp lý; Có thể xem xét; Tính hữu ích/hiệu quả chưa rõ ràng/chưa xác lập chắc chắn.
Mức B-NR (Không ngẫu nhiên): Bằng chứng chất lượng trung bình từ 1 hoặc nhiều nghiên cứu không ngẫu nhiên được thiết kế tốt, nghiên cứu quan sát hoặc nghiên cứu sổ bộ.
Nhóm 3: Không Có Lợi (TRUNG BÌNH) — Lợi ích = Nguy cơ
Thuật ngữ: Không được khuyến cáo; Không được chỉ định/không hiệu quả; Không nên thực hiện.
Mức C-LD (Dữ liệu hạn chế): Nghiên cứu quan sát/sổ bộ ngẫu nhiên hoặc không ngẫu nhiên có hạn chế trong thiết kế/thực hiện; hoặc nghiên cứu sinh lý/cơ chế trên người.
Nhóm 3: CÓ HẠI (MẠNH) — Nguy cơ > Lợi ích
Thuật ngữ: Có nguy cơ gây hại; Gây hại; Làm tăng tỷ lệ bệnh tật/tử vong; Tuyệt đối không thực hiện.
Mức C-EO (Ý kiến chuyên gia): Đồng thuận dựa trên kinh nghiệm lâm sàng của các chuyên gia khi thiếu dữ liệu thử nghiệm.

COR và LOE được xác định độc lập với nhau (bất kỳ COR nào cũng có thể được ghép cặp với bất kỳ LOE nào).

Một khuyến cáo có LOE C không ngụ ý rằng khuyến cáo đó yếu. Rất nhiều câu hỏi lâm sàng quan trọng được đề cập trong các hướng dẫn không phù hợp để tiến hành các thử nghiệm lâm sàng. Mặc dù các thử nghiệm RCT có thể không khả dụng, nhưng có thể có sự đồng thuận lâm sàng rất rõ ràng cho thấy một xét nghiệm hoặc phương pháp điều trị cụ thể là hữu ích hoặc có hiệu quả.

  • * Kết cục hoặc kết quả của can thiệp cần được nêu rõ (cải thiện một kết cục lâm sàng, hoặc tăng độ chính xác trong chẩn đoán, hoặc tăng cường thông tin tiên lượng).
  • † Đối với các khuyến cáo so sánh hiệu quả (chỉ áp dụng cho COR 1 và 2a; LOE A và B), các nghiên cứu hỗ trợ cho việc sử dụng các động từ mang tính so sánh nên bao gồm sự so sánh trực tiếp giữa các phương pháp điều trị hoặc chiến lược đang được đánh giá.
  • ‡ Phương pháp đánh giá chất lượng đang ngày càng phát triển, bao gồm việc áp dụng các công cụ đánh giá được chuẩn hóa, sử dụng rộng rãi và ưu tiên các công cụ đã được thẩm định tính hợp lệ; đồng thời đối với các tổng quan hệ thống, cần có sự tham gia của một Hội đồng Đánh giá Bằng chứng.

Danh mục Từ viết tắt

  • AAC Giao tiếp Tăng cường và Thay thế (Augmentative and Alternative Communication)
  • ACT Liệu pháp Chấp nhận và Cam kết (Acceptance and Commitment Therapy)
  • AD Dụng cụ Hỗ trợ (Assistive Devices)
  • ADL/ADLs Các Hoạt động Sống Hàng ngày (Activities of Daily Living)
  • AFO Nẹp Cổ bàn chân (Ankle-Foot Orthosis)
  • AHA Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (American Heart Association)
  • AAN Viện Hàn lâm Thần kinh học Hoa Kỳ (American Academy of Neurology)
  • AAPM&R Viện Hàn lâm Y học Vật lý và Phục hồi chức năng Hoa Kỳ (American Academy of Physical Medicine and Rehabilitation)
  • ACRM Đại hội Phục hồi chức năng Hoa Kỳ (American Congress of Rehabilitation Medicine)
  • ASA Hiệp hội Đột quỵ Hoa Kỳ (American Stroke Association)
  • ASHA Hiệp hội Ngôn ngữ-Lời nói-Thính học Hoa Kỳ (American Speech-Language-Hearing Association)
  • AOTA Hiệp hội Hoạt động Trị liệu Hoa Kỳ (American Occupational Therapy Association)
  • APTA Hiệp hội Vật lý Trị liệu Hoa Kỳ (American Physical Therapy Association)
  • ARN Hiệp hội Điều dưỡng Phục hồi chức năng (Association of Rehabilitation Nurses)
  • ATRA Hiệp hội Giải trí Trị liệu Hoa Kỳ (American Therapeutic Recreation Association)
  • BDI-II Thang đo Trầm cảm Beck phiên bản II (Beck Depression Inventory-II)
  • BOA Thang đo Kết cục Hành vi của Tình trạng Lo âu (Behavioural Outcomes of Anxiety Scale)
  • CBT Liệu pháp Nhận thức Hành vi (Cognitive Behavioral Therapy)
  • CIMT Liệu pháp Vận động Cưỡng bức (Constraint-Induced Movement Therapy)
  • COR Phân loại Khuyến cáo (Class of Recommendation)
  • CPSP Đau Trung ương sau Đột quỵ (Central Poststroke Pain)
  • DM/Q Dextromethorphan/Quinidine
  • DVT Huyết khối Tĩnh mạch Sâu (Deep Vein Thrombosis)
  • ESD Xuất viện Sớm có Hỗ trợ (Early Supported Discharge)
  • ESWT Liệu pháp Sóng Xung kích Ngoài cơ thể (Extracorporeal Shock Wave Therapy)
  • FDA Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (Food and Drug Administration)
  • FES Kích thích Điện Chức năng (Functional Electrical Stimulation)
  • GDS Thang đo Trầm cảm Lão khoa (Geriatric Depression Scale)
  • GSC Hợp đồng Tự phục hồi chức năng có Hướng dẫn (Guided Self-Rehabilitation Contract)
  • HADS Thang đo Lo âu và Trầm cảm Bệnh viện (Hospital Anxiety and Depression Scale)
  • HDRS Thang đo Đánh giá Trầm cảm Hamilton (Hamilton Depression Rating Scale)
  • HILT Liệu pháp Laser Cường độ cao (High-Intensity Laser Therapy)
  • HSP Đau Vai Bán liệt (Hemiplegic Shoulder Pain)
  • IADL/IADLs Các Hoạt động Sống Hàng ngày Có sử dụng Công cụ (Instrumental Activities of Daily Living)
  • ICF Phân loại Quốc tế về Hoạt động Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe (International Classification of Functioning, Disability and Health)
  • ICH Xuất huyết Nội sọ (Intracranial Hemorrhage)
  • IPC Ép hơi Ngắt quãng (Intermittent Pneumatic Compression)
  • IRF Cơ sở Phục hồi chức năng Nội trú (Inpatient Rehabilitation Facility)
  • ITB Baclofen Tiêm tủy sống (Intrathecal Baclofen)
  • LMWH Heparin Trọng lượng Phân tử Thấp (Low-Molecular-Weight Heparin)
  • LOE Mức độ Bằng chứng (Level of Evidence)
  • MADRS Thang đo Đánh giá Trầm cảm Montgomery–Åsberg (Montgomery–Åsberg Depression Rating Scale)
  • MAS Thang đo Ashworth Cải tiến (Modified Ashworth Scale)
  • MMSE Thang điểm Đánh giá Trạng thái Tâm thần Tối thiểu (Mini-Mental State Examination)
  • MoCA Thang điểm Đánh giá Nhận thức Montreal (Montreal Cognitive Assessment)
  • mRS Thang điểm Rankin Cải tiến (Modified Rankin Scale)
  • NDT Liệu pháp Phát triển Thần kinh (Neurodevelopmental Therapy)
  • NIHSS Thang điểm Đột quỵ của Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (National Institutes of Health Stroke Scale)
  • NMES Kích thích Điện Thần kinh Cơ (Neuromuscular Electrical Stimulation)
  • OCS Thang Đánh giá Nhận thức Oxford (Oxford Cognitive Screen)
  • PBA Hội chứng Giả hành tủy (Pseudobulbar Affect)
  • PE Thuyên tắc Phổi (Pulmonary Embolism)
  • PEG Mở dạ dày ra da qua Nội soi (Percutaneous Endoscopic Gastrostomy)
  • PFMT Tập Cơ sàn chậu (Pelvic Floor Muscle Training)
  • PHQ Bảng câu hỏi Sức khỏe Bệnh nhân (Patient Health Questionnaire)
  • PHQ-2 Bảng câu hỏi Sức khỏe Bệnh nhân-2 (Patient Health Questionnaire-2)
  • PHQ-9 Bảng câu hỏi Sức khỏe Bệnh nhân-9 (Patient Health Questionnaire-9)
  • PNS Kích thích Thần kinh Ngoại biên (Peripheral Nerve Stimulation)
  • PRF Điều hòa Thần kinh bằng Sóng Vô tuyến Xung (Pulsed Radiofrequency Neuromodulation)
  • PSA Lo âu sau Đột quỵ (Poststroke Anxiety)
  • PSD Trầm cảm sau Đột quỵ (Poststroke Depression)
  • RAGT Huấn luyện Dáng đi có Robot Hỗ trợ (Robot-Assisted Gait Training)
  • RCT Thử nghiệm Đối chứng Ngẫu nhiên (Randomized Controlled Trial)
  • ROM Tầm Vận động (Range of Motion)
  • rTMS Kích thích Từ xuyên sọ Lặp lại (Repetitive Transcranial Magnetic Stimulation)
  • SADQ Bảng câu hỏi Trầm cảm Mất ngôn ngữ sau Đột quỵ (Stroke Aphasia Depression Questionnaire)
  • SNF Cơ sở Điều dưỡng Chuyên môn (Skilled Nursing Facility)
  • SSNB Phong bế Thần kinh Trên vai (Suprascapular Nerve Block)
  • SSRI/SSRIs Thuốc Ức chế Tái hấp thu Serotonin Có chọn lọc (Selective Serotonin Reuptake Inhibitor(s))
  • tDCS Kích thích Dòng điện Trực tiếp Xuyên sọ (Transcranial Direct Current Stimulation)
  • TENS Kích thích Thần kinh Bằng điện Qua da (Transcutaneous Electrical Nerve Stimulation)
  • UFH Heparin Không Phân đoạn (Unfractionated Heparin)
  • VAMS Thang đo Tâm trạng Trực quan Tương tự (Visual Analog Mood Scale)
  • D-VAMS Thang đo Tâm trạng Trực quan Tương tự Động (Dynamic Visual Analog Mood Scales)
  • VNS Kích thích Dây thần kinh Phế vị (Vagus Nerve Stimulation)
  • VR Thực tế Ảo (Virtual Reality)
  • VTE Thuyên tắc Huyết khối Tĩnh mạch (Venous Thromboembolism)
  • WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)
  • WHODAS Bảng Lịch trình Đánh giá Khuyết tật của Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization Disability Assessment Schedule)

2. CHƯƠNG TRÌNH PHỤC HỒI CHỨC NĂNG

2.1. Tổ chức Chăm sóc Phục hồi Chức năng sau Đột quỵ (Các Cấp độ Chăm sóc)

COR LOE Khuyến cáo về Tổ chức Chăm sóc Phục hồi Chức năng sau Đột quỵ
Chăm sóc Phục hồi Chức năng Sau Giai đoạn Cấp
1 A Đối với bệnh nhân đột quỵ đủ điều kiện phục hồi chức năng sau giai đoạn cấp, khuyến cáo cung cấp dịch vụ chăm sóc liên ngành có tổ chức và phối hợp chặt chẽ nhằm đạt được mức độ độc lập chức năng tối đa.1,2
1 B-NR Đối với bệnh nhân đột quỵ đủ tiêu chuẩn chăm sóc tại cơ sở phục hồi chức năng nội trú (IRF), khuyến cáo ưu tiên điều trị tại IRF hơn là cơ sở điều dưỡng chuyên sâu (SNF) để đạt được sự cải thiện chức năng tốt hơn tại thời điểm xuất viện và đạt tỷ lệ trở về cộng đồng cao hơn.3–7
1 C-LD Đối với bệnh nhân đột quỵ có nhu cầu phục hồi chức năng ngoại trú hoặc tại nhà, khuyến cáo cung cấp dịch vụ phục hồi chức năng liên ngành được điều phối và tổ chức tốt tại cộng đồng nhằm cải thiện chức năng hiệu quả hơn.8,9
2a C-LD Đối với bệnh nhân đột quỵ không thể trở về nhà trực tiếp sau khi xuất viện và không đủ điều kiện hoặc không thể tiếp cận IRF do khoảng cách địa lý, chăm sóc tại SNF có thể hữu ích giúp người bệnh đạt được những cải thiện chức năng bổ sung.10
2a C-EO Đối với bệnh nhân đột quỵ đã hoàn thành đợt can thiệp tại IRF nhưng chưa thể về nhà ngay do vẫn còn nhu cầu phục hồi chức năng liên tục, các yêu cầu y tế hoặc nhu cầu chăm sóc cá nhân, việc tiếp tục chăm sóc tại SNF có thể hữu ích để củng cố và gia tăng cải thiện chức năng.
Mô hình Xuất viện Sớm Có Hỗ trợ (Early Supported Discharge - ESD)
1 B-R Đối với bệnh nhân đột quỵ có mức độ hạn chế hoạt động từ nhẹ đến trung bình, khuyến cáo áp dụng mô hình xuất viện sớm có hỗ trợ kết hợp dịch vụ đa chuyên khoa nhằm đạt được kết quả phục hồi tương đương với phục hồi chức năng tại bệnh viện.11–14
3: Không có lợi B-R Đối với bệnh nhân đột quỵ, việc xuất viện sớm kết hợp phục hồi chức năng tại nhà do gia đình tự thực hiện không mang lại lợi ích cải thiện kết quả phục hồi so với chỉ xuất viện sớm đơn thuần.15–17

Tóm tắt Tổng quan

Khả năng tiếp cận dịch vụ phục hồi chức năng chất lượng cao sau giai đoạn cấp là điều kiện tiên quyết để người bệnh đột quỵ đạt được kết quả chức năng tốt hơn.18 Tại Hoa Kỳ, phục hồi chức năng sau giai đoạn cấp diễn ra ở nhiều loại hình cơ sở khác nhau. Đối với bệnh nhân có hạn chế từ trung bình đến nặng về khả năng tự chăm sóc và vận động, các chương trình nội trú bao gồm IRF và SNF. Các cơ sở IRF cung cấp cường độ trị liệu cao nhất mỗi ngày (tối thiểu 3 giờ/ngày, 5 ngày/tuần), có sự chăm sóc của điều dưỡng chuyên khoa phục hồi chức năng và bác sĩ thăm khám hàng ngày. Ngược lại, các cơ sở SNF ("phục hồi chức năng bán cấp") cung cấp dịch vụ điều dưỡng và trị liệu nhưng thời lượng tập không cố định trước và bác sĩ thường không giám sát trực tiếp hàng ngày.

Đối với bệnh nhân có khiếm khuyết chức năng nhẹ hơn, các dịch vụ tại cộng đồng bao gồm các đơn vị y tế tại nhà (cung cấp dịch vụ điều dưỡng và trị liệu cho bệnh nhân gặp khó khăn khi rời khỏi nhà) và các phòng khám ngoại trú. Một số cơ sở cung cấp chương trình "phục hồi chức năng ban ngày" (day rehabilitation) ngoại trú với sự phối hợp của từ 2 chuyên khoa trở lên. Đối với bệnh nhân có nhu cầu y tế phức tạp, việc điều trị tại bệnh viện chăm sóc dài hạn (LTCH) có thể phù hợp. Mô hình xuất viện sớm có hỗ trợ (ESD) đã được nghiên cứu hơn 20 năm tại châu Âu, Úc và New Zealand; mô hình này giúp bệnh nhân xuất viện sớm hơn và tiếp tục phục hồi chức năng đa chuyên khoa tại nhà với kết quả tương đương điều trị nội trú.11,20

Khoảng trống Kiến thức và Định hướng Nghiên cứu Tương lai

  • Cần có các nghiên cứu dài hạn đánh giá kết quả chức năng và chi phí liên quan đến các mô hình sử dụng dịch vụ sau giai đoạn cấp.
  • Cần phát triển các công cụ hỗ trợ ra quyết định đã được xác thực, tích hợp mức độ nặng của đột quỵ, bệnh đồng mắc, nhận thức, hỗ trợ xã hội và tiềm năng phục hồi để xác định môi trường điều trị và liều lượng trị liệu tối ưu.
  • Nghiên cứu vai trò của y tế từ xa, các mô hình thanh toán thay thế và quy trình bàn giao bệnh nhân an toàn giữa các môi trường chăm sóc.

2.2. Can thiệp Phục hồi Chức năng tại Khoa Nội trú Bệnh viện Cấp tính

COR LOE Khuyến cáo về Can thiệp Phục hồi tại Bệnh viện Cấp tính
1 A Đối với bệnh nhân đột quỵ trong giai đoạn cấp, nên tiến hành vận động sớm theo phác đồ tăng tiến bắt đầu từ 24 đến 48 giờ sau khi khởi phát đột quỵ để cải thiện kết quả chức năng và chất lượng cuộc sống.1–5
3: Có hại A Ở bệnh nhân đột quỵ cấp, không được tiến hành vận động liều cao/cường độ mạnh trong vòng 24 giờ đầu sau khởi phát nhằm tránh nguy cơ làm nặng thêm tổn thương thần kinh và làm xấu đi kết quả phục hồi chức năng.6

Tóm tắt Tổng quan & Diễn giải Bằng chứng

Bắt đầu phục hồi chức năng ngay trong giai đoạn nằm viện cấp tính là rất quan trọng để vừa ngăn ngừa, điều trị các biến chứng bất động, vừa thúc đẩy khả năng độc lập chức năng. Việc vận động sớm ra khỏi giường là một trong những khía cạnh được nghiên cứu nhiều nhất. Vận động trong giai đoạn cấp giúp giảm đáng kể nguy cơ viêm phổi, huyết khối tĩnh mạch sâu, loét tì đè, co rút khớp và táo bón.7–9

Tuy nhiên, việc vận động quá sớm (trước 24 giờ) hoặc với cường độ quá cao tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây rối loạn huyết động và làm giảm tưới máu vùng thiếu máu não cấp. Thử nghiệm lâm sàng lớn nhất (AVERT) cho thấy vận động liều cao, rất sớm (trung vị 18,5 giờ) làm giảm cơ hội đạt kết quả thuận lợi ở thời điểm 3 tháng trên thang mRS, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân đột quỵ nặng (điểm NIHSS cao), xuất huyết não hoặc có rối loạn ý thức.6 Do đó, khuyến cáo bắt đầu vận động theo phác đồ tăng tiến trong khung thời gian an toàn từ 24 đến 48 giờ sau khởi phát.

3. PHÒNG NGỪA VÀ QUẢN LÝ Y TẾ CÁC BỆNH ĐỒNG MẮC

3.1. Phòng ngừa Tổn thương Da và Co rút Cơ

COR LOE Khuyến cáo về Phòng ngừa Tổn thương Da và Co rút
Phòng ngừa Tổn thương Da
1 A Đối với bệnh nhân đột quỵ cấp, khuyến cáo đánh giá da định kỳ trong suốt thời gian nằm viện cấp tính và chăm sóc sau giai đoạn cấp bằng các công cụ đo lường có giá trị (ví dụ: Thang điểm Braden) để theo dõi và phòng ngừa loét tì đè.1–3
1 A Đối với bệnh nhân đột quỵ bị hạn chế vận động, cần giảm thiểu ma sát da bằng cách sử dụng băng bọt (foam dressings) và các trang thiết bị y tế bền như bề mặt nâng đỡ giảm áp lực, kiểm soát độ ẩm, duy trì dinh dưỡng và nước đầy đủ để giảm tỷ lệ tổn thương da.1–10
1 B-R Cần giáo dục và hướng dẫn cho người bệnh đột quỵ, người chăm sóc và nhân viên y tế về các biện pháp dự phòng tổn thương da cho người bệnh bị hạn chế vận động.11–14
Phòng ngừa Co rút Cơ Khớp
2a B-NR Ở bệnh nhân bị co cứng chi trên hoặc chi dưới sau đột quỵ, việc áp dụng các chương trình tập kéo giãn là hợp lý nhằm cải thiện các biến đổi thần kinh, cơ học và cấu trúc ở vùng cơ tổn thương, đồng thời ngăn ngừa co rút khớp.15,16
2b C-LD Ở bệnh nhân đột quỵ có liệt nửa người, việc đặt tư thế vai liệt ở vị trí xoay ngoài, kết hợp dạng vai không gây đau và duỗi khuỷu 2 lần mỗi ngày, mỗi lần 30 phút khi người bệnh ngồi hoặc nằm trên giường là hợp lý để giảm thiểu co rút khớp.17,18
2b B-NR Ở bệnh nhân đột quỵ có liệt nửa người ảnh hưởng đến chi dưới, có thể xem xét cho mang nẹp cổ chân khi nằm nghỉ trên giường để phòng ngừa biến dạng co rút gập lòng bàn chân.19
2b B-R Ở người bệnh đột quỵ bị co rút khớp khuỷu và khớp cổ tay mức độ nhẹ đến trung bình, có thể xem xét bó bột chỉnh hình nối tiếp (serial casting) hoặc mang nẹp tĩnh điều chỉnh được để giảm tình trạng co rút.20,21
2b C-LD Ở bệnh nhân có co rút cơ gấp khớp khuỷu mức độ nặng kèm đau, có thể xem xét phẫu thuật giải phóng cơ cánh tay, cơ cánh tay quay và cơ nhị đầu để giảm đau và cải thiện khả năng vận động.22

3.2. Phòng ngừa Thuyên tắc Huyết khối Tĩnh mạch (VTE)

COR LOE Khuyến cáo về Phòng ngừa Thuyên tắc Huyết khối Tĩnh mạch
1 B-R Đối với bệnh nhân đột quỵ cấp có hạn chế vận động từ trung bình đến nặng, khuyến cáo sử dụng thiết bị nén ép khí ngắt quãng (IPC) để giảm nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE).1–3
3: Có hại B-R Ở bệnh nhân đột quỵ, sử dụng tất áp lực đàn hồi (vớ y khoa) không có hiệu quả trong dự phòng VTE và có thể làm tăng nguy cơ tổn thương da.4,5
2b A Đối với bệnh nhân nhồi máu não cấp nằm viện bị hạn chế vận động, hiệu quả của việc dùng heparin tiêm dưới da liều dự phòng (heparin không phân đoạn [UFH] hoặc heparin trọng lượng phân tử thấp [LMWH]) trong việc giảm thuyên tắc phổi (PE), giảm tử vong hoặc giảm mức độ phụ thuộc chức năng vẫn chưa rõ ràng khi xét đến nguy cơ xuất huyết nội sọ và ngoài sọ.6,7
2b B-R Ở bệnh nhân nhồi máu não cấp nằm viện bị hạn chế vận động, lợi ích vượt trội của LMWH liều dự phòng so với UFH liều dự phòng trong việc giảm PE, tử vong hoặc giảm phụ thuộc chức năng là chưa chắc chắn khi xét đến nguy cơ chảy máu.8
2b B-R Ở bệnh nhân xuất huyết não cấp (ICH) nằm viện có hạn chế vận động, lợi ích của heparin tiêm dưới da liều dự phòng (UFH hoặc LMWH) trong việc giảm PE, tử vong hoặc phụ thuộc chức năng vẫn chưa rõ ràng.9,10

3.3. Điều trị Rối loạn Chức năng Bàng quang và Ruột

COR LOE Khuyến cáo về Rối loạn Chức năng Bàng quang và Ruột
Rối loạn Chức năng Bàng quang
1 B-NR Ở bệnh nhân đột quỵ, khuyến cáo đánh giá tiền sử các vấn đề tiết niệu trước khi mắc bệnh để xây dựng kế hoạch chăm sóc bàng quang phù hợp.1,2
1 B-NR Ở bệnh nhân tiểu không tự chủ hoặc bí tiểu sau đột quỵ, khuyến cáo đánh giá lượng nước tiểu tồn dư qua siêu âm bàng quang hoặc đặt ống thông sau khi đi tiểu để lập kế hoạch chăm sóc.1,2
1 B-NR Đối với bệnh nhân đột quỵ chuyển vào cơ sở phục hồi chức năng sau giai đoạn cấp có lưu ống thông tiểu, khuyến cáo rút ống thông trong vòng 24 giờ sau nhập viện để giảm nguy cơ nhiễm trùng tiết niệu và cải thiện kết quả tiểu tiện.3,4
2a B-NR Ở người bệnh đột quỵ, việc đánh giá khả năng nhận thức về nhu cầu cần đi tiểu hoặc nhận biết việc vừa đi tiểu là hợp lý để xây dựng kế hoạch can thiệp.1,2
2b B-R Ở bệnh nhân tiểu không tự chủ sau đột quỵ, việc nhắc nhở đi tiểu theo giờ quy định (timed prompted voiding) có thể hợp lý để giảm các đợt són tiểu.1,2,5–7
2b B-R Ở người bệnh đột quỵ mạn tính bị són tiểu, tập luyện cơ sàn chậu (PFMT) có thể hợp lý nhằm giảm tình trạng tiểu không tự chủ.1,5,7–12
2b B-R Ở bệnh nhân đột quỵ bị tiểu không tự chủ, có thể xem xét áp dụng kích thích điện không xâm lấn để cải thiện khả năng kiểm soát bàng quang.1,7,10,13,14
Rối loạn Chức năng Ruột
2b B-NR Ở người bệnh đột quỵ, việc đánh giá chức năng đại tiện trước khi mắc bệnh có thể hợp lý để thiết lập kế hoạch quản lý và chăm sóc đại tiện hiệu quả.15,16

3.4. Đánh giá, Phòng ngừa và Điều trị Đau Vai Liệt Nửa Người (HSP)

COR LOE Khuyến cáo về Đau Vai Liệt Nửa Người
1 B-NR Khuyến cáo tiến hành đánh giá lâm sàng vùng vai (xác định bán trật khớp vai, co cứng, hạn chế tầm vận động ROM, thay đổi cảm giác cục bộ) và đánh giá hội chứng bất chú ý không gian để định hướng kế hoạch phòng ngừa và điều trị đau vai.1–4
1 B-NR Khuyến cáo giáo dục cho người bệnh và người chăm sóc về cách chăm sóc vai liệt (tập ROM đúng cách, duy trì tư thế đúng), đặc biệt trước khi xuất viện hoặc chuyển tuyến, nhằm nâng cao sự tự tin và phòng ngừa chấn thương khớp vai.5,6
2a B-R Ở bệnh nhân bị bán trật khớp vai sau đột quỵ, việc sử dụng các dụng cụ định vị tư thế và đai treo nâng đỡ vai là hợp lý để ngăn ngừa tình trạng bán trật khớp tiến triển nặng hơn.7–10
2a B-R Ở người bệnh có co cứng cơ vùng vai sau đột quỵ, tiêm độc tố botulinum (BT) có thể hữu ích giúp giảm đau vai liệt nửa người (HSP).11–14
2a B-R Ở bệnh nhân mắc HSP có các dấu hiệu lâm sàng của đau thần kinh (thay đổi cảm giác vùng vai, tăng nhạy cảm đau do kích thích không đau [allodynia], tăng cảm giác đau [hyperpathia]), thử nghiệm các phương pháp điều biến thần kinh như kích thích thần kinh ngoại vi (PNS) là hợp lý để giảm đau.15–18
2a B-R Ở bệnh nhân mắc HSP, các can thiệp như tiêm corticosteroid, phong bế thần kinh trên vai (SSNB), liệu pháp laser cường độ cao (HILT), sóng xung kích ngoài cơ thể (ESWT), kích thích điện thần kinh cơ (NMES), dán băng dán Kinesio và châm cứu có thể hữu ích như những liệu pháp bổ trợ cho phục hồi chức năng tiêu chuẩn để giảm đau vai và cải thiện tầm vận động khớp chi trên.11,12,19–30
3: Có hại C-EO Ở người bệnh đột quỵ bị bán trật khớp ổ chảo - cánh tay, yếu cơ vai hoặc đau vai, không khuyến cáo sử dụng các bài tập kéo ròng rọc qua đầu để tăng tầm vận động hoặc giảm đau do nguy cơ gây chấn thương mô mềm.

3.5. Đau Trung ương sau Đột quỵ (Central Poststroke Pain - CPSP)

COR LOE Khuyến cáo về Đau Trung ương sau Đột quỵ
1 C-EO Ở người bệnh có đau sau đột quỵ, chẩn đoán đau trung ương sau đột quỵ (CPSP) cần dựa trên các tiêu chuẩn chẩn đoán chuẩn hóa nhằm nâng cao tính chính xác, tính nhất quán và hỗ trợ lập kế hoạch điều trị.
1 C-EO Ở bệnh nhân CPSP, khuyến cáo lựa chọn các phương pháp điều trị nội khoa được cá thể hóa theo nhu cầu, mức độ đáp ứng và tác dụng không mong muốn để nỗ lực giảm đau cho người bệnh.
2a C-LD Ở bệnh nhân CPSP, việc sử dụng các thang đo chuẩn (thang đo điểm số số học [NRS], thang đo tương tự thị giác [VAS] hoặc thang đo nét mặt [Faces Pain Scale]) là hợp lý để theo dõi mức độ đau và đáp ứng điều trị.1
2a B-R Ở bệnh nhân CPSP, duloxetine, lamotrigine hoặc amitriptyline là những lựa chọn hợp lý hàng đầu (first-line) để giảm đau.2–4
2a C-EO Ở bệnh nhân CPSP, quản lý đau đa chuyên khoa kết hợp với dùng thuốc là hợp lý để cải thiện mức độ đau và các kết quả tâm lý xã hội.5
2b B-NR Ở bệnh nhân CPSP, pregabalin hoặc gabapentin có thể được xem xét như các lựa chọn điều trị hàng thứ hai (second-line) để giảm đau.6,7

3.6. Phòng ngừa Té ngã (Prevention of Falls)

COR LOE Khuyến cáo về Phòng ngừa Té ngã
1 B-NR Đối với bệnh nhân đột quỵ, khuyến cáo triển khai chương trình phòng ngừa té ngã bài bản để giảm thiểu nguy cơ ngã.1
2a B-R Ở bệnh nhân đột quỵ, các bài tập thăng bằng có thể mang lại lợi ích rõ rệt trong việc giảm biến cố té ngã.2–5
2a B-NR Ở người bệnh đột quỵ, việc thực hiện đánh giá nguy cơ té ngã định kỳ hàng năm bằng công cụ đo lường có giá trị phù hợp với môi trường sống là hợp lý để xác định nhu cầu can thiệp.6,7
1 C-EO Khuyến cáo cung cấp thông tin và hướng dẫn chi tiết cho người bệnh và gia đình về việc cải tạo môi trường sống và điều chỉnh nhà ở nhằm giảm thiểu nguy cơ ngã.
2a B-R Ở người bệnh đột quỵ, tập luyện thái cực quyền (tai chi) là hợp lý để giảm nguy cơ té ngã.8,9
2a B-R Ở người bệnh đột quỵ, rèn luyện nhiệm vụ kép (kết hợp nhiệm vụ vận động và nhiệm vụ nhận thức) là hợp lý để giảm biến cố ngã.10,11
2b B-R Ở người bệnh đột quỵ, có thể xem xét sử dụng trò chơi vận động điện tử (exergaming/thực tế ảo) như một can thiệp hỗ trợ giảm nguy cơ ngã.12,13

3.7. Đánh giá và Điều trị Sức khỏe Tâm thần đối với Trầm cảm và Lo âu sau Đột quỵ

COR LOE Khuyến cáo về Đánh giá và Điều trị Sức khỏe Tâm thần
1 A Ở bệnh nhân đột quỵ, khuyến cáo sàng lọc sớm trầm cảm sau đột quỵ (PSD) bằng công cụ đã được xác thực (từ 3 ngày đến 3 tháng sau đột quỵ) nhằm phát hiện kịp thời những cá nhân cần đánh giá chuyên sâu và điều trị.1–3
1 B-NR Nên thực hiện sàng lọc định kỳ trầm cảm, lo âu và các triệu chứng tâm thần khác bằng các công cụ đo lường chuẩn hóa (ở mốc 3 tháng, 6 tháng và xuyên suốt vòng đời) để nâng cao tỷ lệ phát hiện và tiếp cận điều trị.2
1 C-LD Ở người bệnh bị suy giảm giao tiếp, nên sàng lọc trầm cảm, lo âu bằng các thang đo đã xác thực hoặc các chiến lược hỗ trợ giao tiếp chuyên biệt dành riêng cho nhóm đối tượng này.4
1 C-EO Đối với bệnh nhân có kết quả sàng lọc dương tính với trầm cảm, một đánh giá toàn diện cần được thực hiện bởi chuyên gia y tế có chuyên môn sâu về trầm cảm để cải thiện kết quả sức khỏe tâm thần, chức năng và chất lượng cuộc sống.
1 A Ở bệnh nhân đột quỵ mạn tính mắc rối loạn cảm xúc giả hành (PBA) gây đau khổ/phiền muộn, khuyến cáo sử dụng phối hợp dextromethorphan/quinidine để giảm tần suất các cơn khóc/cười không tự chủ.5,6
2a A Ở bệnh nhân mắc PSD, sử dụng thuốc chống trầm cảm mang lại lợi ích trong việc giảm bớt các triệu chứng trầm cảm.7–12
2a B-R Ở người bệnh lo âu sau đột quỵ (PSA), các thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (SSRI) có thể hữu ích để giảm các triệu chứng lo âu.10,12,13
2a B-R Ở bệnh nhân mắc PSD hoặc lo âu, liệu pháp nhận thức - hành vi (CBT) có thể mang lại lợi ích rõ rệt để giảm nhẹ triệu chứng.14–18
2a B-R Ở bệnh nhân PSD, giáo dục tâm lý về tác động của đột quỵ đối với sức khỏe tâm thần, các phương pháp tiếp cận theo cặp đôi/gia đình và hỗ trợ đồng đẳng là những thành phần can thiệp hữu ích để giảm trầm cảm.19–23
2a A Ở bệnh nhân mắc PSD, duy trì chương trình tập thể dục ít nhất 3 lần mỗi tuần có thể mang lại lợi ích giảm triệu chứng trầm cảm.24,25
2b B-R Ở người bệnh PSD, có thể xem xét sử dụng kích thích từ trường xuyên sọ lặp lại (rTMS) để hỗ trợ giảm triệu chứng trầm cảm.7,26,27
2b B-R Ở người bệnh PSD, có thể xem xét phối hợp giữa điều trị bằng thuốc và các can thiệp phi dược lý để tăng hiệu quả giảm trầm cảm.7,18
2b B-R Ở bệnh nhân có PSD hoặc lo âu, liệu pháp chấp nhận và cam kết (ACT) có thể được xem xét áp dụng để giảm bớt các triệu chứng.17,28–30
2b B-R Ở người bệnh PSD hoặc lo âu, có thể xem xét liệu pháp âm nhạc, châm cứu và các can thiệp dựa trên chánh niệm (mindfulness) để giảm triệu chứng.17,31–33
3: Không có lợi A Ở bệnh nhân đột quỵ, không khuyến cáo sử dụng thuốc chống trầm cảm dự phòng một cách thường quy để ngăn ngừa PSD.8–11,34–36
3: Có hại B-NR Ở người bệnh lo âu sau đột quỵ, việc sử dụng thường quy nhóm thuốc benzodiazepine tiềm ẩn nguy cơ gây hại do làm tăng nguy cơ suy giảm nhận thức, té ngã và tử vong.37,38

Bảng 3. Các Công cụ Đánh giá Lo âu và Trầm cảm đã được Xác thực cho Người bệnh Đột quỵ

Công cụ Mô tả Điểm Cắt (Cutoff) Ghi chú Lâm sàng
BDI-II82,83 21 câu tự báo cáo.
Có sẵn phiên bản dành cho người đại diện trả lời.
Nhẹ: 11–16; Ranh giới: 17–20; Vừa: 21–30; Nặng: 31–40; Cực nặng: >40 Có thể không phù hợp với người bị suy giảm nhận thức hoặc suy giảm giao tiếp nếu không có điều chỉnh.
PHQ-2, PHQ-984–86 Thang tự báo cáo đo lường sự hiện diện/mức độ nghiêm trọng của triệu chứng trong 2 tuần qua.
PHQ-2: 2 triệu chứng cốt lõi (tâm trạng chán nản & mất hứng thú).
PHQ-9: 9 tiêu chí trầm cảm.
PHQ-2: ≥1 (Có/Không) hoặc ≥2-3 (trắc nghiệm)
PHQ-9: ≥10 (Nhẹ: 4–9; Vừa: 10–14; Vừa-Nặng: 15–19; Nặng: ≥20)
PHQ-9 có bao gồm câu hỏi tầm soát nguy cơ tự sát. Cần hiệu chỉnh khi áp dụng cho người suy giảm giao tiếp/nhận thức.
GDS87,88 15 hoặc 30 câu hỏi, dạng trả lời "Có/Không". Không bao gồm các triệu chứng cơ thể (somatic). Bản 30 câu: >11
Bản 15 câu: >5
Hướng tới người cao tuổi; định dạng trả lời nhị phân rất hữu ích cho người suy giảm khả năng diễn đạt ngôn ngữ.
HDRS85,89 17 mục, do nhân viên y tế phỏng vấn và chấm điểm. Có thể thay thế phỏng vấn cấu trúc. Nhẹ: 8–16; Vừa: 17–23; Nặng: ≥24 Có câu hỏi tầm soát ý định tự sát. Đòi hỏi nhân viên y tế được tập huấn.
MADRS88,90 10 mục, phỏng vấn lâm sàng. Ít phụ thuộc vào các triệu chứng cơ thể/thể chất. Nhẹ: 7–19; Vừa: 20–34; Nặng: 35–60 Đánh giá được nguy cơ tự sát.
HADS91,92 14 câu tự báo cáo (7 câu trầm cảm HADS-D, 7 câu lo âu HADS-A) trong 1 tuần qua. HADS-Tổng: ≥8 hoặc 11
HADS-D: ≥4, 5 hoặc 7
HADS-A: ≥5
HADS-A là công cụ phổ biến nhất để đo lường lo âu sau đột quỵ (PSA).
BOA93 10 mục tự báo cáo và đánh giá của người chăm sóc về các hành vi lo âu quan sát được. ≥13/14 (Nhẹ: 7–13; Vừa: 14–17; Nặng: ≥18) Tiềm năng áp dụng rất tốt cho người bệnh không thể tự báo cáo cảm xúc do thất ngôn.
VAMS / D-VAMS94,95 Đánh giá trạng thái tâm trạng trên thang trực quan số hóa/thước trượt khuôn mặt biểu cảm. Dựa trên dữ liệu chuẩn hóa Được phát triển và xác thực chuyên biệt cho bệnh nhân đột quỵ có thất ngôn (aphasia).
SADQ96 10 mục hành vi quan sát được liên quan đến trầm cảm do điều dưỡng/người chăm sóc đánh giá. ≥15 Chuyên dụng cho bệnh nhân đột quỵ có thất ngôn điều trị nội trú.

3.8. Loãng xương sau Đột quỵ (Poststroke Osteoporosis)

COR LOE Khuyến cáo về Loãng xương sau Đột quỵ
2a B-NR Ở bệnh nhân nhồi máu não, việc đánh giá nguy cơ gãy xương bằng Thang điểm Đánh giá Nguy cơ Gãy xương sau Nhồi máu não (FRAC-Stroke) có thể hữu ích để dự báo nguy cơ gãy xương trong tương lai.1,2
2a B-NR Ở bệnh nhân đột quỵ, việc gia tăng hoạt động thể chất (tập aerobic, rèn luyện sức đề kháng và bài tập thăng bằng) có thể hữu ích để cải thiện mật độ khoáng của xương (BMD) và giảm thiểu nguy cơ gãy xương.3–5

3.9. Giấc ngủ và Mệt mỏi sau Đột quỵ (Sleep and Poststroke Fatigue)

COR LOE Khuyến cáo về Giấc ngủ và Mệt mỏi sau Đột quỵ
2a B-R Ở người bệnh đột quỵ, liệu pháp nhận thức - hành vi (CBT) có thể mang lại lợi ích trong việc cải thiện tình trạng mệt mỏi và nâng cao chất lượng giấc ngủ.1–4
2b C-LD Ở người bệnh bị mệt mỏi sau đột quỵ, liệu pháp ánh sáng (so với ánh sáng phòng thông thường) có thể được xem xét để hỗ trợ giảm cảm giác mệt mỏi.5–7
3: Không có lợi B-R Ở bệnh nhân đột quỵ, không khuyến cáo sử dụng fluoxetine để điều trị tình trạng mệt mỏi sau đột quỵ do thiếu hiệu quả lâm sàng.8–12

4. ĐÁNH GIÁ

4.1. Lượng giá Tình trạng Khuyết tật và Nhu cầu Phục hồi Chức năng

COR LOE Khuyến cáo về lượng giá Khuyết tật và Nhu cầu Phục hồi Chức năng
1 B-NR Ở người bệnh đột quỵ, khuyến cáo thực hiện đánh giá chính thức và toàn diện về cấu trúc và chức năng cơ thể, các hạn chế hoạt động và hạn chế tham gia, cùng các yếu tố cá nhân và môi trường để cung cấp thông tin cho việc lập kế hoạch điều trị, chuyển tiếp chăm sóc và kế hoạch xuất viện.1–19
1 B-NR Ở bệnh nhân đột quỵ, các công cụ đo lường có giá trị cần được áp dụng thường quy, bắt đầu ngay từ giai đoạn cấp tính và duy trì liên tục qua tất cả các giai đoạn hồi phục và phục hồi chức năng nhằm ghi nhận mức độ nặng và mức độ tàn tật.4,5,7,8,11,15–17,19
2a B-NR Ở bệnh nhân xuất viện từ cơ sở chăm sóc cấp tính và phục hồi chức năng sau giai đoạn cấp, việc theo dõi định kỳ liên tục và lặp lại, được điều chỉnh linh hoạt theo nhu cầu cá nhân, là hợp lý trong ít nhất năm đầu tiên sau đột quỵ để giám sát sự hồi phục chức năng, nhận diện các rào cản tham gia và tái đánh giá nhu cầu can thiệp.20–23
2b B-NR Ở bệnh nhân đột quỵ giai đoạn bán cấp, có thể xem xét áp dụng phương pháp trắc nghiệm thích ứng trên máy tính (CAT) bằng các bộ công cụ đánh giá đã xác thực để lượng giá chức năng vận động, kiểm soát tư thế và các sinh hoạt hàng ngày cơ bản, nhằm nâng cao hiệu suất làm việc lâm sàng.24,25

Tóm tắt Tổng quan

Đột quỵ gây ra một phổ khiếm khuyết phức tạp, bao gồm rối loạn tiểu tiện/đại tiện, thay đổi chức năng cảm giác - vận động, nhận thức, thị giác, tri giác, tâm lý xã hội và rối loạn giao tiếp, nuốt. Những khiếm khuyết này trực tiếp dẫn đến hạn chế hoạt động (ăn uống, tắm rửa, mặc quần áo, đi lại) và cản trở sự tham gia xã hội (làm việc, chuẩn bị bữa ăn gia đình). Việc đánh giá chính thức dựa trên Bộ tiêu chuẩn Cốt lõi của ICF cho Đột quỵ (ICF Core Set for Stroke) cung cấp khung tham chiếu toàn diện để nhận diện các rào cản xuyên suốt tiến trình chăm sóc.13,18

Bên cạnh các thang đo toàn thể kinh điển như NIHSS, Thang điểm Barthel hay mRS, việc kết hợp các công cụ báo cáo từ chính người bệnh (patient-reported outcome measures) và các thang đo chức năng chuyên biệt (Fugl-Meyer, WHODAS 2.0) giúp nắm bắt chính xác mức độ tàn tật thực tế và nhu cầu phục hồi chức năng thực chất, từ đó định hướng hiệu quả cho quá trình chuyển tiếp chăm sóc và tái hòa nhập cộng đồng bền vững.

Văn bản Bổ trợ Cụ thể cho Khuyến cáo

  1. Bộ Tiêu chuẩn Cốt lõi ICF cho Đột quỵ (ICF Core Set for Stroke) cung cấp hướng dẫn đánh giá toàn diện các chiều kích của ICF nhằm nhận diện các vấn đề tiềm ẩn mà người bệnh có thể đối mặt trong suốt chuỗi chăm sóc liên tục.13,18 Các bằng chứng cho thấy nhiều hạng mục trong Bộ Tiêu chuẩn Cốt lõi ICF tương quan chặt chẽ với các thang đo tổng quát phổ biến (như thang điểm NIHSS, Chỉ số Barthel sửa đổi) và các thang đo chuyên biệt (như Thang Đánh giá Fugl-Meyer, Đánh giá Trạng thái Tâm thần Tối thiểu [MMSE], Chất lượng Cuộc sống Chuyên biệt cho Đột quỵ).18 Bộ công cụ này cũng phân định rõ nhu cầu giữa nhóm bệnh nhân đột quỵ \(\le 65\) tuổi và nhóm \(> 65\) tuổi, qua đó thúc đẩy mô hình chăm sóc lấy người bệnh làm trung tâm.13 Các thang đo ngắn gọn dựa trên ICF như WHODAS 2.0 (12 mục) và Bộ Tối thiểu Tổng quát của WHO (7 mục) cho thấy mối tương quan mạnh hoặc rất mạnh với các thang đo tổng quát truyền thống (NIHSS, mRS và Thang đo Độc lập Chức năng [FIM]) ở bệnh nhân đang phục hồi chức năng giai đoạn bán cấp.16 Một số nghiên cứu ghi nhận sự khác biệt giữa các thước đo khuyết tật truyền thống (như mRS) và cảm nhận sức khỏe chủ quan của bệnh nhân, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp các thang đo kết quả do bệnh nhân tự báo cáo (PROMs) để nắm bắt trọn vẹn mức độ khuyết tật và nhu cầu phục hồi chức năng.10,14 Các công cụ chuẩn hóa đã được kiểm định giá trị có thể được dùng song hành với ICF để lượng giá khiếm khuyết và hạn chế, định hướng kế hoạch điều trị, chuyển tiếp chăm sóc và xuất viện.1–8,11,15–17,19,27
  2. Việc áp dụng thường quy các công cụ lượng giá chuẩn hóa đóng vai trò thiết yếu để giám sát mức độ đột quỵ, các thay đổi chức năng và tình trạng khuyết tật xuyên suốt tiến trình hồi phục. Đánh giá sớm giúp xác lập đường nền lâm sàng, trong khi các đánh giá định kỳ lặp lại cho phép phát hiện sự tiến bộ, tình trạng chững lại hoặc suy thoái chức năng. Thang Tiên lượng Orpington, khi thực hiện trong vòng 72 giờ đầu kể từ khi khởi phát đột quỵ, đã nhận diện hiệu quả nhu cầu phục hồi chức năng sớm và dự đoán đích đến khi xuất viện từ đơn vị đột quỵ siêu cấp.19 Tương tự, việc thực hiện Chỉ số Barthel sau giai đoạn đột quỵ cấp giúp dự báo nơi xuất viện (về nhà so với chuyển đến cơ sở phục hồi chức năng)15 cũng như mức độ phụ thuộc ADL tại thời điểm 3 và 12 tháng, khẳng định tầm quan trọng của đánh giá chức năng sớm.5 Các nghiên cứu mới nhấn mạnh sự cần thiết phải lựa chọn công cụ phù hợp cho từng mục tiêu lâm sàng cụ thể. Wu và cộng sự nhận thấy Chỉ số Barthel sửa đổi đạt hiệu quả cao nhất trong việc đo lường khuyết tật hoạt động thể chất, trong khi mRS dự báo tốt hơn mức độ nghiêm trọng ngắn hạn của đột quỵ.17 Thang điểm Đột quỵ Hà Lan (Dutch Stroke Score) thể hiện hiệu năng thỏa đáng trong dự đoán mức độ khuyết tật khi xuất viện và kết cục sau 3 tháng, hỗ trợ đắc lực cho việc lập kế hoạch xuất viện.4 Trong chăm sóc hậu cấp tính, điểm Mục GG (tự chăm sóc và khả năng di chuyển) khi nhập viện của Công cụ Đánh giá Bệnh nhân IRF đã được chứng minh có khả năng dự báo đáng kể đích đến khi xuất viện.7,11 Các công cụ đa chiều như WHODAS 2.0 và Bộ Tối thiểu Tổng quát của WHO giúp cải thiện việc theo dõi khuyết tật và thiết lập mục tiêu lấy người bệnh làm trung tâm;10 trong đó điểm WHODAS thấp hơn có liên quan đến khả năng quay trở lại làm việc cao hơn.8
  3. Hồi phục sau đột quỵ là một tiến trình động với các nhu cầu phục hồi thay đổi theo thời gian và môi trường. Các đánh giá có cấu trúc, lặp lại định kỳ là hết sức cần thiết để phát hiện thay đổi chức năng và giải quyết những nhu cầu phục hồi chưa được đáp ứng.20–23 Một nghiên cứu chỉ ra rằng cứ 6 người bệnh đột quỵ độc lập trong ADL ở thời điểm 3 tháng thì có 1 người trở nên phụ thuộc vào thời điểm 12 tháng, đặc biệt là người cao tuổi và phụ nữ có bệnh mắc kèm, dẫn đến tăng tỷ lệ phải vào viện dưỡng lão.22 Dữ liệu từ sổ bộ đăng ký đột quỵ quốc gia trên hơn 37.000 bệnh nhân cho thấy 21,5% báo cáo có nhu cầu phục hồi chức năng chưa được đáp ứng tại thời điểm 12 tháng;23 nhóm đối tượng này thường cao tuổi hơn, phụ thuộc ADL, sống tại các trung tâm chăm sóc và gặp phải tình trạng trầm cảm sau đột quỵ hoặc đau mạn tính. Các yếu tố dự báo nhu cầu chưa được đáp ứng gồm có đột quỵ nặng, tiền sử đột quỵ, đái tháo đường, rung nhĩ và giới tính nữ.21 Một nghiên cứu khác ghi nhận các nhu cầu tồn đọng kéo dài ở những người trẻ sống sót sau đột quỵ mạn tính, với nhiều khó khăn dai dẳng về khiếm khuyết, tài chính và tham gia xã hội.21 Thêm vào đó, một thử nghiệm lâm sàng cho thấy ở thời điểm 3 tháng, 20,2% bệnh nhân nhóm chứng vẫn bị khó nuốt dai dẳng, so với chỉ 9,5% ở nhóm can thiệp được đánh giá nuốt chuẩn hóa và chuyển gửi trị liệu kịp thời, chứng minh tầm quan trọng của việc duy trì đánh giá có cấu trúc sau xuất viện.20
  4. Giảm thiểu gánh nặng đánh giá cho cả người bệnh lẫn nhân viên y tế là một ưu tiên quan trọng. CAT là phương pháp đánh giá đạt được độ giá trị, độ tin cậy và tính hiệu quả bằng cách chỉ chọn lọc các câu hỏi/hạng mục mang lại nhiều thông tin nhất tương ứng với năng lực chức năng của từng cá nhân.24,25 Công cụ CAT–Đánh giá Chức năng Đột quỵ (CAT-FAS) được phát triển nhằm tối ưu hóa hiệu quả thực hiện thang đo FAS. Thang đo FAS gốc gồm 29 mục trích từ Thang Fugl-Meyer chi trên/chi dưới, Thang Đánh giá Tư thế cho Bệnh nhân Đột quỵ (PASS) và Chỉ số Barthel, cho phép lượng giá toàn diện kiểm soát vận động chi trên, chi dưới, kiểm soát tư thế và ADL cơ bản chỉ với một công cụ duy nhất.24,25 Ngân hàng câu hỏi của CAT-FAS gồm 58 mục đo lường đồng thời 4 lĩnh vực của FAS. Quá trình kiểm tra sẽ dừng lại khi mức tăng độ tin cậy Rasch của đối tượng sau một mục bổ sung nhỏ hơn 0,010, do độ chính xác tại thời điểm này không còn tăng thêm đáng kể. Các bằng chứng xác nhận CAT-FAS đạt hiệu quả cao, độ tin cậy Rasch tốt, độ giá trị đồng quy, độ nhạy đáp ứng và độ tin cậy kiểm tra - kiểm tra lại thỏa đáng ở bệnh nhân đột quỵ giai đoạn bán cấp.24,25

Khoảng trống nghiên cứu và Hướng Nghiên cứu Tương lai

  • Tiến trình hồi phục sau đột quỵ có sự khác biệt rất lớn giữa các cá nhân, tuy nhiên hiện vẫn chưa xác lập được thời điểm kết thúc chính thức cho quá trình phục hồi chức năng. Nhiều người bệnh tiếp tục tiến bộ hoặc nảy sinh các nhu cầu mới sau nhiều tháng hoặc nhiều năm, gây khó khăn cho việc xác định khi nào nên kết thúc đánh giá chính quy. Cần có các nghiên cứu nhằm định nghĩa thời điểm dừng phục hồi chức năng, cách nhận diện tiến triển liên tục và phương thức cấu trúc hệ thống chăm sóc để hỗ trợ phục hồi và tái thích ứng suốt đời.
  • Mối quan hệ giữa các thang đo kết quả do bệnh nhân tự báo cáo (PROMs) và các thang đo khuyết tật chuẩn hóa truyền thống đòi hỏi phải được nghiên cứu sâu hơn để xác định cách phối hợp tối ưu trong việc lập kế hoạch điều trị, chuyển giao chăm sóc và kế hoạch xuất viện.28 Mặc dù CAT là công cụ đầy triển vọng giúp tinh gọn đánh giá vận động, tư thế và ADL, các nghiên cứu hiện mới chỉ giới hạn ở giai đoạn bán cấp; cần mở rộng nghiên cứu trên toàn bộ chuỗi chăm sóc liên tục.

4.2. Lượng giá Khiếm khuyết Vận động, Hoạt động và Khả năng Di chuyển

Các Khuyến cáo về Lượng giá Khiếm khuyết Vận động, Hoạt động và Khả năng Di chuyển
Các nghiên cứu tham chiếu hỗ trợ cho các khuyến cáo được tóm tắt trong tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Khuyến cáo
1 B-NR 1. Ở người bệnh đột quỵ, khuyến cáo sử dụng lực kế cầm tay hoặc lực kế đẳng động để định lượng tình trạng yếu cơ chi trên và chi dưới, cung cấp thông tin cho kế hoạch điều trị và theo dõi tiến triển, phục hồi hoặc cải thiện chức năng.1–6
1 B-NR 2. Đối với người bệnh đột quỵ, cần thực hiện đánh giá chuẩn hóa các khiếm khuyết vận động chi trên và chi dưới nhằm định hướng kế hoạch điều trị và ghi nhận tiến triển cùng các cải thiện chức năng.5,7–12
1 B-NR 3. Ở bệnh nhân đột quỵ còn khả năng đi lại, cần tiến hành đánh giá khả năng di chuyển bằng các công cụ đo lường đã được chuẩn hóa để xây dựng kế hoạch điều trị và giám sát tiến trình cải thiện chức năng.5,10–18
1 B-NR 4. Đối với người bệnh đột quỵ, nên sử dụng các công cụ đo lường có giá trị để đánh giá chức năng chi trên nhằm định hướng kế hoạch điều trị và theo dõi tiến bộ chức năng.5,9,10,12,19,20
2a B-NR 5. Ở bệnh nhân đột quỵ, việc sử dụng một công cụ đo lường chuẩn hóa để đánh giá trương lực cơ là hoàn toàn hợp lý.5,10,21,22
2a B-NR 6. Đối với người bệnh đột quỵ, các cảm biến hoặc công nghệ đeo (ví dụ: máy đo gia tốc, thiết bị đo quán tính, máy theo dõi số bước chân) có thể hữu ích trong việc đánh giá khách quan mức độ hoạt động và sự tham gia trong đời sống thực tế nhằm theo dõi quá trình hồi phục.23–28
2a B-NR 7. Ở người bệnh đột quỵ, việc áp dụng các thang đo kết quả do bệnh nhân tự báo cáo (PROMs) có thể mang lại lợi ích trong việc đánh giá nhận thức chủ quan của chính người bệnh về khiếm khuyết vận động, hạn chế hoạt động và mức độ tham gia, nhằm cung cấp dịch vụ chăm sóc lấy người bệnh làm trung tâm.29
2b B-NR 8. Đối với bệnh nhân đột quỵ, việc đánh giá thăng bằng bằng công cụ đo lường có giá trị có thể hữu ích trong việc xây dựng kế hoạch điều trị, ghi nhận đáp ứng với phục hồi chức năng và theo dõi tiến triển.5,10,11,17,18,30
2b B-NR 9. Ở người bệnh đột quỵ, việc ứng dụng kết quả từ các thuật toán đã được thiết lập đối với các dấu ấn sinh học hoặc dữ liệu lâm sàng có thể hữu ích để xây dựng kế hoạch điều trị thích hợp và cung cấp thông tin tiên lượng hồi phục cho người bệnh và người chăm sóc.31–35

Tóm tắt Tổng quan

Khiếm khuyết vận động thường là biểu hiện dễ nhận thấy nhất và rất phổ biến sau đột quỵ khi tổn thương ảnh hưởng đến hệ thống vỏ não - tủy sống (bao gồm các vùng vỏ não vận động và bó tháp).36 Mức độ tổn thương của hệ thống vỏ não - tủy sống có giá trị dự báo trực tiếp kết cục vận động và khả năng đáp ứng với điều trị.37–39 Việc đánh giá khiếm khuyết vận động giúp thầy thuốc hiểu rõ các cơ chế bệnh căn tiềm ẩn đằng sau những hạn chế hoạt động quan sát được trên lâm sàng. Ngược lại, việc lượng giá các hoạt động chức năng như vận động chi trên, thăng bằng và dáng đi giúp định lượng cụ thể hậu quả chức năng của các khiếm khuyết đó. Đánh giá chính xác sẽ mang lại thông tin tiên lượng quý giá40–44 và định hướng lựa chọn các can thiệp vận động phù hợp nhất cho từng cá nhân.45

Đánh giá khiếm khuyết vận động và mức độ hoạt động là yếu tố then chốt để cung cấp dịch vụ phục hồi chức năng chất lượng cao, dựa trên giá trị cho người bệnh đột quỵ. Kết quả đánh giá là cơ sở để xác định đối tượng hưởng lợi từ các dịch vụ tiếp theo, loại hình can thiệp cần thiết, môi trường điều trị phù hợp nhất, cách thức cá nhân hóa can thiệp và kiểm tra xem liệu các dịch vụ phục hồi chức năng có đạt được kết quả mong đợi hay không.46–48 Việc triển khai các công cụ lượng giá chuẩn hóa trong và giữa các cơ sở phục hồi chức năng giúp tăng cường sự trao đổi thông tin minh bạch giữa các nhân viên y tế, tối ưu hóa hiệu suất lập kế hoạch điều trị, thiết lập mục tiêu và đảm bảo tính liên tục của quá trình chăm sóc.49–51

Văn bản Bổ trợ Cụ thể cho Khuyến cáo

  1. Hậu quả của đột quỵ phụ thuộc vào vị trí tổn thương, nhưng một trong những di chứng phổ biến nhất là liệt nửa người và suy giảm sức mạnh cơ bắp kèm theo.52,53 Yếu cơ là khiếm khuyết nguyên phát cốt lõi dẫn đến hạn chế hoạt động, do đó việc phục hồi chức năng cơ luôn là ưu tiên hàng đầu. Đánh giá sức mạnh cơ một cách khách quan, chuẩn xác và đáng tin cậy giữ vai trò then chốt trong việc theo dõi tiến trình hồi phục và mức độ đáp ứng với can thiệp. Lực kế đẳng động (isokinetic dynamometry) được coi là tiêu chuẩn vàng để lượng giá sức cơ và là công cụ rất đáng tin cậy ở bệnh nhân sau đột quỵ.3 Tuy nhiên, thiết bị này không phải lúc nào cũng sẵn có tại mọi cơ sở lâm sàng và việc chuẩn bị cho bệnh nhân tốn nhiều thời gian. Lực kế cầm tay mang lại một giải pháp thay thế khách quan, đáng tin cậy với chi phí thấp hơn, thao tác chuẩn bị đơn giản hơn và chiếm ít không gian hơn.
  2. Khiếm khuyết vận động sau đột quỵ không chỉ đơn thuần do yếu cơ mà còn xuất phát từ việc mất khả năng vận động khớp một cách chọn lọc ngoài các mẫu đồng vận bệnh lý bắt buộc. Thang Đánh giá Vận động Fugl-Meyer (FMA) có thể bổ trợ cho việc đo sức cơ nhằm cung cấp bức tranh toàn diện hơn về khiếm khuyết vận động, phục vụ việc xây dựng kế hoạch điều trị nhắm trúng đích. Các đặc tính đo lường tâm lý học (psychometric properties) của thang điểm này đã được nghiên cứu sâu rộng và xác nhận đạt chuẩn, do đó FMA được coi là tiêu chuẩn vàng để đối chiếu các thang đo khiếm khuyết cấu trúc và chức năng cơ thể khác. Dù vậy, thời gian thực hiện kéo dài vẫn là rào cản khiến công cụ này chưa được áp dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng thường quy.
  3. Việc sử dụng các công cụ lượng giá chuẩn hóa được xem là thực hành chuẩn mực để xác định mức độ khiếm khuyết dáng đi, theo dõi đáp ứng điều trị và thiết lập mục tiêu lấy người bệnh làm trung tâm.54 Tốc độ đi bộ là một chỉ số kết cục quan trọng trong phục hồi chức năng đột quỵ vì nó quyết định khả năng đi lại ngoài cộng đồng,55 tương quan chặt chẽ với thăng bằng,56 chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe57 và là yếu tố dự báo khả năng sống còn.58 Bài kiểm tra Đi bộ 10 Mét (10MWT) là một thước đo đáng tin cậy và có giá trị cao để đánh giá năng lực đi bộ. Bài kiểm tra Đi bộ 6 Phút (6MWT) giúp định lượng sức bền khi đi lại, bổ sung cho thông số tốc độ. Thang đo Timed Up and Go (TUG) cung cấp đánh giá toàn diện hơn về các kỹ năng vận động cơ bản theo thời gian gồm đứng dậy, bước đi, quay đầu và ngồi xuống. Cả 6MWT và TUG đều là những công cụ có độ tin cậy và giá trị cao ở người bệnh sau đột quỵ.
  4. Tương tự như các phép đo dáng đi, các công cụ đánh giá chuẩn hóa, khách quan cũng cần được áp dụng để lượng giá chức năng chi trên. Thang đo ARAT (Action Research Arm Test), Thang Đánh giá Chức năng Vận động Wolf (WMFT) và Thang đo Box and Blocks (BBT) đều là những công cụ đã được kiểm định giá trị ở bệnh nhân đột quỵ. Cả 3 thang đo này đều đòi hỏi các thao tác cầm nắm, vận chuyển và buông thả đồ vật. Trong đó, WMFT mang tính chức năng cao nhất vì sử dụng các tác vụ có giá trị sinh thái thực tế như tra chìa khóa vào ổ, nhặt bút chì, kẹp giấy, lon nước ngọt và xếp chồng các quân cờ. Thang ARAT gồm 19 nhiệm vụ ít tính thực tế hơn WMFT nhưng vẫn phản ánh tốt chức năng qua việc thao tác với các khối gỗ, hình trụ và viên bi sắt. Thang BBT có tính chức năng thấp nhất khi chỉ yêu cầu nhặt từng khối gỗ chuyển qua vách ngăn rồi thả ra trong vòng 60 giây. Trong khi WMFT và ARAT có thể mất tới 15 phút thực hiện thì BBT bị giới hạn thời gian và tính điểm bằng tổng số khối gỗ chuyển thành công trong 1 phút.
  5. Tình trạng co cứng (spasticity) biểu hiện trên lâm sàng dưới dạng sức cản gia tăng đối với động tác kéo dãn thụ động. Sức cản này bắt nguồn từ cả hai thành phần: thần kinh và phi thần kinh.59 Thành phần thần kinh là sự gia tăng phản xạ kéo dãn trương lực phụ thuộc vào vận tốc, thường được gọi là co cứng. Các yếu tố phi thần kinh gồm những thay đổi cơ học trong cấu trúc collagen, gân và sợi cơ cũng góp phần làm tăng sức cản.60 Sự đóng góp đồng thời của cả hai yếu tố khiến việc lượng giá co cứng trở nên khó khăn. Các công cụ lâm sàng phổ biến nhất hiện nay là các thang đo thứ bậc đánh giá phản ứng với cử động thụ động (ví dụ: Thang điểm Ashworth Sửa đổi [MAS]). Những thang đo không dùng thiết bị này có thể thiếu tính khách quan do phụ thuộc vào cảm nhận chủ quan của người đánh giá.61 Các dữ liệu về độ giá trị và độ tin cậy của phần lớn các công cụ lâm sàng hiện vẫn chưa đủ mạnh để đưa ra quyết định lâm sàng tối ưu.
  6. Hệ thống phân tích chuyển động động học 3 chiều (3D) là tiêu chuẩn vàng để lượng giá dáng đi và vận động chi trên với độ tin cậy cao ở người bệnh đột quỵ. Tuy nhiên, hệ thống này rất đắt đỏ, đòi hỏi không gian lớn và một đội ngũ vận hành chuyên nghiệp. Ngược lại, các công nghệ đeo (wearable technologies) có chi phí thấp, triển khai thuận tiện, cho phép giám sát liên tục ngoài phòng khám tại gia đình và cộng đồng.62 Các thiết bị đeo giúp ghi nhận hiệu suất vận động và hoạt động thể chất trong môi trường sống tự do; dữ liệu này hỗ trợ phát hiện sớm sự suy giảm chức năng để chuyển gửi can thiệp kịp thời.63,64 Sự phát triển của các cảm biến chuyển động đeo hiện nay cho phép đo lường trực tiếp hiệu suất vận động hàng ngày, cung cấp các biến số thiết thực phù hợp với mục tiêu của người bệnh để hỗ trợ ra quyết định lâm sàng.65,66
  7. Trải nghiệm chủ quan và cảm xúc của người bệnh đột quỵ đối với việc tham gia các hoạt động hàng ngày và vai trò xã hội phức tạp hơn rất nhiều so với những gì có thể đo lường qua các đánh giá lâm sàng khách quan. Các thang đo PROMs mang lại góc nhìn sâu sắc về nhận thức của người bệnh trong các hoạt động sống. Xét đến các phương diện tham gia (như mức độ hài lòng, tần suất và ý nghĩa của hoạt động) vốn mang tính cá nhân hóa sâu sắc và gắn liền với giá trị văn hóa của từng người, công cụ lượng giá được lựa chọn bắt buộc phải dựa trên sự tự báo cáo của người bệnh nhằm đảm bảo phản ánh chân thực trải nghiệm sống thực tế.68
  8. Suy giảm thăng bằng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật sau đột quỵ, làm tăng nguy cơ ngã, hạn chế các ADL cơ bản và giảm sút mức độ hòa nhập xã hội.69 Lượng giá khiếm khuyết thăng bằng bằng các công cụ chuẩn hóa giúp nhận diện các cá nhân có nguy cơ ngã cao và đánh giá kết quả của các can thiệp phục hồi chức năng. Việc lựa chọn công cụ cụ thể sẽ tùy thuộc vào mức độ chức năng của người bệnh. Thang điểm Thăng bằng Berg (BBS) gồm 14 mục là công cụ được nghiên cứu sâu rộng nhất về các thuộc tính tâm lý học ở bệnh nhân sau đột quỵ; thang đo này chủ yếu đánh giá thăng bằng trong phạm vi chân đế nâng đỡ. Trong khi đó, Thang Đánh giá Dáng đi Chức năng (FGA) gồm 10 mục giúp lượng giá độ ổn định tư thế trong khi đi bộ kết hợp thực hiện nhiều tác vụ vận động khác nhau. Thang đo Timed Up and Go đánh giá khả năng đứng dậy từ ghế, bước đi, quay người và ngồi trở lại.70 Thước đo đơn giản nhất là Bài kiểm tra Vươn chức năng (FRT), đo khoảng cách tối đa người bệnh có thể vươn tay về phía trước khi đứng cố định mà không bước chân.71 Tất cả các công cụ này đều đạt độ tin cậy và giá trị thỏa đáng ở người bệnh đột quỵ.
  9. Khả năng phục hồi chức năng vận động sau đột quỵ rất khó dự đoán chính xác cho từng cá nhân.72 Những bệnh nhân có mức độ khiếm khuyết ban đầu tương đồng có thể đạt được các mức độ chức năng vận động và độc lập rất khác nhau sau điều trị.73 Hiện đã có các thuật toán giúp định hướng cho lâm sàng trong việc tiên lượng khả năng hồi phục chi trên, hỗ trợ xây dựng kế hoạch điều trị tinh gọn và thiết lập mục tiêu phục hồi thực tế.
Bảng 4. Các Thang đo Phổ biến về Khiếm khuyết, Hoạt động và Khả năng Di chuyển
Khái niệm / Thang đo Mô tả & Nhận xét Thời gian thực hiện ước tính (phút)
Khiếm khuyết (Impairment)
Liệt / Sức mạnh cơ1–6
Sức mạnh cơ Đánh giá qua lực kế cầm tay hoặc lực kế đẳng động. < 5
Lực bóp tay, lực kẹp ngón Lực kế bóp tay và kẹp ngón có sẵn ở hầu hết các phòng khám và bệnh viện phục hồi chức năng; có dữ liệu chuẩn đối chiếu theo quần thể. < 5
Trương lực cơ1,4,5
MAS (Thang Ashworth Sửa đổi) Định lượng tình trạng co cứng trên thang điểm đo sức cản với cử động thụ động từ 0 đến 4, điểm càng cao mức độ càng nặng; có thể đánh giá trên toàn bộ các khớp hoặc một vài khớp chỉ định. 10
Thang đo khiếm khuyết cảm giác - vận động1–5,7–9
Fugl-Meyer (FMA) Định lượng khiếm khuyết cảm giác - vận động của chi trên (0–66 điểm) và chi dưới (0–34 điểm) trên các phân thang riêng biệt; các mục được chấm điểm dựa trên khả năng tách rời khỏi các mẫu đồng vận bất thường. Chi trên: 20
Chi dưới: 10
Hoạt động (Activity)
Chức năng Chi trên (UE)1,4,5,8–12,67
Action Research Arm Test (ARAT) Bộ tiêu chuẩn gồm 19 mục; thang điểm từ 0–57 (bình thường = 57 điểm); cho phép quan sát nhiều kiểu cầm, nắm và kẹp ngón tay. 15
Box and Block Test (BBT) Điểm số là số lượng khối gỗ di chuyển qua vách ngăn trong vòng 1 phút; điểm cao hơn phản ánh hiệu suất tốt hơn; có dữ liệu chuẩn theo quần thể để so sánh. < 5
Wolf Motor Function Test (WMFT) Chấm điểm dựa trên thời gian và tiêu chí chất lượng cho 15 mục; bao gồm một số cử động khớp đơn độc và các tác vụ chức năng thực tế. 20
Thăng bằng (Balance)13–18
Thang Thăng bằng Berg (BBS) Đánh giá thăng bằng tĩnh và động dựa trên tiêu chí chuẩn; được áp dụng rộng rãi trong nhiều môi trường lâm sàng. 15
Functional Reach Test (FRT) Bài kiểm tra đơn mục đo khoảng cách vươn tối đa về phía trước ở tư thế đứng; có dữ liệu chuẩn theo quần thể. < 5
Functional Gait Assessment (FGA) Bộ 10 nhiệm vụ đánh giá độ ổn định tư thế trong khi đi bộ, mỗi nhiệm vụ được chấm trên thang từ 0–3 điểm. 15
Khả năng Di chuyển (Mobility)14–16,19
Tốc độ đi bộ (10MWT) Ngắn gọn và phổ biến rộng rãi; phân loại mức độ đi lại dựa trên tốc độ:
• < 0,4 m/s: Đi lại trong nhà (household ambulation)
• 0,4–0,8 m/s: Đi lại cộng đồng có giới hạn
• > 0,8 m/s: Đi lại cộng đồng độc lập; có dữ liệu chuẩn đối chiếu.
< 5
Timed Up and Go (TUG) Định lượng nhiều hơn việc chỉ đi thẳng, bao gồm chuyển tư thế ngồi/đứng và quay đầu; chấm điểm theo thời gian hoàn thành; có giá trị ngưỡng đối chiếu. < 5
Bài kiểm tra đi bộ 6 phút (6MWT) Định lượng sức bền khi đi bộ; có dữ liệu chuẩn đối chiếu theo khoảng cách đi lại ngoài cộng đồng. < 10
Ghi chú: LE: Chi dưới; MAS: Thang điểm Ashworth Sửa đổi; UE: Chi trên; 10MWT: Bài kiểm tra Đi bộ 10 Mét.

Khoảng trống nghiên cứu và Hướng Nghiên cứu Tương lai

  • Hiện có rất nhiều công cụ lâm sàng (cả sử dụng thiết bị và không dùng thiết bị) để đánh giá tình trạng co cứng ở bệnh nhân sau đột quỵ; tuy nhiên, bằng chứng hỗ trợ cho độ giá trị và độ tin cậy của các thang đo này vẫn còn hạn chế. Hiện chưa đủ bằng chứng đo lường tâm lý học để ưu tiên khuyến nghị công cụ này vượt trội hơn công cụ khác.
  • Các thuật toán học máy và dự báo hiện mới chỉ áp dụng cho việc tiên lượng hồi phục chi trên mà chưa được phát triển đầy đủ cho chi dưới.
  • Thang đo Fugl-Meyer Rút gọn đã được phát triển như một giải pháp thay thế cho bản FMA đầy đủ ở cả chi trên và chi dưới, bước đầu xác lập được độ tin cậy, độ giá trị và độ nhạy thỏa đáng.74–76 Các nghiên cứu tương lai cần khảo sát thêm đánh giá của các nhà lâm sàng về tính hữu dụng thực tế của phiên bản rút gọn này.

4.3. Lượng giá Rối loạn Giao tiếp

Các Khuyến cáo về Lượng giá Rối loạn Giao tiếp
Các nghiên cứu tham chiếu hỗ trợ cho các khuyến cáo được tóm tắt trong tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Khuyến cáo
1 B-NR 1. Đối với người bệnh đột quỵ, quy trình sàng lọc và đánh giá giao tiếp cần bao gồm phát âm, thính lực, ngôn ngữ không lời và bằng lời (bao gồm ngôn ngữ thực dụng và nhận thức) do chuyên viên âm ngữ trị liệu (SLP) thực hiện nhằm xác định mục tiêu phục hồi, giáo dục người bệnh và theo dõi tiến triển.1
1 B-NR 2. Ở bệnh nhân đột quỵ, việc đánh giá giao tiếp cần kết hợp các công cụ đo lường có giá trị chính quy và phi chính quy, bao gồm các thang đo kết quả do bệnh nhân tự báo cáo (PROMs), công cụ đánh giá dựa trên hiệu suất thực hiện, công cụ do bác sĩ đánh giá và phỏng vấn lâm sàng tại thời điểm ban đầu cũng như khi tái đánh giá để xác định mục tiêu can thiệp cho dịch vụ âm ngữ trị liệu.1
1 B-NR 3. Đối với người bệnh được đánh giá rối loạn giao tiếp sau đột quỵ, việc xem xét các yếu tố cá nhân (bao gồm nền tảng văn hóa, tiền sử sử dụng ngôn ngữ trước đột quỵ, ngôn ngữ chiếm ưu thế và thói quen sử dụng ngôn ngữ) được khuyến cáo nhằm tối ưu hóa chẩn đoán, lập kế hoạch điều trị, đồng thời nâng cao sự kết nối xã hội và mối quan hệ trị liệu.2,3
2a B-NR 4. Ở những bệnh nhân có suy giảm khả năng giao tiếp sau đột quỵ, việc đưa các nhiệm vụ phân tích diễn ngôn hoặc ngôn ngữ liên kết vào quy trình đánh giá có thể mang lại lợi ích trong việc phát hiện các rối loạn sử dụng ngôn ngữ tinh vi trong lời nói, hội chứng mất khả năng thực dụng ngôn ngữ (apragmatism) và thất ngôn (aphasia), từ đó định hướng kế hoạch điều trị.4–7
2a B-NR 5. Đối với người bệnh đột quỵ được chỉ định đánh giá giao tiếp, việc ứng dụng phục hồi chức năng từ xa (telerehabilitation) là hợp lý khi không thể tiến hành đánh giá trực tiếp hoặc khi việc tiếp cận các dịch vụ âm ngữ trị liệu chuyên khoa gặp nhiều trở ngại trong thực tế.8,9

Tóm tắt Tổng quan

Rối loạn giao tiếp sau đột quỵ có thể gây ảnh hưởng tiêu cực nặng nề đến đời sống xã hội, nghề nghiệp và sự an lạc của cá nhân. Quy trình chẩn đoán đòi hỏi phải đánh giá chính quy, toàn diện về phát âm, thính lực cùng các năng lực ngôn ngữ không lời và bằng lời từ chuyên viên âm ngữ trị liệu (như chữ viết, cử chỉ, ngôn ngữ thực dụng...).5,6,10 Ngày càng có nhiều bằng chứng công nhận rằng các tương tác giao tiếp thực dụng, chức năng cấp cao đòi hỏi các mẫu ngôn ngữ vượt trên cấp độ từ và câu có độ nhạy rất cao trong việc phát hiện các rối loạn giao tiếp sau đột quỵ so với các thang đo truyền thống.2 Điều này đặc biệt đúng khi tiền sử ngôn ngữ, ngôn ngữ chiếm ưu thế và mô hình sử dụng ngôn ngữ trước đột quỵ được tích hợp vào đánh giá toàn diện, hoàn toàn phù hợp với khung ICF của WHO11 và hướng dẫn thực hành của ASHA.12 Các hướng dẫn gợi mở ngôn ngữ ở cấp độ diễn ngôn trong lâm sàng đã được đề xuất cho hội chứng apragmatism,13 và tác vụ mô tả tranh hiện đã được bổ sung vào thang điểm NIHSS.4 Cuối cùng, suy giảm nhận thức sau đột quỵ (ảnh hưởng đến tư duy, trí nhớ, sự tập trung và khả năng ra quyết định) thường song hành với thất ngôn và apragmatism, do đó bắt buộc phải được đánh giá đồng thời ở bệnh nhân có rối loạn giao tiếp.14

Văn bản Bổ trợ Cụ thể cho Khuyến cáo

  1. Đánh giá các rối loạn giao tiếp sau đột quỵ thuộc phạm vi thực hành chuẩn mực của chuyên ngành âm ngữ trị liệu (ASHA).15,16 Kết quả chẩn đoán mô tả năng lực phát âm, tạo lập ngôn ngữ, hiểu ngôn ngữ, ngữ điệu, thính lực, nhận thức, cũng như tác động của các biến đổi này lên kỹ năng giao tiếp chức năng, các rào cản hay yếu tố thúc đẩy động lực và tiềm năng áp dụng các hành vi bù trừ. Thực hành này hoàn toàn thống nhất với ICF của WHO, Ủy ban Kết nối Xã hội và các hướng dẫn đột quỵ quốc tế khác.17,18
  2. Tính phức tạp của các rối loạn giao tiếp sau đột quỵ đòi hỏi phải linh hoạt áp dụng nhiều hình thức lượng giá khác nhau (tĩnh, động hoặc kết hợp cả hai; các phương pháp chuẩn hóa và phi chuẩn hóa có giá trị sinh thái) theo quyết định chuyên môn của chuyên viên âm ngữ trị liệu. Cần xem xét thấu đáo năng lực nhận thức, thính lực, phát âm và ngôn ngữ của người bệnh. Hiện tại, các công cụ lượng giá chuẩn hóa có đối chiếu theo chuẩn hoặc theo tiêu chí về ngôn ngữ thực dụng vẫn còn khá hạn chế.15
  3. Yếu tố văn hóa có ảnh hưởng sâu sắc đến giao tiếp sau đột quỵ; sự khác biệt về phong cách giao tiếp có thể tác động trực tiếp đến quá trình tương tác chẩn đoán và các quyết định phục hồi chức năng. Trong một khảo sát, các chuyên viên âm ngữ trị liệu đánh giá việc cá nhân hóa quy trình đánh giá thích ứng với văn hóa ở mức từ tương đối quan trọng đến rất quan trọng (3,6/5,0).19 Do đó, cần có thêm nhiều nghiên cứu để phát triển các công cụ chẩn đoán nhạy cảm về mặt văn hóa cho các rối loạn giao tiếp.
  4. Việc đưa phân tích diễn ngôn vào quy trình đánh giá là một phương pháp tiếp cận có giá trị sinh thái ngày càng được coi trọng, nhờ các tiến bộ công nghệ giúp giảm nhẹ gánh nặng phiên âm và mã hóa dữ liệu.20 Các nhà nghiên cứu đã vạch ra các tác vụ trực tiếp và gián tiếp để đánh giá các lĩnh vực ngôn ngữ ngôn từ (hiểu và tạo lập ngôn ngữ) cũng như ngoài ngôn từ (cử chỉ, biểu cảm nét mặt). Các cơ sở dữ liệu TalkBank, AphasiaBank và RHDBank cung cấp các quy trình chuẩn hóa để gợi mở diễn ngôn và thu thập thông tin lâm sàng đặc thù cho từng quần thể.13,20,21
  5. Phục hồi chức năng từ xa mở ra cơ hội tiếp cận các dịch vụ chẩn đoán giao tiếp mà trước đây người bệnh khó tiếp cận. Tuy nhiên, hình thức này đòi hỏi phải cân nhắc kỹ lưỡng cấu phần đánh giá lâm sàng, nền tảng công nghệ sử dụng cũng như sự hiện diện của các rối loạn nhận thức, phát âm hay ngôn ngữ kèm theo. Mặc dù các thang đo giao tiếp chuẩn hóa đã sẵn có, phần lớn vẫn thiếu dữ liệu về độ tin cậy và giá trị đối với chứng thất ngôn khi triển khai qua nền tảng từ xa.22 Cần xây dựng các hướng dẫn phục hồi chức năng từ xa để hệ thống hóa và chuẩn hóa các quy trình chẩn đoán.

Khoảng trống nghiên cứu và Hướng Nghiên cứu Tương lai

  • Cần xây dựng các hướng dẫn cụ thể về chăm sóc sức khỏe từ xa có khả năng thích ứng và bù trừ cho các khiếm khuyết nhận thức và ngôn ngữ nhằm mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ.
  • Cần đẩy mạnh các nghiên cứu đánh giá rối loạn ngôn ngữ ngoài thất ngôn, đặc biệt là hội chứng mất thực dụng ngôn ngữ (apragmatism) thường gặp sau đột quỵ bán cầu phải.
  • Cần tiến hành thêm các nghiên cứu nhằm xác lập phương pháp đánh giá thính lực chuẩn xác, đáng tin cậy sau đột quỵ và làm rõ vai trò cụ thể của khiếm thính mắc phải đối với việc lượng giá giao tiếp.

4.4. Lượng giá Nhận thức và Tri giác

Các Khuyến cáo về Lượng giá Nhận thức và Tri giác
Các nghiên cứu tham chiếu hỗ trợ cho các khuyến cáo được tóm tắt trong tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Khuyến cáo
1 B-NR 1. Đối với người bệnh đột quỵ, khuyến cáo sử dụng các công cụ đo lường ngắn gọn dựa trên hiệu suất đa lĩnh vực có độ chính xác chẩn đoán tốt để sàng lọc các khiếm khuyết về nhận thức tổng thể, chức năng điều hành và tri giác.1–13
1 B-NR 2. Ở những bệnh nhân đột quỵ nghi ngờ có suy giảm nhận thức hoặc tri giác, khuyến cáo thực hiện đánh giá toàn diện bằng các công cụ đo lường dựa trên hiệu suất đã được kiểm định giá trị kết hợp với các hoạt động trong đời sống thực tế để định hướng lập kế hoạch điều trị.3,4,6,8,14–17
2a C-LD 3. Đối với bệnh nhân đột quỵ, việc sử dụng công cụ đo lường đã được điều chỉnh thích ứng với văn hóa và chuẩn hóa giá trị là hợp lý khi nhận diện người bệnh có nguy cơ suy giảm nhận thức hoặc tri giác.18
2b C-LD 4. Ở người bệnh đột quỵ có suy giảm nhận thức hoặc tri giác từ nhẹ đến trung bình, có thể cân nhắc thực hiện các công cụ sàng lọc tâm lý thần kinh ngắn gọn dựa trên hiệu suất đa lĩnh vực qua hình thức trực tiếp hoặc qua y tế từ xa (telehealth).19–23

Tóm tắt Tổng quan

Khoảng 50% bệnh nhân đột quỵ cấp có khiếm khuyết về nhận thức hoặc tri giác.24 Những khiếm khuyết này có thể mới xuất hiện sau đột quỵ, bắt nguồn từ các bệnh đồng mắc (như ngưng thở khi ngủ, mệt mỏi, tác dụng phụ của thuốc an thần) hoặc đã tồn tại từ trước đột quỵ.25–31 Dù mới hay cũ, chúng đều làm kéo dài thời gian phục hồi, làm trầm trọng thêm các khuyết tật thể chất và làm mất đi tính độc lập của người bệnh.32–34 Hơn nữa, suy giảm nhận thức cấp tính sau đột quỵ làm gia tăng đáng kể nguy cơ tiến triển thành sa sút trí tuệ.35–37 Những hậu quả này hoàn toàn có thể được phòng ngừa hoặc giảm nhẹ nếu được phát hiện sớm và can thiệp phục hồi chức năng tích cực.

Sàng lọc nhận thức và tri giác được khuyến cáo thực hiện ngay trong giai đoạn cấp. Độ chính xác chẩn đoán có thể chịu ảnh hưởng bởi yếu tố văn hóa và ngôn ngữ.18 Việc sàng lọc lặp lại định kỳ cũng được khuyến nghị để phát hiện và quản lý kịp thời sự suy giảm nhận thức trước nguy cơ cao mắc sa sút trí tuệ mạch máu. Một số công cụ sàng lọc ngắn gọn dựa trên hiệu suất đa lĩnh vực như Thang Đánh giá Nhận thức Montreal (MoCA) hoặc Bộ Sàng lọc Nhận thức Oxford (OCS) đạt độ chính xác chẩn đoán tốt và có thể thực hiện trực tiếp hoặc qua điện thoại/video.1,3,20–22 Tuy nhiên, các công cụ này có thể bỏ sót khiếm khuyết chức năng điều hành hoặc tri giác, do đó cần kết hợp sàng lọc chuyên biệt cho các lĩnh vực này.5,6,8,9 Sau sàng lọc, người bệnh cần được đánh giá toàn diện bởi nhân sự được đào tạo bài bản.3,4,6,8,14,15,16

Bảng 5. Các Thang đo Sàng lọc dùng trong Đánh giá Nhận thức và Tri giác
Thang đo Mô tả Các lĩnh vực đánh giá Cách chấm điểm & Hiệu năng trên bệnh nhân đột quỵ
MMSE43 Công cụ ngắn gọn (10 phút) được phát triển để sàng lọc suy giảm nhận thức liên quan đến sa sút trí tuệ. Định hướng thời gian và không gian, trí nhớ lời nói, chú ý và trí nhớ làm việc, ngôn ngữ, và sao chép hình ảnh thị giác không gian. Điểm số: Tổng 30 điểm; \(\le 22\) điểm gợi ý có khiếm khuyết. Đòi hỏi khả năng ngôn ngữ lời nói và sự khéo léo của bàn tay còn nguyên vẹn.44,45
Hiệu năng: Không đánh giá chức năng điều hành; không nhạy với các khiếm khuyết phổ biến sau đột quỵ như hội chứng bất chú ý không gian (spatial neglect), mất thực dụng (apraxia) và thất ngôn;9,46 có lo ngại về độ tin cậy và tính hữu dụng lâm sàng.44,45
MoCA47 Công cụ ngắn gọn (10 phút) phát hiện các dấu hiệu sớm của suy giảm nhận thức nhẹ. Định hướng thời gian và không gian, trí nhớ lời nói, chú ý và trí nhớ làm việc, thị giác không gian và chức năng điều hành, và ngôn ngữ. Điểm số: Tổng 30 điểm; \(\le 25\) điểm gợi ý có khiếm khuyết. Đòi hỏi khả năng lời nói, thị giác và khéo léo bàn tay còn nguyên vẹn.47
Hiệu năng: Có đánh giá chức năng điều hành; không nhạy với bất chú ý không gian, mất thực dụng và thất ngôn; so với MMSE, MoCA có độ chính xác chẩn đoán (độ nhạy và độ đặc hiệu) cao hơn khi đối chiếu với các bộ đánh giá độc lập.7
OCS48 Công cụ ngắn gọn (15 phút) thiết kế chuyên biệt để sàng lọc khiếm khuyết nhận thức đặc thù sau đột quỵ ở giai đoạn cấp - bán cấp (trong 2–3 tuần đầu), không bị cản trở bởi thất ngôn hay bất chú ý không gian. Định hướng thời gian và không gian, sàng lọc thị trường, trí nhớ lời nói và hình ảnh, chú ý và trí nhớ làm việc, viết số và tính toán, thị giác không gian và chức năng điều hành, thực hành động tác (praxis) và ngôn ngữ; bản OCS-Plus bổ sung thêm các mục chức năng điều hành.49 Điểm số: Không có điểm tổng hay điểm cắt cho toàn bộ thang; sử dụng các điểm cắt chuẩn hóa cho từng nhiệm vụ riêng biệt. Không đòi hỏi khả năng lời nói, thị giác hay độ khéo léo bàn tay phải hoàn toàn nguyên vẹn.
Hiệu năng: Đạt độ chính xác chẩn đoán cao nhất khi so sánh với MMSE và MoCA; có tính bao hàm cao hơn đối với người bệnh thất ngôn hoặc bất chú ý không gian khi so sánh với bộ đánh giá độc lập.3,50
Ghi chú: MMSE: Mini-Mental Status Examination; MoCA: Montreal Cognitive Assessment; OCS: Oxford Cognitive Screen.

Văn bản Bổ trợ Cụ thể cho Khuyến cáo

  1. Xét đến tỷ lệ hiện mắc cao và tác động tàn phế của suy giảm nhận thức và tri giác sau đột quỵ, việc sàng lọc được khuyến cáo mạnh mẽ.24,32–34 Năm tổng quan hệ thống, một phân tích gộp và hai nghiên cứu quan sát quy mô lớn gần đây đã kiểm chứng độ chính xác chẩn đoán của các công cụ sàng lọc ngắn gọn dựa trên hiệu suất đa lĩnh vực ở bệnh nhân đột quỵ.2,4,7,9,10,11,13 MMSE và MoCA là hai công cụ được nghiên cứu nhiều nhất, có độ chính xác tốt trong việc phát hiện suy giảm nhận thức nặng liên quan đến nguy cơ sa sút trí tuệ ở bệnh nhân mạn tính.10,11,13 Tuy nhiên, so với các thang đo khác, MoCA và OCS (được phát triển và chuẩn hóa trên bệnh nhân đột quỵ cấp) thể hiện độ chính xác chẩn đoán cao nhất ở cả giai đoạn cấp, bán cấp và mạn tính có suy giảm nhận thức từ nhẹ đến trung bình.1,3,2,3,5,7 OCS nhạy hơn MoCA trong việc phát hiện các khiếm khuyết nhận thức đặc thù của đột quỵ (như bất chú ý không gian, mất thực dụng, khả năng đọc/viết).3 Dù vậy, các công cụ sàng lọc đa lĩnh vực ngắn gọn chỉ tương quan ở mức vừa phải với các thang đo chức năng điều hành và phần lớn không đánh giá tri giác (ngoại trừ OCS).5,6,8,9 Do đó, quy trình sàng lọc nên kết hợp thêm các công cụ ngắn gọn đánh giá chức năng điều hành và tri giác.
  2. Các nghiên cứu quan sát chứng minh rằng hầu hết các công cụ đo lường nhận thức hoặc tri giác đều có đặc tính đo lường tâm lý học tốt khi đánh giá các lĩnh vực chuyên biệt nhưng thường chỉ tương quan ở mức vừa phải với các thang đo khác.3,4,6,8,17 Điều này bao gồm cả mối tương quan đồng quy giữa các bộ công cụ tâm lý thần kinh và các bài kiểm tra dựa trên hiệu suất đánh giá hoạt động chức năng tập trung vào nhận thức/tri giác (nhận thức chức năng).14,15 Hơn nữa, kết quả kiểm tra tâm lý thần kinh chỉ tương quan vừa phải với các báo cáo nhận thức chủ quan từ bệnh nhân sống tại cộng đồng.16
  3. Một tổng quan hệ thống từ 54 nghiên cứu quan sát về độ chính xác chẩn đoán và các điểm cắt điều chỉnh theo quần thể của các phiên bản thích ứng văn hóa của MoCA, OCS và MMSE cho thấy: ngay cả khi đã được dịch thuật và thích ứng văn hóa, độ chính xác chẩn đoán và điểm cắt tối ưu vẫn có sự khác biệt rất lớn giữa các nhóm dân số khác nhau.18 Điểm số chuẩn hóa theo tuổi, giới tính và học vấn có sự biến thiên đáng kể, đòi hỏi phải có thêm nhiều nghiên cứu chuẩn hóa trên từng quần thể văn hóa cụ thể.
  4. Một nghiên cứu quan sát cho thấy tính khả thi của việc áp dụng bộ công cụ sàng lọc nhận thức trên máy tính ngay trong tuần đầu sau đột quỵ, tuy nhiên độ chính xác chẩn đoán ở giai đoạn cấp tính cần được kiểm chứng thêm.19 Một nghiên cứu khác sử dụng thiết kế bắt chéo ngẫu nhiên ghi nhận việc thực hiện MoCA qua hội nghị truyền hình (videoconference) cho kết quả tổng điểm tương đương với đánh giá trực tiếp ở bệnh nhân bán cấp và mạn tính có suy giảm nhận thức nhẹ đến vừa.20 Phân tích mở rộng trên bộ trắc nghiệm tâm lý thần kinh toàn diện cũng ghi nhận kết quả tương đồng cho hầu hết các bài kiểm tra (ngoại trừ Bài kiểm tra Học tập Lời nói Hopkins - Bản sửa đổi cho kết quả kém hơn khi thực hiện qua video).21 Thang OCS thực hiện qua y tế từ xa (điện thoại hoặc video) đạt độ nhạy tốt và độ đặc hiệu xuất sắc so với đánh giá trực tiếp.23 Thang Phỏng vấn Tình trạng Nhận thức qua Điện thoại (TICS) và MoCA qua điện thoại có giá trị phân biệt tốt để nhận diện bệnh nhân đột quỵ mạn tính có nguy cơ suy giảm nhận thức nhẹ hoặc sa sút trí tuệ để chuyển gửi đánh giá chuyên sâu.22

Khoảng trống nghiên cứu và Hướng Nghiên cứu Tương lai

  • Cần có các nghiên cứu xây dựng chiến lược đo lường nhận thức và tri giác đáp ứng các Tiêu chuẩn Dựa trên Đồng thuận cho Việc Lựa chọn Công cụ Đo lường Sức khỏe (COSMIN). Các công cụ sàng lọc hiện đang bị lạm dụng để lập kế hoạch chăm sóc hoặc đo lường kết cục can thiệp, trong khi đặc tính đo lường tâm lý học cho từng mục đích này là hoàn toàn khác nhau.38
  • Cần nghiên cứu phát triển hoặc cải tiến các công cụ để phát hiện chuẩn xác các khiếm khuyết trong từng lĩnh vực cụ thể, đặc biệt là chức năng điều hành và tri giác, đồng thời kiểm định giá trị của các phiên bản thích ứng văn hóa.
  • Cần xác định các công cụ có khả năng phân tầng mức độ nghiêm trọng và có độ nhạy đáp ứng cao để làm thước đo kết cục điều trị, đặc biệt trên những bệnh nhân đột quỵ cấp có khiếm khuyết cảm giác, vận động hoặc ngôn ngữ cản trở quá trình kiểm tra.
  • Cần tiếp tục kiểm định giá trị của các phương thức đánh giá nhận thức và tri giác kỹ thuật số, qua video và qua điện thoại.
  • Cần nghiên cứu phân bổ nguồn lực hợp lý để đảm bảo việc đánh giá được thực hiện, chấm điểm và diễn giải bởi các nhân sự được đào tạo chính quy.39–42

4.5. Lượng giá Khiếm khuyết Cảm giác, bao gồm Xúc giác, Thị giác và Thính giác

Các Khuyến cáo về lượng giá Khiếm khuyết Cảm giác
Các nghiên cứu tham chiếu hỗ trợ cho các khuyến cáo được tóm tắt trong tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Khuyến cáo
1 B-NR 1. Đối với người bệnh đột quỵ, quy trình đánh giá toàn diện các khiếm khuyết cảm giác, bao gồm cảm giác thân thể (somatosensation), thị giác và thính lực, được khuyến cáo thực hiện nhằm nhận diện các tổn thương cảm giác và định hướng kế hoạch điều trị.1–5
1 B-NR 2. Ở bệnh nhân đột quỵ, quy trình sàng lọc thị giác dựa trên hiệu suất thực hiện được khuyến cáo áp dụng thay vì chỉ dựa vào lời tự báo cáo của bệnh nhân, nhằm phát hiện chuẩn xác người bệnh có khiếm khuyết thị giác và xây dựng kế hoạch can thiệp phù hợp.6–8

Tóm tắt Tổng quan

Bệnh nhân đột quỵ thường xuyên gặp phải các khiếm khuyết ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực cảm giác, bao gồm cảm giác thân thể, thị giác, thính giác, vị giác, khứu giác và chức năng tiền đình. Trong đó, chức năng cảm giác thân thể đóng vai trò quyết định đối với sự phục hồi vận động.9 Các khiếm khuyết cảm giác có mối liên hệ mật thiết với mức độ khuyết tật nặng hơn, suy giảm khả năng phục hồi vận động và giảm sút chất lượng cuộc sống.2,10 Phần lớn các bài đánh giá cảm giác hiện nay chỉ tập trung vào từng lĩnh vực riêng lẻ chứ không đánh giá được chức năng cảm giác tổng thể. Do đó, cần áp dụng một bộ công cụ đã được kiểm định giá trị, có độ nhạy và độ đặc hiệu cao để định hướng can thiệp. Xét đến tỷ lệ mắc khiếm khuyết thị giác rất cao sau đột quỵ, tất cả bệnh nhân cần được sàng lọc thị giác để đảm bảo chuyển gửi chuyên khoa và điều trị kịp thời.11,12 Đánh giá cảm giác thân thể toàn diện phải bao gồm cả cảm giác chuyển động và cảm giác vị trí khớp (cảm thụ bản thể).13 Đánh giá thính lực cần khảo sát cả chức năng thính giác ngoại biên lẫn xử lý thính giác trung ương.14 Khiếm khuyết cảm giác có thể xảy ra ở cả hai bên cơ thể dù thường nhẹ hơn ở bên cùng phía tổn thương; do đó việc so sánh đối chiếu giữa hai bên chi có thể dẫn đến đánh giá thấp mức độ tổn thương thực tế.14–16 Do nhiều người bệnh không nhận thức được khiếm khuyết của bản thân, các bài kiểm tra dựa trên hiệu suất thực hiện cần được kết hợp với tự báo cáo để đảm bảo độ chính xác.4,7,14,17–20

Văn bản Bổ trợ Cụ thể cho Khuyến cáo

  1. Một nghiên cứu dọc tiến cứu trên 101 bệnh nhân ghi nhận phần lớn người bệnh đột quỵ cấp gặp phải từ một khiếm khuyết cảm giác thân thể trở lên (như chạm nhẹ, cảm thụ bản thể, phân biệt nhiệt độ).2 Mặc dù tỷ lệ này có xu hướng giảm theo thời gian, nhiều cá nhân vẫn bị khiếm khuyết dai dẳng tại thời điểm 6 tháng và 1 năm sau đột quỵ.2,21 Hai nghiên cứu dịch tễ học tiến cứu lớn và một nghiên cứu chẩn đoán quan sát cho thấy tỷ lệ mới mắc và hiện mắc của các khiếm khuyết thị giác sau đột quỵ là rất cao, đặc biệt là các tổn thương thị giác trung ương, mất thị trường và rối loạn vận nhãn.4,11,17,22 Một nghiên cứu bệnh - chứng chỉ ra rằng suy giảm thính lực phổ biến hơn ở người bệnh đột quỵ so với nhóm chứng cùng độ tuổi, biểu hiện qua giảm thính lực ngoại biên, khiếm khuyết xử lý thính giác trung ương hoặc kết hợp cả hai.14 Thiết bị sàng lọc thính lực cầm tay đạt độ nhạy (92,59%) và độ đặc hiệu (100%) cao nhất trong việc phát hiện giảm thính lực ngoại biên so với bảng câu hỏi tự báo cáo. Khi kết hợp thiết bị cầm tay với Thang đo Amsterdam về Khiếm thính (Amsterdam Inventory Auditory for Disability), phương pháp này đạt độ nhạy 50% và độ đặc hiệu 88,89% trong phát hiện rối loạn xử lý thính giác trung ương.3
  2. Mặc dù khiếm khuyết thị giác rất phổ biến, nghiên cứu dịch tễ học của Rowe và cộng sự chỉ ra rằng khoảng 50% bệnh nhân đột quỵ cấp có khiếm khuyết thị giác không hề tự báo cáo triệu chứng.12 Một nghiên cứu tiến cứu đa trung tâm trên 141 người bệnh cũng khẳng định điều này, nhấn mạnh sự cần thiết phải đánh giá thị giác chủ động sớm bằng các công cụ đo lường khách quan thay vì chỉ phụ thuộc vào lời khai của bệnh nhân.11,22–24 Bằng chứng từ 3 nghiên cứu quan sát tiến cứu và 1 nghiên cứu dịch tễ học chứng minh tính khả thi của việc đánh giá thị giác ở bệnh nhân đột quỵ cấp, đồng thời cho thấy các nhân viên y tế không chuyên khoa mắt hoàn toàn có thể sử dụng hiệu quả các công cụ sàng lọc để phát hiện khiếm khuyết và chuyển gửi kịp thời đến bác sĩ chuyên khoa mắt.6,8,24 Tuy vậy, hiện vẫn còn thiếu sự đồng thuận về một bộ công cụ đánh giá tối ưu cho toàn bộ các rối loạn thị giác sau đột quỵ.7,25

Khoảng trống nghiên cứu và Hướng Nghiên cứu Tương lai

  • Cần nghiên cứu sâu hơn để xác lập các thuộc tính đo lường tâm lý học (độ tin cậy giữa những người đánh giá, độ tin cậy của cùng một người đánh giá, độ tin cậy kiểm tra - kiểm tra lại, tính nhất quán nội tại, độ giá trị nội dung, độ giá trị tiêu chí, độ nhạy đáp ứng) của các bài đánh giá cảm giác, đặc biệt là lĩnh vực cảm giác thân thể.1,13,26–28
  • Mặc dù rối loạn vị giác và khứu giác khá phổ biến sau đột quỵ và ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống, chúng ít khi được đánh giá thường quy do thiếu các công cụ chuẩn hóa. Cần nghiên cứu phát triển và chuẩn hóa các thang đo cho chức năng khứu giác và vị giác.19,29
  • Cần xây dựng một bộ công cụ đánh giá chuẩn hóa hoàn chỉnh để lượng giá toàn diện mọi khiếm khuyết cảm giác cho người bệnh sau đột quỵ.

5. KHIÊM KHUYẾT CẢM GIÁC - VẬN ĐỘNG VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG

5.1. Hoạt động Thể chất

Các Khuyến cáo về Hoạt động Thể chất
Các nghiên cứu tham chiếu hỗ trợ cho các khuyến cáo được tóm tắt trong tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Khuyến cáo
1 A 1. Đối với người bệnh đột quỵ, một chương trình tập luyện được thiết kế cá nhân hóa được chỉ định nhằm tối ưu hóa sức khỏe thể chất (bao gồm thể lực tim phổi và khả năng di chuyển) và giảm thiểu nguy cơ xảy ra các biến cố mạch máu tái phát trong tương lai.1–7
1 A 2. Ở người bệnh đột quỵ, việc tham gia vào một chương trình tập thể dục hoặc hoạt động thể chất bắt đầu ngay trong giai đoạn phục hồi chức năng và duy trì liên tục tại nhà hoặc cộng đồng được khuyến cáo nhằm tối ưu hóa sức khỏe nhận thức.8–15
1 A 3. Đối với người bệnh đột quỵ, các hướng dẫn tập luyện khuyến cáo thực hiện từ 150 đến 300 phút hoạt động thể chất cường độ trung bình mỗi tuần, với 3 đến 5 ngày/tuần tập luyện hiếu khí (aerobic) và 2 đến 3 ngày/tuần tập luyện sức mạnh kết hợp thăng bằng để đạt được các lợi ích sức khỏe.5
1 C-EO 4. Ở bệnh nhân đột quỵ, các thầy thuốc lâm sàng được khuyến cáo hợp tác chặt chẽ với người bệnh, đồng thời dựa trên các hướng dẫn tập luyện và sở thích cá nhân để xây dựng một chương trình hoạt động thể chất phù hợp và có tính khả thi.
2a B-R 5. Đối với người bệnh đột quỵ, các chương trình tập luyện kết hợp với các kỹ thuật thay đổi hành vi có thể mang lại lợi ích thiết thực trong việc gia tăng mức độ hoạt động thể chất hàng ngày.16–22
2a C-LD 6. Ở người bệnh đột quỵ, hoạt động thể chất có thể được đo lường bằng các công cụ, thiết bị và công nghệ đo lường có giá trị để định hướng việc lập kế hoạch hoạt động thể chất cùng với bệnh nhân và người chăm sóc.23

Tóm tắt Tổng quan

Sau đột quỵ, người bệnh thường dành phần lớn thời gian trong ngày ở trạng thái bất động, dù đang ở giai đoạn cấp, bán cấp hay mạn tính.24 Đột quỵ làm suy giảm thể lực tim phổi do tác động tiêu cực lên sinh lý cơ bắp, dòng máu ngoại vi và sự điều hòa thần kinh tự chủ đối với tim.25 Các di chứng như liệt nửa người và mất thăng bằng khiến việc đi lại độc lập trở nên khó khăn, làm giảm sự tự tin và gây tâm lý sợ ngã. Những ảnh hưởng thể chất và tâm lý này tạo nên một vòng xoắn bệnh lý luẩn quẩn: suy giảm thể lực \(\rightarrow\) bất động thể chất \(\rightarrow\) né tránh hoạt động \(\rightarrow\) sức khỏe tiếp tục suy thoái. Đột quỵ tái phát rất phổ biến, với tỷ lệ 1/10 người bệnh sẽ bị tái phát trong năm đầu tiên.26 Thiếu vận động thể chất là một yếu tố nguy cơ có thể can thiệp được; đây là một trong những nguy cơ hàng đầu dẫn đến đột quỵ tái phát, nhồi máu cơ tim hoặc tử vong do nguyên nhân mạch máu.7 Đội ngũ y tế đóng vai trò then chốt trong việc hỗ trợ người bệnh đưa hoạt động thể chất vào sinh hoạt thường nhật nhằm tối ưu hóa sự phục hồi và dự phòng thứ phát lâu dài.

Văn bản Bổ trợ Cụ thể cho Khuyến cáo

  1. Kiểm tra gắng sức tim mạch (gắng sức giới hạn theo triệu chứng hoặc dưới mức tối đa) cần là một phần của quy trình sàng lọc y khoa trước khi bắt đầu tập luyện.27,28 Các bài kiểm tra thực địa dưới mức tối đa (như 6MWT) có thể thay thế phù hợp nếu cường độ tập luyện ở mức thấp (< 50% dự trữ nhịp tim [HRR]).28 Nhiều phân tích gộp thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (RCT), bao gồm 1 tổng quan Cochrane, khẳng định việc tập luyện thường xuyên (đặc biệt là kết hợp aerobic và kháng lực) giúp cải thiện khả năng di chuyển, thể lực tim mạch và kiểm soát các yếu tố nguy cơ đột quỵ như huyết áp, lipid máu và đường huyết.1,3–6,29,30 Một nghiên cứu (n=70) ghi nhận giảm các biến cố mạch máu (tái phát đột quỵ, nhồi máu cơ tim) sau 24 tuần tập thể dục kết hợp giáo dục giảm muối.2 Phân tích nhóm chứng nghiên cứu SAMMPRIS (n=227) cho thấy bệnh nhân thiếu vận động có nguy cơ đột quỵ, nhồi máu cơ tim hoặc tử vong mạch máu cao gấp 5 lần so với nhóm vận động tích cực.7 Tập luyện aerobic được dung nạp tốt với rất ít biến cố bất lợi.29 Tuy nhiên, cần hết sức thận trọng trong vòng 24 giờ đầu sau đột quỵ cấp, vì một nghiên cứu lớn (n=2104) cho thấy việc đứng và đi lại liều cao quá sớm trong khung thời gian này làm gia tăng tỷ lệ tàn tật và tử vong.31
  2. Bệnh nhân đột quỵ có nguy cơ mắc sa sút trí tuệ cao hơn 80% so với người bình thường (cứ 5 người thì có 1 người bị sa sút trí tuệ).32 Các phân tích gộp gần đây chứng minh tập thể dục giúp cải thiện nhận thức.11,15 Trong giai đoạn bán cấp, 12 tuần tập aerobic và sức mạnh bắt đầu trong vòng 1 tháng sau cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua (TIA) hoặc đột quỵ nhẹ, kết hợp 3 buổi tư vấn trong 9 tháng tiếp theo, giúp cải thiện chức năng điều hành (n=119) và duy trì hiệu quả trong ít nhất 2 năm theo dõi.8 Đi bộ cường độ cao trong phục hồi chức năng nội trú giai đoạn bán cấp giúp cải thiện nhận thức tổng thể (MoCA; n=75) vượt trội so với vật lý trị liệu thông thường.14 Ở giai đoạn mạn tính, chương trình tập luyện thể lực và vận động 6 tháng giúp nâng cao nhận thức tổng thể so với nhóm đối chứng (n=120).13 Sáu tháng tập aerobic giúp cải thiện nhận thức ở bệnh nhân suy giảm nhận thức mạch máu (n=70).12 Chương trình tập ngắt quãng cường độ cao (HIIT) 8 tuần (n=70) cải thiện rõ rệt chức năng điều hành.9 Một nghiên cứu dọc 4 năm (n=223.426) khẳng định hoạt động thể chất từ trung bình đến mạnh là yếu tố độc lập liên quan đến giảm nguy cơ sa sút trí tuệ sau đột quỵ.33
  3. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo người trưởng thành sống chung với khuyết tật nên thực hiện ít nhất 150 đến 300 phút/tuần hoạt động thể chất hiếu khí cường độ trung bình; hoặc 75 đến 150 phút/tuần hoạt động hiếu khí cường độ mạnh. Các bài tập tăng cường sức mạnh liên quan đến tất cả các nhóm cơ chính nên thực hiện \(\ge 2\) ngày/tuần. Tập thăng bằng chức năng và sức mạnh nên thực hiện ít nhất 3 ngày/tuần để phòng ngã. Hướng dẫn của AHA/ASA khuyến nghị tập aerobic (3–5 ngày/tuần), sức mạnh cơ (2–3 ngày/tuần), thăng bằng/phối hợp (2–3 ngày/tuần) và độ linh hoạt/kéo dãn (2–3 ngày/tuần).5,34 Việc duy trì một mức độ hoạt động thể chất nhất định luôn mang lại lợi ích sức khỏe và tốt hơn nhiều so với việc hoàn toàn không vận động.35 Độ khó và cường độ tập cần được tăng dần để đảm bảo tính an toàn.
  4. Chỉ khuyên người bệnh vận động nhiều hơn là không đủ để tạo động lực duy trì lâu dài. Thầy thuốc cần hợp tác với người bệnh để xây dựng mục tiêu cá nhân hóa dựa trên hướng dẫn liều lượng.27,28,36 Cần nhận diện các rào cản và yếu tố thúc đẩy, tôn trọng sở thích cá nhân (loại hình hoạt động, địa điểm, hình thức tập nhóm/cá nhân, sự hỗ trợ từ người thân). Việc ứng dụng công nghệ như thiết bị theo dõi vận động và ứng dụng điện thoại hỗ trợ đắc lực cho việc thiết lập mục tiêu và tự quản lý hành vi.27,36
  5. Cần có các chiến lược can thiệp để phá vỡ chu trình giảm vận động sau đột quỵ. Nhiều phân tích gộp (với ít nhất 34 thử nghiệm RCT) cho thấy các can thiệp lồng ghép hoạt động thể chất vào thói quen hàng ngày đem lại lợi ích bền vững.18–20,22 Kết hợp tập luyện với các kỹ thuật thay đổi hành vi mang lại hiệu quả vượt trội. Brauer và cộng sự (n=119) nhận thấy 8 tuần tập đi trên thảm lăn kết hợp giáo dục tự quản lý ở giai đoạn bán cấp giúp tăng số bước chân hàng ngày (6.982 bước/ngày) so với nhóm chăm sóc thông thường (5.746 bước/ngày).17 Một nghiên cứu RCT 12 tuần (n=250) chứng minh số bước chân tăng lên ở các nhóm có phản hồi số bước và đặt mục tiêu. Ngoài ra, việc khuyến khích giảm thời gian ngồi tĩnh tại có thể còn mang lại hiệu quả cao hơn việc chỉ thúc đẩy hoạt động thể chất.16
  6. Định lượng mức độ hoạt động cung cấp cơ sở để cá nhân hóa can thiệp. Hoạt động thể chất tại bệnh viện thường gắn liền với trị liệu chính quy, nhưng khi về nhà, người bệnh cần tự xây dựng thói quen trong sinh hoạt thường nhật (free-living physical activity). Đồng thuận quốc tế khuyến nghị đo lường hoạt động thể chất sau đột quỵ qua các bảng câu hỏi kết hợp thiết bị đếm bước chân hàng ngày.23 Cả hai công cụ này đều phản ánh thời gian tham gia hoạt động thể chất cường độ trung bình đến mạnh — một chỉ số liên quan chặt chẽ đến các yếu tố nguy cơ tim mạch và tỷ lệ tử vong.36,37 Bảng câu hỏi Hoạt động Thể chất Quốc tế (IPAQ) và Thang đo Hoạt động Thể chất cho Người Cao tuổi (PASE) là hai công cụ được khuyến nghị với độ giá trị tốt.27,28,35 Các thiết bị đo gia tốc (như Fitbit, Step Activity Monitor) nên được đeo ở cổ chân để đạt độ chính xác cao nhất ở người đi chậm; dữ liệu nên được thu thập trong tối thiểu 2 ngày riêng biệt, mỗi ngày ít nhất 14 giờ ban ngày.23,38
Bảng 6. Hướng dẫn Tập luyện: Thành phần Hiếu khí (Aerobic)27,28,35
Số ngày thực hiện 3–5 ngày/tuần tập luyện hiếu khí (aerobic).
Cường độ Các hoạt động lặp lại liên quan đến các nhóm cơ lớn:
• 20–60 phút/buổi (mỗi đợt tối thiểu 10 phút).
• 150–300 phút/tuần hoạt động thể chất hiếu khí cường độ trung bình (40%–60% HRR), hoặc
• 75–150 phút/tuần hoạt động thể chất hiếu khí cường độ mạnh (>60%–80% HRR).
Ví dụ hoạt động Đạp xe đạp tựa lưng (recumbent bike), đi bộ nhanh trên mặt đất hoặc thảm lăn, máy tập tay (arm ergometry), các bài tập ngồi vận động tay chân kháng trọng lực.
Ghi chú: HRR: Dự trữ nhịp tim (Heart Rate Reserve).
Bảng 7. Hướng dẫn Tập luyện: Thành phần Sức mạnh và Thăng bằng27,35
Bên cạnh thành phần hiếu khí, khuyến nghị bổ sung các bài tập sức mạnh và thăng bằng vào chương trình tập luyện. Trong một số trường hợp, tập sức mạnh có thể kết hợp với tập aerobic (ví dụ: đứng lên - ngồi xuống lặp lại và bước lên bục bậc thang tập trung vào sức mạnh cơ chi dưới và có thể thực hiện ở cường độ aerobic, đóng góp vào 150–300 phút aerobic trung bình). Ngược lại, một số bài tập thăng bằng không làm tăng nhịp tim đủ mức hiếu khí thì không được tính vào thời gian này.
Tập Sức mạnh (2–3 ngày/tuần) Tập Thăng bằng (2–3 ngày/tuần)
Cường độ: Các bài tập kháng lực hoặc tăng cường sức mạnh chức năng cho các nhóm cơ lớn.
• 1–3 hiệp, mỗi hiệp 10–15 lần lặp lại ở mức 50%–80% của 1RM (1-repetition maximum).
Cường độ:
• Các hoạt động thử thách khả năng phối hợp và sự nhanh nhẹn.
• Các bài tập làm thu hẹp chân đế nâng đỡ.
Ví dụ hoạt động: Dây kháng lực (thun đàn hồi), tạ tự do, máy tập kháng lực, tăng cường sức mạnh chức năng (ngồi xổm đứng dậy, squat, lunge, kiễng gót nhón ngón chân). Ví dụ hoạt động: Các bài tập thu hẹp chân đế nâng đỡ (đi nối gót ngón chân, thái cực quyền, yoga), thể thao giải trí (pickleball, quần vợt), trò chơi vận động điện tử (exergaming).
Ghi chú: 1RM: Mức tạ tối đa nâng được 1 lần duy nhất (1-repetition maximum).

Khoảng trống nghiên cứu và Hướng Nghiên cứu Tương lai

  • Tồn tại nhiều rào cản đối với các quy trình sàng lọc gắng sức (chi phí cao, đòi hỏi trang thiết bị chuyên dụng thích ứng với khiếm khuyết đột quỵ, khó thực hiện định kỳ hàng năm cho đại đa số người bệnh). Việc thiết lập các quy trình sàng lọc gắng sức chuẩn xác, dễ tiếp cận từ giai đoạn cấp đến cộng đồng là hết sức cần thiết.
  • Cần nghiên cứu thêm về phương thức hỗ trợ duy trì hoạt động thể chất dài hạn một cách hiệu quả về mặt chi phí.
  • Đi bộ là hình thức vận động phổ biến nhất, tuy nhiên còn rất ít lựa chọn cho bệnh nhân đột quỵ nặng muốn tập luyện tại nhà hoặc cộng đồng. Các công nghệ như thiết bị robot có thể mang lại giải pháp tương lai cho những người chưa thể đi lại độc lập.

5.2. Mất Thực dụng Chi (Limb Apraxia)

Các Khuyến cáo về Mất Thực dụng Chi
Các nghiên cứu tham chiếu hỗ trợ cho các khuyến cáo được tóm tắt trong tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Khuyến cáo
2a B-R 1. Đối với người bệnh đột quỵ có hội chứng mất thực dụng chi, việc huấn luyện chiến lược hoặc huấn luyện cử chỉ có thể được cân nhắc để cải thiện khả năng vận động.1–5
2a C-LD 2. Ở những bệnh nhân mất thực dụng chi, việc luyện tập tác vụ có thể được cân nhắc nhằm làm giảm mức độ mất thực dụng.1,3,4,6,7

Tóm tắt Tổng quan

Mất thực dụng chi là tình trạng suy giảm khả năng thực hiện các cử động có mục đích, có kỹ năng mà không phải do khiếm khuyết cảm giác - vận động thuần túy hay do thiếu động lực.8 Khiếm khuyết nhận thức - vận động này dẫn đến khó khăn trong việc sử dụng đồ vật đúng công năng, bắt chước thao tác hoặc thực hiện các cử chỉ mang tính biểu tượng. Mất thực dụng chi phổ biến hơn sau đột quỵ bán cầu trái so với bán cầu phải.9 Sử dụng Bài kiểm tra Dụng cụ Quen thuộc thuộc Bộ công cụ Chẩn đoán Mất thực dụng Chi ghi nhận tỷ lệ này lên tới 15% ở bệnh nhân đột quỵ bán cầu trái và 3% ở bán cầu phải trong quần thể đột quỵ cấp.9 Tỷ lệ này cao hơn tại các trung tâm phục hồi chức năng thần kinh (khoảng 50% ở đột quỵ bán cầu trái) do mức độ bệnh nặng hơn.10 Mất thực dụng chi ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính độc lập trong sinh hoạt hàng ngày.11,12 Các tổn thương não ở hồi trán dưới, thùy đỉnh sau và vỏ não chẩm - thái dương ngoài có liên quan chặt chẽ đến hội chứng này.13

Văn bản Bổ trợ Cụ thể cho Khuyến cáo

  1. Ba tổng quan hệ thống cùng với 3 thử nghiệm RCT nhỏ từ năm 2014 cung cấp bằng chứng cho thấy việc huấn luyện chiến lược hoặc cử chỉ có thể mang lại hiệu quả cho bệnh nhân mất thực dụng chi.1,3,4 Ví dụ, một nghiên cứu (n=25, đột quỵ mạn tính) nhận thấy 5 buổi huấn luyện pha trà kéo dài 1 giờ hàng tuần kèm phản hồi giúp giảm số lỗi và rút ngắn thời gian pha trà, tuy nhiên hiệu quả này chưa chuyển giao được sang các tác vụ chuẩn bị đồ uống phức tạp hơn.2
  2. Các tổng quan hệ thống cũng ủng hộ việc luyện tập tác vụ hoặc huấn luyện chức năng để cải thiện mất thực dụng chi.1,3,4 Nghiên cứu trên bệnh nhân mạn tính (n=20) so sánh 24 buổi tập thực tế ảo (VR) mô phỏng chuẩn bị thức ăn, mặc quần áo trong 8 tuần với phục hồi chức năng truyền thống cho thấy VR giúp giảm các khía cạnh mất thực dụng (mất thực dụng ý tưởng vận động và mất thực dụng kiến thiết).7 Một nghiên cứu khác (n=38; trung bình 12 tháng sau đột quỵ) nhận thấy 24 buổi huấn luyện chức năng chi trên trong 8 tuần giúp cải thiện khả năng bắt chước và nhận biết cử chỉ so với nhóm chỉ giáo dục.6 Việc luyện tập tác vụ có thể triển khai qua nhiều hình thức đa dạng (huấn luyện chức năng, dựa trên VR).

Khoảng trống nghiên cứu và Hướng Nghiên cứu Tương lai

  • Thời điểm tối ưu để bắt đầu can thiệp và liều lượng can thiệp lý tưởng (số buổi tập) cho chứng mất thực dụng chi cần được nghiên cứu làm rõ thêm để tối ưu hóa hiệu quả dài hạn.
  • Có một số bằng chứng sơ bộ cho thấy kích thích não không xâm lấn có thể tác động đến mất thực dụng chi. Một buổi tDCS (n=6) hoặc kích thích chùm theta liên tục xuyên sọ (cTBS) qua vùng thùy đỉnh (n=19) đã ghi nhận sự cải thiện tạm thời.14,15 Đây mới chỉ là các nghiên cứu chứng minh nguyên lý (proof-of-concept), cần thêm các thử nghiệm đối chứng quy mô lớn hơn trước khi đưa ra khuyến cáo.

5.3. Quản lý Tình trạng Co cứng (Management of Spasticity)

Các Khuyến cáo về Quản lý Tình trạng Co cứng
Các nghiên cứu tham chiếu hỗ trợ cho các khuyến cáo được tóm tắt trong tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Khuyến cáo
1 A 1. Ở những bệnh nhân co cứng chi trên sau đột quỵ, tiêm botulinum toxin nhắm trúng đích vào các cơ chi trên bị co cứng được khuyến cáo nhằm làm giảm co cứng, cải thiện biên độ vận động khớp (ROM) thụ động, cải thiện vị thế chi và hỗ trợ việc mặc quần áo, vệ sinh cá nhân.1–5
1 A 2. Đối với người bệnh có tình trạng co cứng chi dưới sau đột quỵ cản trở dáng đi, tiêm botulinum toxin nhắm trúng đích vào các cơ chi dưới được khuyến cáo nhằm làm giảm trương lực cơ co cứng.6–8
1 B-R 3. Ở bệnh nhân co cứng chi sau đột quỵ, việc định vị cơ mục tiêu để tiêm botulinum toxin dưới hướng dẫn của thiết bị (như siêu âm, kích thích điện hoặc điện cơ đồ [EMG]) được khuyến cáo nhằm nâng cao hiệu quả và độ chính xác của thủ thuật.9,10
2b A 4. Đối với người bệnh đột quỵ bị co cứng toàn thân, các thuốc chống co cứng đường uống có thể hữu ích trong việc làm giảm trương lực cơ, tuy nhiên có thể gây an thần, yếu cơ hoặc các tác dụng không mong muốn khác phụ thuộc vào liều dùng.11–14
2a B-R 5. Ở bệnh nhân đột quỵ bị co cứng nặng không đáp ứng với các can thiệp khác, liệu pháp baclofen truyền tủy màng cứng (ITB) là hợp lý để làm giảm co cứng và cải thiện vị thế của chi trong quá trình chăm sóc.15–17
2b A 6. Đối với bệnh nhân đột quỵ có cơ bị co cứng, các tác nhân vật lý như kích thích điện thần kinh cơ (NMES) hoặc rung cơ tác động lên các cơ co cứng có thể được xem xét như một biện pháp bổ trợ cho trị liệu phục hồi chức năng nhằm cải thiện tình trạng co cứng tạm thời.18–21
3: Không có lợi B-NR 7. Ở người bệnh đột quỵ, việc sử dụng nẹp (splinting) và băng dán cố định (taping) không được khuyến cáo để dự phòng co cứng cổ tay và các ngón tay.22

Tóm tắt Tổng quan

Co cứng là tình trạng phổ biến sau đột quỵ, ảnh hưởng từ 25% đến 46% người bệnh, trong đó khoảng 10% ở mức độ nặng.23–25 Tình trạng này có thể dẫn đến co rút biến dạng khớp, loét da do tì đè và đau đớn, làm suy giảm khả năng vận động chức năng, cản trở việc tự chăm sóc (như vệ sinh cá nhân, mặc quần áo) và làm tăng gánh nặng cho người chăm sóc.24 Co cứng là một dạng tăng trương lực cơ được định nghĩa là: "rối loạn vận động đặc trưng bởi sự gia tăng phụ thuộc vào vận tốc của phản xạ kéo dãn trương lực kèm theo sự tăng đáp ứng giật gân, bắt nguồn từ tình trạng tăng tính kích thích của phản xạ kéo dãn, là một thành phần của hội chứng nơ-ron vận động trên."26 Các biểu hiện lâm sàng bao gồm giật rung (clonus), loạn trương lực tư thế và co thắt gấp hoặc duỗi kèm đau hoặc không đau. Nguy cơ co cứng tăng cao ở những bệnh nhân có tổn thương bán cầu diện rộng, điểm NIHSS ban đầu cao, xuất huyết não, tổn thương hạch nền và mất cảm giác.25,27,28 Cần phân biệt co cứng với các mẫu đồng vận bất thường (synergy patterns) vốn do mất khả năng điều khiển cơ độc lập gây nên các kiểu gấp duỗi rập khuôn. Mặc dù khác nhau về cơ chế, cả hai đều bắt nguồn từ sự biến đổi dẫn truyền thần kinh trung ương từ hệ lưới - tủy sống.23,29

Văn bản Bổ trợ Cụ thể cho Khuyến cáo

  1. Nhiều thử nghiệm ngẫu nhiên mù đôi đối chứng giả dược chứng minh các dạng bào chế của botulinum toxin type A giúp giảm co cứng chi trên sau đột quỵ. Mức độ giảm co cứng đo bằng thang điểm Ashworth hoặc MAS đạt ý nghĩa rõ rệt tại tuần thứ 4 và thứ 8, và tình trạng co cứng có xu hướng tái xuất hiện sau 12 tuần tiêm.1–5,30 Tỷ lệ biến cố bất lợi < 3% và không nghiêm trọng.31 Lợi ích về cải thiện chức năng thụ động, giảm gánh nặng chăm sóc và nâng cao chất lượng cuộc sống được duy trì qua nhiều chu kỳ tiêm liên tiếp.32 Liều cao hơn mang lại hiệu quả tốt hơn mà không làm giảm khả năng dung nạp thuốc.1,4,33,34 Tổng quan hệ thống từ 13 nghiên cứu khẳng định tiêm botulinum toxin kết hợp phục hồi chức năng đạt hiệu quả kinh tế y tế cao hơn so với chỉ tập phục hồi chức năng đơn thuần.35 Dù vậy, bằng chứng hiện tại chưa chứng minh việc tiêm botulinum toxin giúp làm giảm nguy cơ co rút khớp chi trên lâu dài.37
  2. Trong thử nghiệm RCT trên co cứng chi dưới (n=381), abobotulinumtoxinA làm giảm co cứng hiệu quả, duy trì lợi ích và cải thiện tốc độ đi bộ (nhanh hơn 25,3%) trong pha mở rộng.6 Wein và cộng sự đánh giá onabotulinumtoxinA trong điều trị co cứng gập lòng bàn chân sau đột quỵ, ghi nhận 52% bệnh nhân tiêm thuốc đạt mức giảm điểm MAS và ấn tượng cải thiện lâm sàng tổng thể tốt hơn nhóm giả dược tại tuần 2 đến tuần 6 sau tiêm.8 Phân tích dưới nhóm cho thấy thuốc đạt hiệu quả tương đương bất kể thời gian mắc đột quỵ ngắn hay dài.7
  3. Tiêm khu trú botulinum toxin là giải pháp thay thế hiệu quả cho thuốc uống, giúp nhắm trúng các cơ co cứng đích và hạn chế tác dụng phụ toàn thân. Việc định vị cơ tiêm đạt kết quả tốt nhất khi có sự hỗ trợ của EMG, siêu âm hoặc kích thích điện. Tổng quan hệ thống của Grigoriu và cộng sự (2015) cung cấp bằng chứng Mức độ 1 cho thấy việc tiêm dưới hướng dẫn của thiết bị vượt trội hoàn toàn so với tiêm mò bằng tay về độ chính xác.10 Phân tích gộp mạng lưới Bayes gần đây từ 6 nghiên cứu cho thấy hướng dẫn bằng siêu âm và kích thích điện mang lại hiệu quả giảm co cứng theo thang Ashworth tốt nhất sau 2 đến 6 tuần tiêm so với EMG hoặc tiêm mò.9
  4. Các thuốc uống như baclofen, dantrolene sodium và tizanidine được dùng để giảm co cứng toàn thân. Dù có hiệu quả nhất định, các thuốc này thường gây tác dụng phụ như mệt mỏi, lơ mơ và buồn ngủ, làm giới hạn liều điều trị an toàn và giảm hiệu quả lâm sàng tổng thể.11–14
  5. Nghiên cứu SISTERS cho thấy liệu pháp baclofen truyền tủy màng cứng (ITB) vượt trội hơn hẳn so với thuốc uống thông thường trong việc giảm co cứng nặng sau đột quỵ mạn tính.15,16 Trong thử nghiệm ngẫu nhiên đa trung tâm này (n=60), nhóm ITB đạt mức giảm co cứng trên thang MAS tốt hơn, kiểm soát đau tốt hơn và có chất lượng cuộc sống cao hơn sau 6 tháng so với nhóm dùng thuốc uống, khi cả hai nhóm đều tập vật lý trị liệu. Tuy nhiên, nhóm ITB gặp phải một số biến cố ngoại khoa (lệch catheter, nhiễm trùng vết mổ) và các triệu chứng yếu cơ, bí tiểu, táo bón (được xử trí bằng chỉnh liều). Đặt đầu catheter cao hơn ở vùng tủy cổ giúp kiểm soát co cứng chi trên tốt hơn mà không làm tăng biến chứng.17
  6. Có bằng chứng về hiệu quả của các phương pháp tiếp cận không dùng thuốc. Các phân tích gộp gần đây chỉ ra rằng liệu pháp rung cơ cục bộ giúp giảm co cứng và cải thiện vận động tạm thời, đặc biệt ở các cơ chi trên.18,19,21 Rung cục bộ cho hiệu quả giảm co cứng ngắn hạn nhỉnh hơn so với rung toàn thân do kích thích nhắm trúng đích hơn. Co cứng cơ chi dưới cũng đáp ứng với rung cơ, nhưng tác động lên dáng đi còn chưa rõ ràng. Tần số rung hiệu quả từ 5 đến 300 Hz thực hiện trong 5 đến 30 phút.21 Kích thích điện thần kinh cơ (NMES) cũng đem lại lợi ích chống co cứng tạm thời đáng kể cho chi trên khi kết hợp với các bài tập trị liệu khác.20
  7. Tổng quan hệ thống từ 11 nghiên cứu về nẹp bất động cho thấy: bằng chứng ủng hộ nẹp tĩnh chi trên có độ mạnh thấp; bằng chứng ủng hộ thiết bị kéo dãn liên tục có độ mạnh cao; bằng chứng ủng hộ nẹp động có độ mạnh thấp; và hoàn toàn không có bằng chứng chứng minh kéo dãn thụ động bằng tay có thể giải quyết được tình trạng co cứng.22

Khoảng trống nghiên cứu và Hướng Nghiên cứu Tương lai

  • Một số thử nghiệm nhỏ cho thấy tiềm năng của liệu pháp sóng xung kích ngoài cơ thể (ESWT) trong việc giảm co cứng.38–40 Tuy nhiên, cần thêm các thử nghiệm lâm sàng mù đôi, đa trung tâm quy mô lớn để kiểm chứng, đồng thời so sánh hiệu quả giữa sóng xung kích hội tụ và phân kỳ. Cơ chế sinh học của ESWT trong giảm co cứng cũng cần được làm sáng tỏ thêm.
  • Các phương pháp điều hòa thần kinh như tDCS, rTMS hoặc kích thích chùm theta đã được nghiên cứu như biện pháp bổ trợ;41–47 tuy nhiên cần có các nghiên cứu thiết kế chặt chẽ với thông số kích thích rõ ràng và đánh giá kết cục dài hạn để khẳng định hiệu quả.
  • Cần có các công cụ đo lường lâm sàng đáng tin cậy để định lượng chính xác sự đóng góp của thành phần thần kinh và cơ học trong tình trạng co cứng.48,49

5.4. Thăng bằng và Thất điều (Balance and Ataxia)

Các Khuyến cáo về Thăng bằng và Thất điều
Các nghiên cứu tham chiếu hỗ trợ cho các khuyến cáo được tóm tắt trong tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Khuyến cáo
1 A 1. Người bệnh đột quỵ nên được chỉ định và trang bị dụng cụ trợ giúp di chuyển (AD) hoặc dụng cụ chỉnh hình (orthosis) phù hợp nhằm cải thiện khả năng thăng bằng và giảm thiểu nguy cơ ngã.1
1 C-EO 2. Người bệnh đột quỵ cần được lượng giá về khả năng thăng bằng, mức độ tự tin vào thăng bằng và nguy cơ té ngã để thiết lập một kế hoạch điều trị chuẩn xác.
2a C-LD 3. Ở bệnh nhân thất điều sau đột quỵ, việc huấn luyện tư thế và trị liệu định hướng tác vụ là hợp lý để phục hồi và cải thiện chức năng vận động chi trên.2,3
2a B-NR 4. Đối với người bệnh đột quỵ, tập luyện thái cực quyền (tai chi) có thể mang lại nhiều lợi ích trong việc cải thiện khả năng thăng bằng.4–7
2a B-NR 5. Ở bệnh nhân đột quỵ, huấn luyện thăng bằng dựa trên nền tảng thực tế ảo (VR), bao gồm cả các can thiệp dựa trên trò chơi điện tử nhằm giải quyết suy giảm thăng bằng, có thể hữu ích để nâng cao khả năng giữ thăng bằng.8–10
2a B-R 6. Đối với người bệnh đột quỵ, các bài tập ổn định khối cơ cốt lõi (core stabilization) có thể hữu ích để cải thiện thăng bằng.11–14
2b B-R 7. Ở người bệnh đột quỵ, có thể cân nhắc kết hợp tập luyện tim phổi và rèn luyện sức mạnh để cải thiện thể lực tim mạch, thăng bằng khi đứng, tốc độ đi bộ thoải mái và quãng đường đi bộ.15

Tóm tắt Tổng quan

Thăng bằng phụ thuộc vào tín hiệu đầu vào từ hệ thống thị giác, tiền đình và cảm giác thân thể. Những tín hiệu này được não bộ tích hợp để điều khiển các đáp ứng vận động đón đầu và phản ứng đối với các xáo trộn tư thế. Suy giảm thăng bằng và kiểm soát tư thế rất phổ biến sau đột quỵ do tổn thương các mạng lưới cảm giác - vận động.16–18 Mất thăng bằng làm cản trở việc thực hiện an toàn các ADL, hạn chế đi lại trong nhà và ngoài cộng đồng, làm xói mòn sự tự tin và dẫn đến né tránh vận động.19 Nếu không được phát hiện và điều trị, suy giảm thăng bằng sẽ dẫn đến hàng loạt hậu quả nghiêm trọng và tốn kém như ngã, gãy xương và tái nhập viện.20,21 Đánh giá khả năng thăng bằng, ngay cả ở những bệnh nhân đột quỵ nhẹ (điểm NIHSS < 4), là cần thiết để xác định nguy cơ ngã và điều chỉnh các can thiệp thăng bằng chuyên biệt.22,23–25

Thất điều (ataxia) là tình trạng rối loạn phối hợp hoạt động cơ bắp trong các cử động chủ chủ động, liên quan đến tổn thương tiểu não, cuống tiểu não và các đường dẫn truyền tiểu não ở thân não; có thể ảnh hưởng đến cả chi trên, chi dưới và thân mình. Bệnh nhân thất điều có biểu hiện chậm khởi phát động tác, sai lệch về thời gian, quỹ đạo chi bất thường và rối loạn tầm vận động (dysmetria). Thất điều xuất hiện ở 68% đến 86% bệnh nhân đột quỵ thân não.3,26 Bằng chứng nghiên cứu về phục hồi chức năng cho hội chứng thất điều sau đột quỵ hiện còn rất hạn chế, chủ yếu là các báo cáo ca bệnh tập trung vào phục hồi thất điều chi trên.27,28

Văn bản Bổ trợ Cụ thể cho Khuyến cáo

  1. Dụng cụ trợ giúp di chuyển hoặc dụng cụ chỉnh hình cung cấp sự hỗ trợ từ bên ngoài giúp tăng cường độ ổn định và sự tự tin khi đi bộ. Thầy thuốc nên lựa chọn thiết bị có mức độ hạn chế ít nhất nhưng vẫn đảm bảo đủ sự hỗ trợ cần thiết mà không cản trở tiến trình hồi phục của chi dưới bên liệt. Khi được chỉ định dụng cụ trong giai đoạn cấp, người bệnh cần được đánh giá lại liên tục xuyên suốt quá trình phục hồi vì nhu cầu hỗ trợ sẽ thay đổi theo thời gian.
  2. Suy giảm thăng bằng dẫn đến giảm tự tin, hạn chế hoạt động, gây teo cơ do không sử dụng và suy giảm chức năng tim mạch. Đánh giá thăng bằng định kỳ giúp phân tầng nguy cơ ngã và cá nhân hóa phác đồ can thiệp.23–25
  3. Bằng chứng về phục hồi chức năng thất điều sau đột quỵ còn giới hạn ở các báo cáo ca bệnh (chủ yếu trên chi trên). Các nghiên cứu này ghi nhận sự giảm khiếm khuyết và cải thiện chức năng, cho thấy tiềm năng can thiệp nhất định, tuy nhiên cần có thêm các nghiên cứu quy mô lớn hơn (như đánh giá hiệu quả của việc đeo tạ chi).2,3,29
  4. Thái cực quyền (tai chi) tập trung vào việc kiểm soát độ ổn định của chuyển động, điều hòa hơi thở và tĩnh tâm, tác động tích cực đến sức mạnh, độ linh hoạt, phối hợp động tác và thăng bằng.30 Thái cực quyền đã được ứng dụng trong phục hồi chức năng đột quỵ hơn 10 năm qua trên thế giới.31 Các chuyển động nhịp nhàng, liên tục kết hợp chuyển trọng tâm từ chân này sang chân khác giúp thử thách hệ thống kiểm soát thăng bằng trong phạm vi chân đế thay đổi liên tục, từ đó nâng cao khả năng thăng bằng trên các thang đo chuẩn hóa.32 Thái cực quyền không đòi hỏi trang thiết bị phức tạp, chi phí thấp, dễ dàng điều chỉnh theo mức độ vận động của từng người và có thể triển khai thuận tiện tại cộng đồng.
  5. Thực tế ảo (VR) tạo ra môi trường 3 chiều an toàn, nơi bệnh nhân thực hiện các tác vụ thời gian thực, đón đầu và phản ứng với các kích thích mô phỏng thế giới thực.33–35 Huấn luyện bằng VR mang lại hiệu quả vượt trội hơn so với trị liệu truyền thống trong việc cải thiện thăng bằng và dáng đi, cả khi bổ sung vào trị liệu thường quy hoặc khi ghép cặp tương đương về thời lượng. VR cũng thúc đẩy tái tổ chức vỏ não thông qua cơ chế kích hoạt hệ thống nơ-ron gương và phản hồi cảm giác tức thì.36–38 Các trò chơi điện tử tương tác (exergames) thương mại sử dụng hình đại diện (avatar) nhận diện chuyển động cơ thể mà không cần tay cầm điều khiển là một lợi thế lớn cho bệnh nhân đột quỵ có bàn tay liệt khó cầm nắm, giúp tăng cường sự gắn kết và tuân thủ điều trị với chi phí hợp lý.39–42
  6. Khiếm khuyết chức năng thân mình rất phổ biến sau đột quỵ, tương quan trực tiếp với sự suy giảm khả năng di chuyển, thăng bằng và mức độ độc lập chức năng, đồng thời làm tăng thời gian nằm viện.43–49 Yếu các nhóm cơ thân mình phía trước, bên và phía sau làm chậm trễ và mất đối xứng trong các điều chỉnh tư thế. Sự ổn định của khối cơ cốt lõi (sự đồng co thắt nhịp nhàng giữa cơ cạnh sống, cơ vuông thắt lưng, cơ bụng, cơ đai hông, sàn chậu và cơ hoành) cung cấp sự ổn định động cho toàn bộ cơ thể trong các vận động thẳng đứng và khi bước đi.43,46,50,51
  7. Thể lực tim phổi và sức mạnh cơ bắp đều suy giảm rõ rệt sau đột quỵ. Kết hợp tập luyện tim phổi (đi bộ, máy tập tay chân) và tập sức mạnh (trọng lượng cơ thể, dây thun, tạ) là cấu phần quan trọng giúp cải thiện thể lực và nâng cao khả năng thăng bằng tổng thể.15

Khoảng trống nghiên cứu và Hướng Nghiên cứu Tương lai

  • Cần thêm các thử nghiệm lâm sàng theo dõi dài hạn về hiệu quả của thái cực quyền như một chiến lược phòng chống té ngã cho người sống sót sau đột quỵ tại cộng đồng.
  • Cần có các nghiên cứu theo dõi dọc đối với người bệnh được cung cấp dụng cụ trợ giúp di chuyển hoặc nẹp chỉnh hình sớm để xác định liệu việc can thiệp sớm này có thực sự giúp nâng cao thăng bằng và giảm tỷ lệ ngã lâu dài hay không.
  • Các trò chơi tương tác điện tử giúp cải thiện thăng bằng chức năng nhưng chưa chứng minh được tác động rõ rệt lên khả năng di chuyển ngoài thực tế; cần có các nghiên cứu chất lượng phương pháp luận cao để kiểm chứng.
  • Còn thiếu các nghiên cứu dựa trên bằng chứng về can thiệp phục hồi chức năng cho tình trạng thất điều sau đột quỵ.

5.5. Dáng đi và Khả năng Di chuyển (Gait and Mobility)

Các Khuyến cáo về Dáng đi và Khả năng Di chuyển
Các nghiên cứu tham chiếu hỗ trợ cho các khuyến cáo được tóm tắt trong tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Khuyến cáo
1 A 1. Đối với người bệnh đột quỵ, một chương trình phục hồi chức năng thể chất đa chuyên khoa, định hướng mục tiêu và dựa trên bằng chứng được khuyến cáo để cải thiện dáng đi và khả năng di chuyển.1–6
1 A 2. Ở người bệnh đột quỵ, việc huấn luyện chuyên biệt theo tác vụ tập trung vào việc đi bộ trên mặt đất, bước chân và thăng bằng được khuyến cáo để cải thiện dáng đi và khả năng di chuyển.5,7,8
2a B-R 3. Đối với bệnh nhân đột quỵ giai đoạn bán cấp hoặc mạn tính, việc tập bước chân ở cường độ từ trung bình đến cao và/hoặc bài tập ngắt quãng cường độ cao (HIIT) tập trung vào tốc độ đi bộ có thể đem lại hiệu quả trong việc cải thiện sức bền đi bộ, tốc độ đi bộ và khả năng thăng bằng.2,3,7,9–13
2a A 4. Ở người bệnh đột quỵ, việc rèn luyện sức mạnh kháng lực ở cả chân bên tổn thương nhiều và chân bên ít tổn thương (không chỉ rèn luyện đơn độc chân ít tổn thương) có thể mang lại hiệu quả trong việc cải thiện sức bền đi bộ, thăng bằng và khả năng di chuyển.11,13–15
2a B-R 5. Đối với người bệnh đột quỵ, các can thiệp kích thích hoặc tạo nhịp bằng âm thanh có nhịp điệu (RAS) có thể mang lại hiệu quả trong việc cải thiện tốc độ đi bộ, thăng bằng và các thông số động học không gian - thời gian của dáng đi.16,17
2a B-R 6. Ở bệnh nhân đột quỵ, liệu pháp vận động cưỡng bức cưỡng chế chi dưới (CIMT chi dưới) có thể đem lại hiệu quả trong việc nâng cao tính độc lập khi đi lại, sức bền đi bộ, thăng bằng và khả năng di chuyển.18–20
2a B-R 7. Đối với người bệnh đột quỵ, tưởng tượng vận động (motor imagery) hoặc liệu pháp gương (mirror therapy) kết hợp các cử động hai bên có thể hữu ích trong việc cải thiện tốc độ đi bộ.21,22
2a B-R 8. Ở người bệnh đột quỵ, việc huấn luyện dáng đi tương tác với các trò chơi vận động điện tử (*exergames) hoặc thực tế ảo (VR) có thể mang lại hiệu quả cải thiện tốc độ đi bộ, sức bền, khả năng di chuyển, thăng bằng và các thông số động học dáng đi.6,23–25
2a B-R 9. Đối với người bệnh đột quỵ, một phác đồ trị liệu liều cao kéo dài ít nhất 4 đến 8 tuần (ví dụ: các buổi tập 1–2 giờ, 5 buổi/tuần, ở cường độ tim mạch từ trung bình đến mạnh, kết hợp tăng số lần lặp lại bước chân) có thể đem lại hiệu quả cải thiện rõ rệt tốc độ và sức bền đi bộ.9,26,27
2b A 10. Ở người bệnh đột quỵ, kích thích điện chức năng (FES) trên chân bên liệt kết hợp với chương trình tập thể dục có thể được cân nhắc như một liệu pháp phục hồi để cải thiện động học dáng đi, sức bền đi bộ, thăng bằng và khả năng di chuyển.13,28–31
2b B-R 11. Đối với bệnh nhân đột quỵ mạn tính, các bài tập dưới nước (thủy trị liệu) có thể được xem xét để cải thiện tốc độ đi bộ, thăng bằng và khả năng di chuyển.32,33
2b B-R 12. Ở người bệnh đột quỵ, châm cứu kết hợp với phục hồi chức năng có thể được cân nhắc nhằm hỗ trợ cải thiện các thông số động học dáng đi và khả năng thăng bằng.34,35
2b B-R 13. Đối với người bệnh đột quỵ, kích thích cảm giác thân thể (dưới ngưỡng vận động) bằng dòng điện qua da (TENS) ở chân bên liệt có thể được xem xét để hỗ trợ cải thiện dáng đi và khả năng di chuyển.36
2b B-R 14. Ở người bệnh đột quỵ, việc huấn luyện dáng đi kết hợp điều khiển sinh học phản hồi bằng hình ảnh (visual biofeedback) có thể được cân nhắc để cải thiện tốc độ đi bộ, thăng bằng và khả năng di chuyển.37
2b B-R 15. Đối với người bệnh có co cứng sau đột quỵ, việc điều trị y khoa kiểm soát co cứng có thể được xem xét để hỗ trợ cải thiện tốc độ đi bộ.37–40
3: Không có lợi A 16. Đối với những bệnh nhân đột quỵ còn khả năng tự đi lại được, huấn luyện dáng đi có robot hỗ trợ (RAGT) không được khuyến cáo ưu tiên hơn so với huấn luyện đi bộ trên mặt đất định hướng tác vụ để cải thiện dáng đi và khả năng di chuyển.41–44
3: Không có lợi A 17. Đối với những bệnh nhân đột quỵ còn khả năng tự đi lại được, việc huấn luyện dáng đi trên thảm lăn ở cường độ nhẹ đến trung bình (có hoặc không có hệ thống treo nâng đỡ trọng lượng cơ thể) không được khuyến cáo ưu tiên hơn so với huấn luyện đi bộ trên mặt đất định hướng tác vụ.1,5,42,45,46
3: Không có lợi B-R 18. Đối với người bệnh đột quỵ, các phương pháp điều trị phát triển thần kinh (NDT), chẳng hạn như kỹ thuật Bobath, không được khuyến cáo để cải thiện dáng đi và khả năng di chuyển.47–49
*Ghi chú: Trò chơi vận động điện tử (Exergames) sử dụng các trò chơi video tương tác kết hợp tập luyện thể chất với các yếu tố trò chơi nhằm hỗ trợ phục hồi và cải thiện các chức năng thể chất và nhận thức ở người bệnh.

Tóm tắt Tổng quan

Phục hồi chức năng đi lại là ưu tiên hàng đầu sau đột quỵ và là mục tiêu trung tâm của phục hồi chức năng thần kinh. Các can thiệp hiệu quả đòi hỏi một cách tiếp cận đa chuyên khoa, định hướng tác vụ nhằm thúc đẩy sự phục hồi vận động và tính mềm dẻo của não bộ (neuroplasticity). Việc huấn luyện dáng đi sớm và duy trì liên tục từ giai đoạn cấp đến mạn tính đem lại những cải thiện ý nghĩa về sức bền đi bộ (6MWT), tốc độ đi bộ (10MWT), khả năng di chuyển (TUG), thăng bằng (BBS), các thông số động học không gian - thời gian (độ dài bước chân, nhịp bước, tính đối xứng), mức độ đi lại độc lập (FAC) và khả năng thực hiện ADL (Chỉ số Barthel).1,2,9,18 Bằng chứng khoa học ủng hộ mạnh mẽ việc huấn luyện vận chuyển chuyên biệt theo tác vụ ở cường độ từ trung bình đến cao kết hợp luyện tập lặp lại liều cao.2,7,9,27 Các chiến lược bổ trợ như tập kháng lực, FES, tạo nhịp âm thanh, liệu pháp gương và VR cũng có thể tối ưu hóa dáng đi khi được chỉ định thích hợp.14–17,21,27,28,30,51

Văn bản Bổ trợ Cụ thể cho Khuyến cáo

  1. Phục hồi dáng đi sau đột quỵ kết hợp các liệu pháp dựa trên tính mềm dẻo thần kinh (thúc đẩy não tái tổ chức và hình thành các kết nối mới) với các kỹ thuật bù trừ. Bằng chứng hiện có cho thấy việc bắt đầu can thiệp sớm giúp đạt được tiến bộ nhanh hơn so với chăm sóc thông thường.1 Việc tiếp tục duy trì can thiệp ở giai đoạn mạn tính (\(\ge 6\) tháng) vẫn tiếp tục mang lại những cải thiện chức năng dáng đi rõ rệt.2,9,18 Cường độ và tính nhất quán đóng vai trò quyết định hiệu quả điều trị.1,3,4,5,25,45,52
  2. Huấn luyện định hướng tác vụ bao gồm thực hành các hoạt động chức năng thực tế như đi bộ trên mặt đất, bước bậc thang và các bài tập thăng bằng. Các bài tập này mô phỏng chuyển động trong đời sống thực, kích thích học tập vận động qua sự lặp lại. Can thiệp đi bộ trên mặt đất giúp cải thiện tính độc lập và tốc độ sau 4 tuần tập luyện, cho kết quả tương đương với các can thiệp đắt tiền dựa trên thảm lăn hoặc robot.5,8,45 Tập luyện tác vụ trên mặt đất cũng vượt trội hơn các bài tập không đặc hiệu (như đạp xe tại chỗ) và việc kết hợp các dụng cụ kháng lực chức năng (như dây thun) trong khi đi bộ giúp tăng cường thêm sức mạnh và hiệu suất dáng đi.7,15,50,53
  3. Huấn luyện vận chuyển cường độ trung bình đến cao được thực hiện ở mức 40%–60% (trung bình) hoặc > 60% (cao) của dự trữ nhịp tim (HRR) theo công thức: \[\text{Nhịp tim mục tiêu} = (\text{Nhịp tim}_{\max} - \text{Nhịp tim}_{\text{nghỉ}}) \times \text{Cường độ} + \text{Nhịp tim}_{\text{nghỉ}}\] Hoặc có thể tính theo phần trăm nhịp tim tối đa (\(65\%-75\%\) tương ứng cường độ trung bình, \(> 75\%\) là cường độ cao). Nhịp tim tối đa có thể xác định qua nghiệm pháp gắng sức hoặc ước tính theo công thức \([220 - \text{tuổi}]\) hoặc \([208 - 0,7 \times \text{tuổi}]\). Đối với bệnh nhân đang dùng thuốc chẹn beta giao cảm, cần sử dụng các công thức hiệu chỉnh: \[[164 - 0,7 \times \text{tuổi}] \quad \text{hoặc}\] \[\quad [119 + 0,5 \times (\text{Nhịp tim}_{\text{nghỉ}}) - 0,5 \times \text{tuổi} - (0 \text{ nếu tập thảm lăn}; 5 \text{ nếu tập xe đạp})\] Ở bệnh nhân mạn tính, các phác đồ bước chân cường độ cao đẩy bệnh nhân đến gần năng lực tối đa giúp cải thiện vượt trội sức bền đi bộ (6MWT).2,9 Nếu không thể tập cường độ cao, đi bộ cường độ trung bình trong 4 tuần ở giai đoạn bán cấp nội trú cũng đem lại cải thiện sức bền rõ rệt.3
  4. Rèn luyện sức mạnh kháng lực cần bao gồm cả hai chân. Việc đưa chân ít liệt vào bài tập sức mạnh chức năng đóng góp đáng kể vào việc cải thiện dáng đi và thăng bằng, khẳng định tầm quan trọng của tiếp cận hai bên.15 Cả hai phương pháp tập bước kháng lực (dùng dây thun/tạ đeo cổ chân) và máy tập tạ chuyên dụng tại phòng gym đều cho thấy hiệu quả.14,15,50
  5. Tạo nhịp bằng âm thanh có nhịp điệu (RAS) sử dụng máy gõ nhịp (metronome) hoặc âm nhạc giúp điều hòa nhịp bước, cải thiện tốc độ, thăng bằng và sự phối hợp động học, tạo ra dáng đi đối xứng và ổn định hơn.16,17,51,58,59
  6. Liệu pháp vận động cưỡng chế chi dưới (CIMT chi dưới) tập trung vào việc luyện tập tác vụ chuyên sâu cho chân bên liệt, thường kết hợp các chiến lược hạn chế sự bù trừ của chân lành. Phương pháp này giúp tăng tính độc lập, sức bền, thăng bằng và khả năng di chuyển tổng thể.19 Lợi ích ghi nhận được ngay cả trong các quy trình không dùng dụng cụ cưỡng chế thể chất (như nẹp cố định chân lành), chứng minh rằng việc thực hành lặp lại liều cao chính là động lực thúc đẩy sự hồi phục.2,19
  7. Tưởng tượng vận động và liệu pháp gương kích hoạt các đường dẫn truyền vận động mà không cần cử động thực tế, giúp cải thiện tốc độ đi bộ khi can thiệp sớm và kết hợp vận động hai bên.21 Kết hợp liệu pháp gương với kích thích điện có thể làm tăng thêm hiệu quả.
  8. VR và Exergames tạo môi trường tương tác kích thích vận động và học tập vận động, mang lại những cải thiện rõ rệt về tốc độ, sức bền, thăng bằng và động học dáng đi ở cả giai đoạn bán cấp và mạn tính.6,24,25
  9. Huấn luyện vận chuyển liều cao (khoảng 30 buổi tập kéo dài 1–2 giờ, 5 ngày/tuần ở cường độ trung bình đến mạnh) là yếu tố quyết định để thúc đẩy tính mềm dẻo thần kinh và tạo ra những biến đổi chức năng có ý nghĩa lâm sàng.9,26,27,60,61
  10. Kích thích điện chức năng (FES) trên chân liệt kết hợp tập luyện giúp kích hoạt cơ, cải thiện động học dáng đi, sức bền và thăng bằng.28–31 FES hỗ trợ bước đi mang lại hiệu quả chức năng tương đương với nẹp chỉnh hình cổ - bàn chân (AFO).
  11. Thủy trị liệu (Aquatic therapy) tận dụng sức nổi để giảm tải trọng lượng và áp lực thủy tĩnh tạo kháng lực đa chiều, mang lại lợi ích về tốc độ đi bộ, thăng bằng và khả năng di chuyển ở bệnh nhân mạn tính so với tập trên cạn.32,33
  12. Châm cứu kết hợp với phục hồi chức năng thông thường cho thấy tiềm năng cải thiện động học dáng đi và thăng bằng ở giai đoạn bán cấp và mạn tính.34,35
  13. Kích thích thần kinh qua da (TENS) dưới ngưỡng vận động giúp tăng cường tín hiệu cảm giác truyền về hệ thần kinh trung ương, hỗ trợ phục hồi vận động khi tích hợp vào chương trình phục hồi chức năng.36
  14. Điều khiển sinh học phản hồi thị giác (Visual biofeedback) cung cấp tín hiệu hình ảnh thời gian thực (như vị trí đặt chân trên thảm lăn) giúp bệnh nhân tự điều chỉnh cử động, nâng cao tốc độ đi bộ và thăng bằng.37,62
  15. Các thuốc kiểm soát co cứng như baclofen truyền tủy màng cứng hoặc tiêm botulinum toxin giúp giảm đau, giảm cứng cơ, từ đó gián tiếp hỗ trợ cải thiện sự thoải mái và tốc độ khi đi lại.38–40
  16. Huấn luyện đi bộ bằng robot (RAGT) cho kết quả tương đương với tập đi bộ trên mặt đất định hướng tác vụ ở những bệnh nhân đã có khả năng đi lại. Do chi phí đắt đỏ và thời gian chuẩn bị phức tạp, RAGT không được ưu tiên hơn tập trên mặt đất cho nhóm đối tượng này, dù nó có thể giúp giảm tải sức lao động cho kỹ thuật viên trong các buổi tập liều cao.41–44,63
  17. Tập đi trên thảm lăn cường độ nhẹ - trung bình (có hoặc không có nâng đỡ trọng lượng) cho kết quả tương đương nhưng không vượt trội hơn so với đi bộ định hướng tác vụ trên mặt đất ở người bệnh đã đi lại được.5,41,42,45,46,64–66
  18. Kỹ thuật Bobath (NDT) không chứng minh được hiệu quả vượt trội so với các can thiệp dựa trên bằng chứng khác (như tập đi định hướng tác vụ), phù hợp với khuyến cáo của Hội Vật lý Trị liệu Thần kinh Hoa Kỳ (APTA) về việc ngừng sử dụng kỹ thuật này trên lâm sàng.47–49,67

Khoảng trống nghiên cứu và Hướng Nghiên cứu Tương lai

  • Hầu hết các can thiệp dáng đi mới dừng lại ở các thử nghiệm RCT pha 1; cần có các thử nghiệm pha 2 và pha 3 đa trung tâm quy mô lớn với kết cục chính là chức năng đi lại thực tế (như số bước chân hàng ngày ngoài cộng đồng).
  • Cần tiến hành các thử nghiệm RCT can thiệp sớm ngay từ giai đoạn cấp và bán cấp thay vì chỉ ngoại suy từ các nghiên cứu trên bệnh nhân mạn tính.
  • Các can thiệp mới nổi cần được nghiên cứu thêm bao gồm:
    • Thảm lăn hai băng chuyền (Split-belt treadmill): Giúp cải thiện tính bất đối xứng của dáng đi nhưng cần thêm các thử nghiệm đối chứng lớn.69–71
    • Điều hòa thần kinh không xâm lấn (rTMS, tDCS): rTMS tần số cao bên bán cầu tổn thương kết hợp tập đi cho thấy kết quả sơ bộ hứa hẹn, nhưng phần lớn kỹ thuật này chưa được FDA phê duyệt cho chỉ định này.72–76
    • Khí công / Thái cực quyền: Cần các nghiên cứu đối chứng chất lượng cao.
    • Kích thích thích nghi thiếu máu cục bộ (Ischemic conditioning): Làm tắc mạch ngắt quãng ở chân liệt để tăng tưới máu cơ xa, cần thêm bằng chứng lâm sàng.77
    • Can thiệp đa phương thức: Kết hợp robot, VR và điều hòa thần kinh.

5.6. Hoạt động Chi trên, bao gồm ADL, IADL, Xúc giác và Cảm thụ Bản thể

Các Khuyến cáo về Hoạt động Chi trên, bao gồm ADL, IADL, Xúc giác và Cảm thụ Bản thể
Các nghiên cứu tham chiếu hỗ trợ cho các khuyến cáo được tóm tắt trong tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Khuyến cáo
1 B-R 1. Ở người bệnh liệt nửa người sau đột quỵ, việc huấn luyện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày (ADL) được thiết kế cá nhân hóa theo nhu cầu và môi trường xuất viện là hữu ích để đạt được mức độ độc lập tối ưu.1,2
1 B-NR 2. Người bệnh đột quỵ nên được huấn luyện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày có sử dụng công cụ (IADL) phù hợp với nhu cầu cá nhân và môi trường sống để tối ưu hóa chức năng.1,2
1 A 3. Đối với người bệnh đột quỵ, việc thực hành lặp lại, tăng dần độ khó của các tác vụ chức năng, bao gồm các phương pháp huấn luyện định hướng tác vụ như liệu pháp vận động cưỡng chế (CIMT) và các phiên bản sửa đổi của nó, được khuyến cáo để cải thiện hiệu suất ADL và chức năng vận động.3–6
2a A 4. Đối với những người bị liệt nửa người mức độ trung bình đến nặng ở chi trên, việc cân nhắc phục hồi chức năng có robot hỗ trợ kết hợp với các phương pháp điều trị chuẩn là hợp lý nhằm mang lại liều lượng luyện tập cao hơn và cải thiện chức năng vận động.7–9
2a A 5. Ở những bệnh nhân có cử động chủ động tối thiểu hoặc có bán trật khớp vai trong vài tháng đầu sau đột quỵ, việc cân nhắc sử dụng kích thích điện thần kinh cơ (NMES) là hợp lý để làm giảm bán trật khớp và cải thiện vị thế của cánh tay.10–12
2b B-R 6. Đối với những bệnh nhân có khiếm khuyết phần xa chi trên mức độ trung bình đến nặng ở giai đoạn mạn tính, có thể cân nhắc áp dụng NMES để cải thiện khiếm khuyết vận động và các hoạt động chức năng.13–15
2a B-R 7. Ở người bệnh liệt nửa người chi trên sau đột quỵ, việc cân nhắc thực hành tinh thần (tưởng tượng vận động) như một biện pháp bổ trợ cho các liệu pháp phục hồi chức năng chi trên khác là hợp lý để nâng cao các kỹ năng vận động.16,17
2a B-R 8. Đối với người bệnh liệt nửa người chi trên sau đột quỵ, việc kết hợp rèn luyện sức mạnh như một biện pháp bổ trợ cho việc thực hành tác vụ chức năng là hợp lý.18
2a B-R 9. Ở bệnh nhân liệt nửa người chi trên, việc cân nhắc ứng dụng thực tế ảo (VR) như một phương pháp cung cấp thêm thời lượng thực hành chi trên nhằm cải thiện kỹ năng vận động là hợp lý.19
2a B-R 10. Đối với những người bệnh đột quỵ sau > 6 tuần có liệt chi trên từ nhẹ đến nặng, việc cân nhắc huấn luyện phân biệt cảm giác thân thể chủ động là hợp lý nhằm cải thiện chức năng phân biệt cảm giác, chức năng bàn tay và mức độ sử dụng cánh tay hàng ngày.20–23
2a B-R 11. Ở người bệnh đột quỵ bị liệt chi trên mức độ trung bình đến nặng, việc sử dụng liệu pháp gương là hợp lý để cải thiện chức năng vận động và các hoạt động ADL.24–34
2b B-R 12. Đối với người bệnh liệt chi trên sau đột quỵ, việc kết hợp kích thích cảm giác thân thể hoặc kích hoạt cảm giác (priming) với huấn luyện định hướng tác vụ hoặc CIMT có thể là hợp lý để cải thiện các kỹ năng cảm giác và vận động.35–39
2a B-R 13. Ở bệnh nhân đột quỵ có liệt chi trên mức độ trung bình đến nặng, các mô hình huấn luyện hai bên (bilateral training) có thể hữu ích để cải thiện chức năng vận động và ADL.40,41
2b B-R 14. Đối với những bệnh nhân đột quỵ đủ điều kiện có liệt chi trên, kích thích dây thần kinh phế vị (VNS) kết hợp với huấn luyện tác vụ liều cao có thể được xem xét để cải thiện chức năng và mức độ khiếm khuyết của chi trên.42–46
3: Không có lợi B-R 15. Đối với người bệnh đột quỵ có liệt nửa người, phương pháp điều trị phát triển thần kinh (kỹ thuật Bobath) không được khuyến cáo để cải thiện kỹ năng vận động và sức mạnh chi trên.47,48

Tóm tắt Tổng quan

Liệt nửa người chi trên là một trong những dạng tàn tật phổ biến nhất sau đột quỵ. Tỷ lệ yếu chi trên trong tuần đầu sau đột quỵ hiện ước tính khoảng 48% đến 57%.49,50 Nhiều người bệnh dù có khiếm khuyết ban đầu nhẹ nhưng vẫn gặp khó khăn trong việc sử dụng chức năng cánh tay sau 6 tháng.2 Việc mất khả năng sử dụng chi trên làm suy giảm nghiêm trọng tính độc lập trong ADL, IADL và các vai trò xã hội (làm việc, chăm sóc gia đình). Do tính chất kéo dài của các khiếm khuyết này, nhiều kỹ thuật can thiệp đa dạng đã được nghiên cứu và ứng dụng trên lâm sàng.5,19,33,44,47,52–54

Văn bản Bổ trợ Cụ thể cho Khuyến cáo

  1. Hoạt động trị liệu (Occupational Therapy - OT) đóng vai trò trung tâm giúp bệnh nhân cải thiện khả năng thực hiện các tác vụ hàng ngày và giảm gánh nặng cho người chăm sóc.1 Huấn luyện ADL được thực hiện liên tục với độ khó tăng dần để tối đa hóa hiệu suất, kết hợp giữa việc phục hồi năng lực và các biện pháp bù trừ (như dùng dụng cụ hỗ trợ ăn uống cán to, cải tạo buồng tắm).1,55
  2. Bên cạnh ADL cơ bản, OT còn huấn luyện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày có sử dụng công cụ (IADL) như nấu nướng, dọn dẹp, mua sắm, lái xe, quản lý tài chính và công việc. Các tác vụ này mang tính phức tạp cao và được cá nhân hóa theo kỹ năng, sở thích và mục tiêu sống của từng cá nhân.1,2,55
  3. Huấn luyện định hướng tác vụ lặp lại (Task-specific training) đã trở thành can thiệp tiêu chuẩn, tập trung vào việc cầm nắm và thao tác đồ vật thực tế.6 Đây là thành phần cốt lõi của liệu pháp vận động cưỡng bức (CIMT) và CIMT sửa đổi (mCIMT), dành cho bệnh nhân có cử động duỗi cổ tay và ngón tay chủ động. Các phân tích gộp khẳng định CIMT mang lại những cải thiện thực chất và có ý nghĩa lâm sàng vượt trội.3–5,35,36,38,54,56–62
  4. Trị liệu bằng robot phù hợp cho bệnh nhân liệt vừa đến nặng. Mặc dù robot không vượt trội hơn so với hoạt động trị liệu có cùng liều lượng, nó cung cấp một công cụ an toàn giúp tăng số lần lặp lại vận động mà không cần sự giám sát liên tục của kỹ thuật viên.7–9,63–66
  5. NMES được áp dụng hiệu quả cho bệnh nhân mất cử động chủ động hoặc để phòng ngừa và giảm bán trật khớp vai, hỗ trợ đặt vị thế cánh tay trong giai đoạn sớm.10,12,52,67,68
  6. Ở giai đoạn mạn tính, NMES kích hoạt bằng điện cơ (EMG-triggered NMES) giúp cải thiện khiếm khuyết vận động chi trên ngắn hạn ở người bệnh liệt vừa và nặng.10,13,15
  7. Thực hành tinh thần (tưởng tượng vận động) là biện pháp bổ trợ hữu ích cho luyện tập thể chất, giúp cải thiện chức năng và tầm vận động tay, đặc biệt hiệu quả trong giai đoạn bán cấp.16,17
  8. Rèn luyện sức mạnh kết hợp với tập tác vụ (thêm tạ vào đồ vật tập, tập kháng lực tại nhà) là một trong những can thiệp hiệu quả nhất cho liệt chi trên.18,54,62,69
  9. Thực tế ảo (VR) và trò chơi điện tử giúp nâng cao động lực và tính gắn kết của bệnh nhân, mang lại hiệu quả lâm sàng rõ rệt khi dùng để tăng cường thời lượng luyện tập ngoài giờ trị liệu chính quy.19,70,71
  10. Huấn luyện tái giáo dục cảm giác thân thể chủ động (Active somatosensory retraining) tập trung vào việc phân biệt bề mặt, nhận biết đồ vật bằng xúc giác và nhận cảm vị trí khớp khi nhắm mắt, giúp tăng cường mức độ sử dụng cánh tay liệt trong cả giai đoạn bán cấp muộn và mạn tính.20,21,72–74 Tuy nhiên, việc kết hợp quá nhiều tác vụ cảm giác và vận động cùng lúc trong giai đoạn rất sớm (< 8 tuần) có thể gây quá tải chú ý.75
  11. Liệu pháp gương (Mirror therapy) tạo ra ảo giác thị giác rằng tay liệt đang cử động bình thường khi quan sát tay lành qua gương, thúc đẩy tính mềm dẻo của vỏ não và cải thiện vận động cũng như ADL.24–34,76,77
  12. Kích thích cảm giác qua da (TENS/PNS) dưới ngưỡng vận động trước khi tập tác vụ giúp chuẩn bị tốt hơn cho các mạng lưới thần kinh vận động.79–88
  13. Huấn luyện vận động hai bên (Bilateral training), bao gồm FES điều khiển từ bên đối diện (CCFES), giúp cải thiện biên độ khớp và chất lượng cử động ở bệnh nhân liệt vừa đến nặng.40,41,59,60,89,90
  14. Kích thích dây thần kinh phế vị (VNS) cấy ghép kết hợp với huấn luyện tác vụ liều cao tại phòng khám và tại nhà tạo ra sự cải thiện vượt bậc về điểm FMA chi trên duy trì đến 1 năm sau phẫu thuật.42–46,91
  15. Kỹ thuật Bobath (NDT) không có bằng chứng chứng minh tính hiệu quả vượt trội so với các kỹ thuật chi trên khác, do đó không được khuyến cáo.47,48

Khoảng trống nghiên cứu và Hướng Nghiên cứu Tương lai

  • Châm cứu cho chi trên (thể châm, nhĩ châm, điện châm) cho thấy một số tín hiệu tích cực về ADL nhưng bằng chứng hiện có chất lượng còn thấp; cần các nghiên cứu thiết kế chuẩn mực.53,92,93
  • Liệu pháp quan sát hành động (AOT - xem video động tác rồi làm theo) cho thấy hiệu quả cải thiện vận động ngắn hạn; cần kiểm chứng thêm về ý nghĩa lâm sàng dài hạn.94,95
  • Vai trò của fluoxetine trong việc thúc đẩy phục hồi vận động còn nhiều tranh cãi; thử nghiệm FOCUS và AFFINITY cho thấy thuốc không cải thiện kết cục chức năng mRS mà còn làm tăng nguy cơ ngã, gãy xương và co giật.96–99
  • Cần nghiên cứu xác định liều lượng tối ưu cho các can thiệp chi trên và kiểm thử tiền lâm sàng các công nghệ phục hồi chức năng.

5.7. Dụng cụ Thích nghi, Thiết bị Y tế Bền vững, Dụng cụ Chỉnh hình và Xe lăn

Các Khuyến cáo về Thiết bị Thích nghi, Thiết bị Y tế Bền vững, Dụng cụ Chỉnh hình và Xe lăn
Các nghiên cứu tham chiếu hỗ trợ cho các khuyến cáo được tóm tắt trong tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Khuyến cáo
1 B-NR 1. Ở những bệnh nhân đột quỵ có hạn chế hoạt động hoặc giới hạn sự tham gia, các thiết bị thích nghi và dụng cụ trợ giúp (AD) nên được sử dụng để nâng cao mức độ tham gia vào các hoạt động đời sống.1,2
1 B-NR 2. Đối với người bệnh đột quỵ có khiếm khuyết về dáng đi hoặc thăng bằng, các dụng cụ trợ giúp đi lại (như gậy, khung tập đi) nên được sử dụng khi cần thiết để nâng cao hiệu quả và độ an toàn khi di chuyển.3–6
1 C-LD 3. Ở bệnh nhân đột quỵ không thể đi lại hoặc bị hạn chế khả năng đi bộ, xe lăn nên được sử dụng để hỗ trợ di chuyển trong gia đình và ngoài cộng đồng.7–11
1 A 4. Đối với người bệnh liệt nửa người sau đột quỵ, việc sử dụng nẹp chỉnh hình cổ - bàn chân (AFO) hoặc kích thích điện chức năng (FES) được khuyến cáo nhằm cải thiện thăng bằng và khả năng di chuyển.12–19
2b B-NR 5. Ở bệnh nhân đột quỵ mạn tính có suy giảm năng lực chi trên mức độ trung bình đến nặng, hiệu quả của việc sử dụng nẹp chỉnh hình tĩnh nhằm giảm co cứng hoặc cải thiện chức năng bàn tay là chưa được xác lập rõ ràng.20,21

Tóm tắt Tổng quan

Nhiều người bệnh đột quỵ cần sử dụng các thiết bị thích nghi, dụng cụ trợ giúp (AD), nẹp chỉnh hình và dụng cụ hỗ trợ di chuyển để thực hiện các hoạt động và tăng cường sự tham gia xã hội.1–4,12,22,23 Sự phù hợp của từng thiết bị phụ thuộc vào nhu cầu riêng biệt, mức độ khiếm khuyết chức năng, đặc điểm cấu trúc không gian sống và điều kiện kinh tế của người bệnh.1,23 Khiếm khuyết cảm giác - vận động chi dưới thường gây khó khăn cho dáng đi và tăng nguy cơ té ngã, đòi hỏi phải trang bị các phương tiện trợ giúp di chuyển (gậy, khung đi, xe lăn).1,3–11 Bàn chân rũ do giảm tầm vận động gập lưng cổ chân thường được xử trí hiệu quả bằng nẹp AFO hoặc FES, giúp cải thiện rõ rệt thăng bằng, tốc độ đi bộ và khả năng vận động.4,12–16,18 Đối với chi trên, việc dùng nẹp tĩnh cho bệnh nhân mạn tính vẫn chưa mang lại hiệu quả chắc chắn trong việc giảm co cứng hay phục hồi chức năng tay.20,21

Văn bản Bổ trợ Cụ thể cho Khuyến cáo

  1. Các thiết bị thích nghi đa dạng bao gồm: dụng cụ ăn uống cán to, dao cắt bập bênh, tấm chặn đĩa, thảm chống trượt, bông tắm cán dài, vòi sen cầm tay, ghế tắm buồng/bồn, thanh vịn nhà vệ sinh, bồn cầu nâng cao và khung an toàn bồn cầu. Người bệnh sử dụng các thiết bị này báo cáo cảm thấy an toàn hơn rất nhiều (85,8%), tự tin hơn (78%), làm chủ các hoạt động thường ngày tốt hơn (74%) và có thể tham gia vào các hoạt động yêu thích (52%).1 Hoạt động trị liệu bao gồm cung cấp và huấn luyện sử dụng AD giúp cải thiện đáng kể năng lực ADL và giảm nguy cơ tử vong hoặc phụ thuộc.2
  2. Hơn một nửa số người bệnh đột quỵ cần dụng cụ trợ giúp di chuyển, phổ biến nhất là gậy.3 Sử dụng gậy giúp cải thiện ngay tốc độ, độ dài bước chân và độ an toàn.5,6 Đối với người đi chậm (< 0,4 m/s) và người đi tốc độ trung bình (0,4–0,8 m/s), gậy mang lại lợi ích rất lớn, tuy nhiên việc cấp gậy có thể làm giảm tốc độ ở những người vốn đã đi nhanh (> 0,8 m/s).4 Các loại dụng cụ đi lại phổ biến gồm gậy 1 chân, gậy 3–4 chân, khung tập đi 2 bánh, 4 bánh hoặc khung tập đi có ghế ngồi (rollator).
  3. Có tới 40% bệnh nhân xuất viện phục hồi chức năng cần sử dụng xe lăn tay.9 Người bệnh thường tự đẩy xe bằng tay lành và dùng chân lành đẩy dưới sàn; việc tự đẩy xe sớm không gây hại cho trương lực cơ hay kết cục chức năng.8,24 Nhiều người bệnh dùng xe lăn để di chuyển quãng đường xa (đi khám bệnh, mua sắm) dù vẫn đi bộ được trong nhà. Xe lăn điện cũng có thể được huấn luyện sử dụng an toàn cho các bệnh nhân phù hợp.9
  4. Nẹp AFO tác động tích cực lên tốc độ đi bộ, nhịp bước, chiều dài sải bước, động học khớp gối/cổ chân, thăng bằng và sức bền.12,13 Trang bị AFO sớm mang lại hiệu quả phục hồi chức năng và tính độc lập cao hơn so với trang bị muộn.14 Nẹp AFO có khớp (articulated AFO) cho hiệu quả thăng bằng và di chuyển tốt hơn nẹp cố định (fixed AFO).15 FES cũng là một giải pháp can thiệp hiệu quả cho chứng bàn chân rũ với kết quả tương đương AFO.17–19
  5. Nẹp tĩnh bàn tay: Bằng chứng hiện tại còn mâu thuẫn và chưa đủ thuyết phục để chứng minh nẹp tĩnh giúp cải thiện chức năng bàn tay hoặc giảm co cứng lâu dài.20,21

Khoảng trống nghiên cứu và Hướng Nghiên cứu Tương lai

  • Các yếu tố cấp hệ thống (chứng nhận cơ sở, loại hình cơ sở y tế, tỷ lệ nhân viên) bên cạnh nhu cầu của bệnh nhân có ảnh hưởng lớn đến việc chỉ định thiết bị trợ giúp; cần có nghiên cứu để tối ưu hóa việc phân bổ nguồn lực này.23
  • Nẹp tay động phi robot (Nonrobotic dynamic hand orthoses) bước đầu cho thấy cải thiện chức năng chi trên (ARAT) và độ khéo léo (BBT), nhưng các nghiên cứu còn nhỏ và có nguy cơ sai số.22
  • Robot đeo (exoskeletons) và đồ mặc robot mềm (exosuits) có tiềm năng lớn trong việc hỗ trợ tập luyện lặp lại và thực hiện ADL nhưng cần được kiểm chứng lâm sàng sâu rộng hơn.25–27
  • Công nghệ trợ giúp hiện đại (trợ lý kỹ thuật số, robot gia đình, đồng hồ thông minh, hệ thống giám sát tại nhà) hứa hẹn nâng cao tính độc lập của người bệnh đột quỵ.28–31

5.8. Thay đổi và Quản lý Lối sống (Lifestyle Modification and Management)

Các Khuyến cáo về Thay đổi và Quản lý Lối sống
Các nghiên cứu tham chiếu hỗ trợ cho các khuyến cáo được tóm tắt trong tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Khuyến cáo
Tập thể dục & Vận động
1 A 1. Đối với người bệnh đột quỵ có đủ năng lực thể chất, việc tham gia hoạt động hiếu khí cường độ ít nhất trung bình tối thiểu 10 phút/lần, 4 lần/tuần hoặc hoạt động hiếu khí cường độ mạnh tối thiểu 20 phút/lần, 2 lần/tuần được chỉ định nhằm làm giảm nguy cơ đột quỵ tái phát và tiêu chí gộp biến cố tim mạch (đột quỵ tái phát, nhồi máu cơ tim hoặc tử vong do nguyên nhân mạch máu).1
2a A 2. Ở người bệnh đột quỵ có đủ năng lực thể chất, việc tham gia các lớp tập thể dục* kết hợp tư vấn cải thiện hành vi hoạt động thể chất có thể mang lại lợi ích trong việc giảm các yếu tố nguy cơ chuyển hóa tim mạch và gia tăng mức độ tham gia hoạt động thể chất lúc rảnh rỗi (LTPA).2,3
2a B-R 3. Đối với người bệnh có khiếm khuyết sau đột quỵ làm suy giảm khả năng tự tập luyện, việc thực hiện một chương trình tập luyện có giám sát* bởi nhân viên y tế bên cạnh phục hồi chức năng thường quy có thể mang lại lợi ích cho dự phòng đột quỵ thứ phát.2
2b B-NR 4. Ở người bệnh đột quỵ, việc ngắt quãng thời gian ngồi tĩnh tại kéo dài bằng các đợt đứng dậy hoặc vận động nhẹ trong thời gian ngắn mỗi 30 phút một lần là hợp lý nhằm cải thiện sức khỏe tim mạch.4
Dinh dưỡng
2a B-R 5. Đối với người bệnh đột quỵ, việc áp dụng chế độ ăn Địa Trung Hải là hợp lý để làm giảm nguy cơ đột quỵ tái phát.5,6
1 B-R 6. Ở người bệnh đột quỵ, việc giảm lượng natri tiêu thụ trong khẩu phần ăn \(\ge 1\text{ g/ngày}\) (như một phần của chế độ ăn lành mạnh) được khuyến cáo nhằm làm giảm nguy cơ đột quỵ, các biến cố tim mạch chính và tử vong.7,8
Cai thuốc lá
1 A 7. Đối với người bệnh đột quỵ có hút thuốc lá, khuyến cáo thực hiện tư vấn tâm lý kết hợp hoặc không kết hợp với điều trị bằng thuốc để hỗ trợ cai nghiện thuốc lá.9,10
1 B-NR 8. Người bệnh đột quỵ cần tránh tiếp xúc với khói thuốc lá thụ động nhằm giảm nguy cơ tử vong sau đột quỵ và giảm nguy cơ tái phát.11,12
Sử dụng Chất gây nghiện và Rượu bia
1 B-NR 9. Đối với người bệnh đột quỵ uống > 2 đơn vị cồn/ngày (nam giới) và > 1 đơn vị cồn/ngày (nữ giới), cần thực hiện tư vấn, giáo dục sức khỏe và các chiến lược thay đổi hành vi để kiêng hoặc giảm tiêu thụ rượu bia nhằm giảm nguy cơ đột quỵ và các biến cố tim mạch chính.13
1 C-EO 10. Ở những bệnh nhân đột quỵ có lạm dụng chất kích thích§ hoặc bị viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn do tiêm chích ma túy, nhân viên y tế cần tư vấn ngừng sử dụng và/hoặc chuyển tuyến đến các chương trình cai nghiện chuyên biệt để giảm nguy cơ tái phát đột quỵ.14,15
1 B-NR 11. Đối với người bệnh đột quỵ mắc rối loạn sử dụng chất (ma túy hoặc rượu bia), điều trị cai nghiện chuyên khoa|| được khuyến cáo để kiểm soát sự phụ thuộc và giảm thiểu nguy cơ đột quỵ tái phát cũng như tử vong.16,17
*Ghi chú:
* Bất kỳ sự kết hợp nào giữa bài tập hiếu khí (vận động liên tục các nhóm cơ lớn) và bài tập kháng lực (hoạt động gây co cơ chống lại tải trọng bên ngoài).
† Chú trọng rau xanh, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt, các loại đậu; hạn chế chất béo bão hòa, chất béo chuyển hóa (trans-fat), carbohydrate tinh chế; ưu tiên đạm nạc và cá.
‡ Liệu pháp thay thế nicotine, bupropion hoặc varenicline.
§ Ví dụ: amphetamines, các dẫn xuất amphetamine, cocaine hoặc lá khat.
|| Bao gồm trị liệu hành vi và điều trị bằng thuốc.

Tóm tắt Tổng quan

Dự phòng thứ phát nhắm vào các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được như lối sống tĩnh tại, dinh dưỡng và sử dụng chất gây nghiện là nhiệm vụ tối quan trọng trong suốt tiến trình phục hồi chức năng đột quỵ, giúp làm giảm 25% đến 30% nguy cơ tái phát trong vòng 5 năm và nâng cao tính độc lập của người bệnh.19,20 Các mô hình can thiệp hành vi (như mô hình do điều dưỡng dẫn dắt hoặc chăm sóc phối hợp) giúp cải thiện đáng kể lối sống và các chỉ số sinh lý như huyết áp và mỡ máu.21 Chiến lược đa phương thức kết hợp thay đổi hành vi với quản lý dược lý giúp giảm tái phát và nâng cao chất lượng cuộc sống.22 Cần tích hợp các chiến lược này xuyên suốt từ giai đoạn nằm viện cấp tính đến phục hồi chức năng tại cộng đồng.19–22

Văn bản Bổ trợ Cụ thể cho Khuyến cáo

  1. Hoạt động thể chất thường xuyên là hòn đá tảng trong dự phòng đột quỵ thứ phát. Thử nghiệm SAMMPRIS chứng minh mức độ hoạt động thể chất cao hơn liên quan chặt chẽ đến việc giảm nguy cơ biến cố mạch máu tái phát ở bệnh nhân được kiểm soát tích cực các yếu tố nguy cơ; lối sống tĩnh tại là yếu tố dự báo mạnh nhất của kết cục xấu.1
  2. Các chương trình có cấu trúc kết hợp tập luyện với tư vấn giúp cải thiện đáng kể huyết áp tâm thu (giảm trung bình 3,6 đến 5 mm Hg), giảm đường huyết đói, giảm insulin và tăng HDL-cholesterol.2,3 Sự nhất quán trong việc cải thiện các yếu tố nguy cơ này là căn cứ nâng mức độ bằng chứng lên "A".
  3. Các chương trình tập luyện có giám sát bởi chuyên viên vật lý trị liệu hoặc chuyên gia phục hồi chức năng tim mạch mang lại lợi ích lớn trong việc cải thiện huyết áp, đường huyết và lipid máu cho những bệnh nhân có khiếm khuyết nặng cản trở việc tự tập luyện.2
  4. Thử nghiệm BUST-Stroke chứng minh việc ngắt quãng thời gian ngồi tĩnh tại bằng các đợt vận động nhẹ ngắn (3 phút đứng hoặc đi bộ mỗi 30 phút một lần) giúp giảm huyết áp tâm thu khoảng 3 đến 5 mm Hg.4
  5. Chế độ ăn Địa Trung Hải giàu dầu ô liu nguyên chất hoặc các loại hạt giúp giảm đáng kể các biến cố tim mạch chính so với chế độ ăn ít chất béo (HR: 0,69 và 0,72 trong thử nghiệm PREDIMED; HR: 0,72–0,75 trong thử nghiệm CORDIOPREV kéo dài 7 năm).5,6
  6. Thử nghiệm SSaSS trên 20.995 bệnh nhân chứng minh việc thay thế muối ăn thông thường bằng muối giảm natri, giàu kali giúp giảm nguy cơ đột quỵ (RR: 0,86), giảm biến cố tim mạch chính (RR: 0,87) và giảm tử vong (RR: 0,88) mà không làm tăng nguy cơ tăng kali máu.7,8
  7. Thử nghiệm EAGLES (n=8144) xác nhận varenicline, bupropion và liệu pháp thay thế nicotine (NRT) đều an toàn và hiệu quả trong cai thuốc lá; varenicline đạt tỷ lệ cai nghiện cao nhất (OR: 3,61 so với giả dược) mà không làm tăng biến cố tâm thần hay tim mạch.9,10
  8. Hút thuốc lá thụ động (SHS) làm tăng 50% nguy cơ phơi nhiễm và tăng gấp đôi tỷ lệ tử vong sau đột quỵ. Bệnh nhân cần được tư vấn tránh xa cả khói thuốc thụ động cấp 2 và cấp 3 (third-hand smoke).11,12,23
  9. Uống \(\ge 3\) đơn vị cồn/ngày hoặc uống say xỉn từng đợt (binge drinking) làm tăng nguy cơ đột quỵ, rung nhĩ, suy tim và tử vong, hoàn toàn không mang lại lợi ích tim mạch ở bất kỳ liều lượng nào.13
  10. Các chất kích thích (cocaine, amphetamines) làm tăng nguy cơ đột quỵ nhồi máu, xuất huyết não và xuất huyết dưới nhện lên gấp 5 lần (OR: 1,77). Bệnh nhân cần được tư vấn cai nghiện triệt để và chuyển tuyến chuyên khoa.14,15
  11. Bệnh nhân có rối loạn sử dụng chất (rượu, opioids, chất kích thích, cần sa) cần được chăm sóc đa chuyên khoa tích cực kết hợp giữa truyền nhiễm, tim mạch và y học cai nghiện để cải thiện kết cục sống còn.16,17

Khoảng trống nghiên cứu và Hướng Nghiên cứu Tương lai

  • Đối với tập luyện: Cần xác định mối quan hệ liều - đáp ứng tối ưu và trình tự phối hợp giữa tập aerobic, kháng lực và tập tác vụ; đánh giá hiệu quả của các chương trình giám sát từ xa.
  • Đối với dinh dưỡng: Cần so sánh hiệu quả của các chiến lược giảm muối và đánh giá độ an toàn của muối giàu kali ở bệnh nhân có bệnh thận mạn, thể trạng suy kiệt hoặc dùng nhiều thuốc (polypharmacy).
  • Đối với cai thuốc lá: Còn thiếu các thử nghiệm cai thuốc chuyên biệt cho bệnh nhân đột quỵ có thất ngôn, khiếm khuyết nhận thức hoặc lạm dụng chất kèm theo.
  • Đối với chất gây nghiện: Cần thêm các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên về can thiệp giảm rượu và điều trị bằng thuốc cho rối loạn sử dụng rượu sau đột quỵ.

5.9. Điều trị và Can thiệp Khiếm khuyết Thị giác

Các Khuyến cáo về Điều trị và Can thiệp cho Khiếm khuyết Thị giác
Các nghiên cứu tham chiếu hỗ trợ cho các khuyến cáo được tóm tắt trong tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Khuyến cáo
Khiếm khuyết Vận động Nhãn cầu
1 A 1. Đối với người bệnh có suy giảm quy tụ thị giác (convergence insufficiency) sau đột quỵ, các bài tập mắt được khuyến cáo để cải thiện chức năng quy tụ nhãn cầu.1,2
2a B-R 2. Ở những bệnh nhân có khiếm khuyết cử động mắt sau đột quỵ, việc huấn luyện bù trừ có thể hữu ích để cải thiện hiệu suất thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày (ADL).3,4
2a C-LD 3. Đối với người bệnh có rối loạn vận nhãn sau đột quỵ, việc huấn luyện bù trừ có thể hữu ích để cải thiện khả năng quét thị giác và kết quả đọc sách báo.5,6
Khiếm khuyết Thị trường
2a B-R 4. Ở người bệnh đột quỵ có khiếm khuyết thị trường, việc sử dụng lăng kính (prisms) có thể hữu ích để hỗ trợ bù trừ cho vùng thị trường bị mất.7–9
2a B-R 5. Đối với người bệnh đột quỵ có khuyết thị trường, huấn luyện quét thị giác bù trừ có thể hữu ích để cải thiện chất lượng cuộc sống liên quan đến thị giác sau khi mất thị trường, tuy nhiên phương pháp này không có hiệu quả trong việc phục hồi trực tiếp các khiếm khuyết thị trường.8–13
2b B-R 6. Ở người bệnh đột quỵ có khiếm khuyết thị trường, việc huấn luyện phục hồi thị giác trên máy tính (VRT) có thể được cân nhắc để mở rộng thị trường và cải thiện chất lượng cuộc sống liên quan đến thị lực.14–18
Khiếm khuyết Thị giác - Không gian / Tri giác
1 B-R 7. Đối với người bệnh đột quỵ có khiếm khuyết thị giác - không gian/tri giác, việc huấn luyện khám phá không gian kết hợp âm thanh - hình ảnh (audio-visual) được khuyến cáo ưu tiên hơn so với chỉ huấn luyện khám phá thị giác không gian đơn thuần nhằm cải thiện khả năng quét thị giác.19–21
2b B-NR 8. Ở người bệnh đột quỵ có khiếm khuyết thị giác - không gian/tri giác, việc áp dụng liệu pháp thực tế ảo (VR) có thể được cân nhắc để cải thiện chức năng thị giác không gian và tri giác.22,23
3: Không có lợi B-NR 9. Đối với người bệnh đột quỵ có khiếm khuyết thị giác - không gian/tri giác, các bài tập mắt cùng với việc sử dụng kính màu hay kính lọc sắc không được khuyến cáo để cải thiện khả năng kiểm soát cử động mắt, điều tiết và phối hợp hai mắt.24

Tóm tắt Tổng quan

Bệnh nhân sau đột quỵ có thể gặp phải nhiều dạng khiếm khuyết thị giác khác nhau: rối loạn vận động nhãn cầu (suy giảm quy tụ, liệt vận nhãn), khiếm khuyết thị trường (bán manh đồng danh, manh một phần tư) và rối loạn tri giác thị giác.25 Ba cách tiếp cận can thiệp chính bao gồm: phục hồi (restitutive - tập mắt để khôi phục chức năng), bù trừ (compensatory - tập quét thị giác để thích ứng) và thay thế (substitutive - dùng lăng kính, cải tạo môi trường).8,26 Bằng chứng về can thiệp vận nhãn chủ yếu đến từ các quần thể chấn thương não hoặc cộng đồng nói chung.1,2,5 Can thiệp mất thị trường tập trung vào lăng kính và tập quét bù trừ, trong khi việc phục hồi thị giác trên máy tính cho kết quả biến thiên.8,14,18,31

Văn bản Bổ trợ Cụ thể cho Khuyến cáo

  1. Tập luyện mắt cho suy giảm quy tụ được ủng hộ bởi các hướng dẫn trước đây. Mặc dù các bằng chứng mới khẳng định hiệu quả của các bài tập mắt đối với suy giảm quy tụ chủ yếu đến từ quần thể dân số nói chung, chúng vẫn có giá trị ứng dụng lâm sàng cho bệnh nhân đột quỵ.1,2,10,11
  2. Thử nghiệm RCT mù đôi (n=64) cho thấy các bài tập quét thị giác bù trừ kết hợp với huấn luyện định hướng tác vụ giúp cải thiện thăng bằng chức năng (BBS) và độc lập trong ADL (Chỉ số Barthel) vượt trội hơn so với nhóm bài tập mắt giả dược.3 Chương trình tập luyện mắt chuyên sâu kết hợp tại nhà giúp cải thiện tốc độ đi bộ, thị lực chức năng và chất lượng cuộc sống.4
  3. Tổng quan Cochrane 2018 cho thấy sự thiếu hụt các nghiên cứu riêng biệt trên bệnh nhân đột quỵ đối với rối loạn vận nhãn; tuy nhiên các bằng chứng từ chấn thương sọ não nhẹ ủng hộ vai trò của huấn luyện bù trừ trong việc cải thiện khả năng quét thị giác.5,6
  4. Lăng kính (Prisms): Tổng quan Cochrane 2019 ghi nhận lăng kính giúp cải thiện việc quét khi đọc sách.2,32 Bệnh nhân đeo kính lăng kính thật (57 diopter, \(\approx 30^\circ\)) có nguyện vọng tiếp tục đeo cao hơn nhóm kính giả.7 Thử nghiệm RCT trên 87 bệnh nhân bán manh đồng danh so sánh lăng kính 40 diopter, tập quét thị giác và giáo dục cho thấy cả 3 phương pháp đều cải thiện hoạt động chức năng, dù nhóm đeo lăng kính có một số tác dụng phụ nhẹ như đau đầu, nhìn đôi.9
  5. Huấn luyện quét thị giác bù trừ giúp cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống liên quan đến thị lực (đo bằng Thang VFQ) so với nhóm chứng, dù không làm thay đổi diện tích tổn thương thực thể của thị trường.8,10,13 Các ứng dụng quét thị giác trên nền tảng web cũng giúp cải thiện thực hiện ADL ở bệnh nhân bán manh hoặc có hội chứng bất chú ý không gian.9,12,23
  6. Huấn luyện phục hồi thị giác trên máy tính (VRT): Một thử nghiệm RCT đa trung tâm sử dụng chương trình học tập tri giác thị giác cá nhân hóa qua kính thực tế ảo (VR-HMD) trong 12 tuần ghi nhận sự cải thiện đáng kể toàn bộ thị trường và bán thị trường bị tổn thương so với nhóm không điều trị.18 Hai nghiên cứu bắt chéo ngẫu nhiên cũng cho thấy việc huấn luyện phân biệt thị giác trên máy tính tại nhà giúp mở rộng thị trường đo bằng thị trường kế và cải thiện chất lượng cuộc sống.15,16
  7. Huấn luyện khám phá không gian kết hợp âm thanh - hình ảnh (Audio-visual training) giúp tăng cường độ chính xác khi tìm kiếm thị giác, tốc độ đọc và ADL vượt trội so với chỉ huấn luyện thị giác đơn thuần nhờ cơ chế kích hoạt tính mềm dẻo đa giác quan.7,19–21
  8. Tập luyện VR (Wii Fit, phần mềm VR) trong 14 ngày giúp cải thiện trí nhớ thị giác - không gian, tri giác thị giác, thăng bằng và khả năng di chuyển ở bệnh nhân có khuyết thị trường.22,23
  9. Nhãn khoa Hành vi (Behavioral optometry) sử dụng kính màu, kính lọc và các bài tập điều tiết mắt hiện hoàn toàn thiếu các bằng chứng thử nghiệm lâm sàng đối chứng để hỗ trợ, phần lớn các can thiệp này không dựa trên bằng chứng khoa học.24

Khoảng trống nghiên cứu và Hướng Nghiên cứu Tương lai

  • Cần có các nghiên cứu đánh giá chuyên sâu về can thiệp cho rối loạn vận nhãn đặc thù sau đột quỵ.
  • Cần các thử nghiệm RCT quy mô lớn để xác định hiệu quả dài hạn của lăng kính, tập quét thị giác và huấn luyện phục hồi thị lực trên máy tính.
  • Các kỹ thuật kích thích não không xâm lấn (như kích thích dòng điện xoay chiều xuyên hốc mắt lặp lại [rTACS] hoặc tDCS) bước đầu cho thấy tính khả thi và an toàn đối với bệnh nhân mất thị trường sau đột quỵ nhưng cần các thử nghiệm lớn hơn để khẳng định.27,33,34
  • Hiện vẫn còn thiếu hụt trầm trọng các nghiên cứu về can thiệp làm giảm tác động của suy giảm tri giác thị giác sau đột quỵ.26,29

5.10. Sàng lọc, Quản lý Rối loạn Nuốt và Hỗ trợ Dinh dưỡng (Dysphagia Screening, Management, and Nutritional Support)

Các Khuyến cáo về Sàng lọc, Quản lý Rối loạn Nuốt và Hỗ trợ Dinh dưỡng
Các nghiên cứu tham chiếu hỗ trợ cho các khuyến cáo được tóm tắt trong tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Khuyến cáo
Sàng lọc Rối loạn Nuốt
1 B-R 1. Đối với người bệnh đột quỵ cấp, quy trình sàng lọc rối loạn nuốt cần được thực hiện càng sớm càng tốt (trong vòng 24 giờ sau nhập viện) và trước khi người bệnh bắt đầu ăn, uống hoặc dùng thuốc đường uống nhằm nhận diện các trường hợp cần đánh giá toàn diện.1–3
1 B-NR 2. Ở người bệnh đột quỵ, sàng lọc rối loạn nuốt cần được thực hiện bằng một công cụ chuẩn hóa đã được kiểm định giá trị, tối thiểu phải bao gồm việc quan sát trực tiếp người bệnh thử nuốt các thể tích chất lỏng khác nhau để nhận diện những người có nguy cơ.3–9
1 B-NR 3. Đối với người bệnh đột quỵ nghi ngờ có khó nuốt, các phương pháp đánh giá nuốt bằng dụng cụ (instrumented swallow studies) nên được ưu tiên lựa chọn hơn so với đánh giá không dùng dụng cụ hoặc khám tại giường thông thường để xác định chính xác sự hiện diện của hít sặc (aspiration), làm rõ cơ chế cơ học sinh học của rối loạn nuốt, xác định chế độ ăn đường miệng ít bị hạn chế nhất và định hướng kế hoạch điều trị chuẩn xác.2,9–18
2a C-LD 4. Ở người bệnh đột quỵ, việc thực hiện sàng lọc rối loạn nuốt trong vòng 24 giờ sau khi chuyển sang môi trường chăm sóc mới là hợp lý để nhận diện những bệnh nhân vẫn còn nguy cơ khó nuốt.19
2a B-R 5. Đối với người bệnh đột quỵ, việc thực hiện sàng lọc nuốt bởi chuyên viên âm ngữ trị liệu, điều dưỡng hoặc nhân viên y tế đã qua đào tạo là hợp lý để nhận diện các đối tượng có nguy cơ khó nuốt.2,3,20,21
2a B-R 6. Ở những bệnh nhân đột quỵ được chỉ định đánh giá nuốt bằng dụng cụ, việc đánh giá khả năng nuốt thuốc viên là hợp lý để xác định phương thức dùng thuốc đường uống an toàn và hiệu quả.22,23
2a B-NR 7. Đối với bệnh nhân đột quỵ nghi ngờ khó nuốt, việc đánh giá chức năng cảm giác vùng miệng, hầu, thanh quản kết hợp đo áp lực nuốt vùng miệng và hầu là hợp lý như một biện pháp bổ trợ cho đánh giá nuốt bằng dụng cụ nhằm xác định nguyên nhân cơ học và định hướng điều trị.9,24–32
2a C-LD 8. Ở người bệnh đột quỵ cấp, việc thực hiện đánh giá nuốt bằng dụng cụ trong vòng 4 ngày đầu sau nhập viện hoặc trong vòng 24 giờ sau khi rút ống nội khí quản là hợp lý để xác định chế độ ăn ít bị hạn chế nhất.13,16,33–35
2a B-NR 9. Đối với người bệnh có khó nuốt sau đột quỵ, việc tái đánh giá chức năng nuốt toàn diện định kỳ trong vòng 3 tháng sau khi xuất viện khỏi khoa cấp tính là hợp lý nhằm thúc đẩy sự phục hồi và xác định chế độ ăn đường miệng tối ưu.36–38
Quản lý và Điều trị Rối loạn Nuốt
1 B-NR 10. Đối với bệnh nhân khó nuốt sau đột quỵ, trị liệu nuốt hành vi (behavioral swallowing treatment) có hiệu quả trong việc cải thiện chức năng nuốt, nâng cao khả năng dung nạp các độ đặc thực phẩm, giảm nguy cơ kết cục xấu về sức khỏe và cải thiện chất lượng cuộc sống.39–60
2a B-R 11. Ở bệnh nhân khó nuốt sau đột quỵ, điều khiển sinh học phản hồi (biofeedback) có thể là một bổ sung hữu ích cho trị liệu nuốt hành vi để cải thiện chức năng nuốt, nâng cao dung nạp thực phẩm và cải thiện chất lượng cuộc sống.61–67
2b B-R 12. Đối với bệnh nhân khó nuốt sau đột quỵ, kích thích điện vùng hầu (PES) có thể được cân nhắc để cải thiện chức năng nuốt, nâng cao mức độ dung nạp thực phẩm, giảm biến cố bất lợi và nâng cao chất lượng cuộc sống.68–72
2b B-R 13. Ở bệnh nhân khó nuốt sau đột quỵ, hiệu quả của kích thích điện thần kinh cơ (NMES) khi bổ sung vào trị liệu nuốt hành vi hiện vẫn chưa rõ ràng trong việc cải thiện chức năng nuốt, dung nạp thực phẩm và nâng cao chất lượng cuộc sống.53,73–84
2b B-NR 14. Đối với bệnh nhân chảy nước dãi (sialorrhea) sau đột quỵ, điều trị y khoa bằng thuốc nhỏ mắt atropine dưới lưỡi hoặc tiêm botulinum toxin vào tuyến nước bọt có thể đem lại hiệu quả giảm triệu chứng chảy dãi.85,86
Hỗ trợ Dinh dưỡng
1 B-R 15. Đối với bệnh nhân khó nuốt do đột quỵ trong giai đoạn cấp, hỗ trợ dinh dưỡng sớm được khuyến cáo nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng, nâng cao kết cục chức năng và giảm các biến cố bất lợi.87–92
1 B-NR 16. Ở bệnh nhân khó nuốt do đột quỵ trong giai đoạn bán cấp và mạn tính, duy trì hỗ trợ dinh dưỡng đạt hiệu quả rõ rệt trong việc cải thiện kết cục chức năng.93–95
1 B-NR 17. Đối với những bệnh nhân khó nuốt sau đột quỵ mất khả năng nuốt an toàn kéo dài, việc đặt ống mở dạ dày ra da qua nội soi (PEG) được khuyến cáo ưu tiên hơn so with đặt ống thông mũi - dạ dày (NG) nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng và giảm biến chứng.96–99
2a B-R 18. Ở bệnh nhân khó nuốt sau đột quỵ không thể nuốt an toàn, việc cân nhắc đặt ống thông mũi - hỗng tràng hoặc nuôi ăn ngắt quãng qua ống miệng - thực quản ưu tiên hơn ống NG thông thường là hợp lý cho hỗ trợ dinh dưỡng ngắn hạn.100–103

Tóm tắt Tổng quan

Rối loạn nuốt (chứng khó nuốt) là một biến chứng nguy hiểm và rất thường gặp sau đột quỵ, là nguyên nhân chính dẫn đến viêm phổi hít, suy dinh dưỡng, mất nước, kéo dài thời gian nằm viện và làm tăng tỷ lệ tử vong.2,3 Việc nhận diện sớm bằng các công cụ sàng lọc chuẩn hóa giúp giảm thiểu rõ rệt tỷ lệ viêm phổi và tử vong. Nếu người bệnh không vượt qua được bài sàng lọc nuốt, cần tiến hành đánh giá chuyên sâu bởi chuyên viên âm ngữ trị liệu hoặc chuyên gia phục hồi chức năng được đào tạo về rối loạn nuốt.

Các phương pháp đánh giá nuốt bằng dụng cụ như nội soi hoạt nghiệm nuốt bằng ống mềm (FEES) và chụp huỳnh quang tăng sáng video (VFSS) cung cấp những chi tiết sinh lý và cơ học sinh học chuẩn xác mà khám lâm sàng đơn thuần không thể phát hiện được. Thực hiện sớm FEES hoặc VFSS trong vòng 4 ngày đầu nhập viện hoặc trong 24 giờ sau rút ống nội khí quản giúp bắt đầu chế độ ăn an toàn sớm hơn và rút ngắn thời gian nằm viện.13,16,33 Tái đánh giá định kỳ trong 3 tháng đầu giúp định hướng cai ống nuôi ăn và tối ưu hóa chế độ ăn.37 Trị liệu nuốt hành vi kết hợp các bài tập tăng cường sức mạnh hầu họng là hòn đá tảng trong phục hồi chức năng nuốt.40,45 Hỗ trợ dinh dưỡng đầy đủ và kịp thời đóng vai trò then chốt cho sự hồi phục toàn diện sau đột quỵ.89,93

Văn bản Bổ trợ Cụ thể cho Khuyến cáo

  1. Sàng lọc rối loạn nuốt sớm là một can thiệp tối khẩn cấp. Tổng quan hệ thống của Urimubenshi và cộng sự chỉ ra rằng việc tuân thủ sàng lọc nuốt như một chỉ số chất lượng then chốt giúp giảm tỷ lệ viêm phổi và cải thiện kết cục chung.1 Tổng quan Cochrane của Boaden và cộng sự khẳng định các quy trình sàng lọc có cấu trúc do nhân sự được đào tạo thực hiện giúp phát hiện chuẩn xác các rối loạn nuốt quan trọng và cho phép can thiệp điều trị sớm.2 Phân tích gộp của Sherman và cộng sự chứng minh việc sàng lọc nuốt giúp giảm tỷ lệ viêm phổi và giảm tử vong.3
  2. Sử dụng các công cụ sàng lọc đã chuẩn hóa: Đánh giá cảm tính không chính quy tại giường có độ nhạy rất kém và thường bỏ sót các khiếm khuyết nặng.5 Thử nghiệm phản xạ ho bằng axit citric giúp nhận diện hít sặc thầm lặng (silent aspiration) nhưng không đủ để dùng đơn độc.4,7 Ngược lại, đo độ bão hòa oxy máu qua mạch đập (pulse oximetry) không có giá trị chẩn đoán xác định hít sặc ở bệnh nhân đột quỵ.6,8
  3. Đánh giá nuốt bằng dụng cụ (VFSS và FEES) cung cấp thông tin sinh lý quyết định mà khám lâm sàng không thể có được, cho phép trực tiếp quan sát hiện tượng hít sặc, ứ đọng thức ăn và các rối loạn cơ học. Cả FEES và VFSS đều là tiêu chuẩn vàng, bổ trợ lẫn nhau trong việc định hướng chế độ ăn an toàn và rút ngắn thời gian nằm viện.2,9,10–16
  4. Sàng lọc kịp thời trong vòng 24 giờ đầu nhập viện giúp bắt đầu sớm các chiến lược nuôi ăn an toàn và giảm thiểu các biến chứng có thể phòng ngừa được.19
  5. Sàng lọc nuốt đạt hiệu quả cao nhất khi được thực hiện bởi đội ngũ nhân viên y tế (bác sĩ, điều dưỡng, chuyên viên SLP) đã qua đào tạo bài bản theo các quy trình chuẩn hóa.2,3,20,21
  6. Đánh giá khả năng nuốt thuốc viên là một cấu phần quan trọng thường bị bỏ quên. Nuốt viên nén hoặc viên nang có nguy cơ xâm nhập đường thở và hít sặc cao hơn nhiều so với thức ăn lỏng hay sệt. Kích thước viên thuốc, lớp bao phim và khiếm khuyết cơ học ảnh hưởng lớn đến độ an toàn, đòi hỏi phải có quy trình đánh giá nuốt thuốc riêng biệt.22,23
  7. Đánh giá cảm giác vùng hầu họng và đo áp lực nuốt bằng ống đo áp lực độ phân giải cao (HRPM) giúp phát hiện tình trạng mất cảm giác thanh quản và rối loạn giãn cơ thắt thực quản trên (UES) — những yếu tố nguy cơ hàng đầu gây hít sặc ở bệnh nhân đột quỵ thân não và hành não.9,24,26,27,30–32
  8. Thực hiện sớm VFSS hoặc FEES trong 4 ngày đầu hoặc trong 24 giờ sau rút ống giúp giảm nguy cơ viêm phổi và đẩy nhanh tiến độ nuôi ăn an toàn.13,16,33–35
  9. Tái đánh giá nuốt có cấu trúc trong 3 tháng đầu giúp định hướng thời điểm rút ống thông dạ dày kịp thời, tránh phụ thuộc nuôi ăn qua ống kéo dài và mở rộng chế độ ăn đường miệng.36–38
  10. Trị liệu nuốt hành vi bao gồm các bài tập nuốt gắng sức (effortful swallow), gập cằm kháng lực (CTAR), bài tập mở hàm và nâng thanh quản - xương móng giúp tăng cường sức mạnh cơ lưỡi và nâng cao tính an toàn của động tác nuốt.39,40,42,44,45,52
  11. Điều khiển sinh học phản hồi (Biofeedback) qua điện cơ bề mặt (sEMG) hoặc phản hồi hình ảnh động học giúp bệnh nhân học và thực hiện chính xác các thao tác nuốt phức tạp, mang lại hiệu quả vượt trội so với chỉ tập thông thường.61,63–65,67,87
  12. Kích thích điện vùng hầu (PES) giúp phục hồi các đường dẫn truyền cảm giác - vận động hầu họng, nâng cao tính an toàn khi nuốt và giảm nguy cơ thất bại sau rút ống nội khí quản ở bệnh nhân thở máy.68–72
  13. Kích thích điện thần kinh cơ (NMES) vùng cổ cho kết quả biến thiên giữa các nghiên cứu, phụ thuộc nhiều vào vị trí đặt điện cực và thông số kích thích, do đó cần được cá nhân hóa cẩn trọng.73–76
  14. Kiểm soát chảy dãi (Sialorrhea): Nhỏ giọt atropine dưới lưỡi hoặc tiêm botulinum toxin type A vào tuyến mang tai và tuyến dưới hàm dưới hướng dẫn siêu âm giúp giảm tiết nước bọt hiệu quả và an toàn.85,86
  15. Hỗ trợ dinh dưỡng sớm trong giai đoạn cấp giúp cải thiện tiên lượng sống, giảm biến chứng nhiễm trùng và ổn định chuyển hóa.87–92
  16. Dinh dưỡng đầy đủ và liên tục trong giai đoạn bán cấp và mạn tính hỗ trợ đắc lực cho sự hồi phục chức năng toàn thân và cải thiện phản xạ nuốt.93–95
  17. Mở dạ dày ra da qua nội soi (PEG) vượt trội hơn so với đặt ống thông mũi - dạ dày (NG) kéo dài ở những bệnh nhân khó nuốt nặng mạn tính, giúp giảm nguy cơ tuột ống, giảm trào ngược và giảm viêm phổi hít.96–99
  18. Các phương pháp nuôi ăn thay thế ngắn hạn như đặt ống thông mũi - hỗng tràng hoặc nuôi ăn ngắt quãng qua ống miệng - thực quản giúp giảm ứ trệ dạ dày, giảm lo âu và cải thiện mức độ hài lòng của người bệnh so với ống thông NG liên tục.100–103

Khoảng trống nghiên cứu và hướng Nghiên cứu tương lai

  • Cần nghiên cứu so sánh trực tiếp hiệu năng của các công cụ sàng lọc nuốt trong nhiều môi trường lâm sàng khác nhau (khoa cấp cứu, đơn vị đột quỵ, phục hồi chức năng).
  • VFSS và FEES hiện là hai phương pháp bổ trợ nhau, chưa có sự đồng thuận tuyệt đối về việc phương pháp nào là vượt trội hơn ở từng nhóm bệnh cảnh cụ thể.
  • Cần xác định các thông số kích thích, vị trí đặt điện cực và chỉ định tối ưu cho liệu pháp kích thích điện thần kinh cơ (NMES) và kích thích điện hầu (PES).
  • Cần các thử nghiệm ngẫu nhiên đối chứng chất lượng cao so sánh lợi ích lâu dài của PEG so với ống thông hỗng tràng hoặc nuôi ăn ngắt quãng qua đường miệng - thực quản.
  • Cần thêm các nghiên cứu dài hạn về tiến trình tự nhiên của rối loạn nuốt sau 6 đến 12 tháng và phát triển các mô hình dự báo phục hồi.104
  • Các kỹ thuật kích thích não không xâm lấn (rTMS, tDCS) bước đầu cho kết quả hứa hẹn đối với rối loạn nuốt nhưng hiện chưa được FDA cấp chỉ định chính thức.105,106

6. NHẬN THỨC VÀ GIAO TIẾP

6.1. Các liệu pháp không dùng thuốc cho suy giảm nhận thức, bao gồm cả suy giảm trí nhớ

Khuyến cáo về các can thiệp không dùng thuốc cho tình trạng suy giảm nhận thức, bao gồm suy giảm trí nhớ
Các nghiên cứu trích dẫn hỗ trợ cho khuyến cáo được tóm tắt trong phần tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Nội dung khuyến cáo
1 B-R 1. Đối với người bệnh đột quỵ bị suy giảm nhận thức, các chương trình huấn luyện nhận thức có sự hỗ trợ của công nghệ, được giám sát chuyên môn, đạt cường độ từ trung bình đến cao, được thiết kế riêng biệt và có khả năng tự điều chỉnh thích ứng theo năng lực của người bệnh được khuyến nghị nhằm cải thiện nhận thức tổng thể, khả năng chú ý và trí nhớ làm việc.1–9
2a B-R 2. Đối với người bệnh đột quỵ bị suy giảm nhận thức, việc kết hợp giữa huấn luyện nhận thức và hoạt động thể chất là hợp lý để nâng cao nhận thức tổng thể, trí nhớ làm việc và khả năng nhớ lại sau một khoảng thời gian.10–16
2a C-LD 3. Đối với người bệnh đột quỵ có suy giảm nhận thức, việc thực hiện phục hồi chức năng lồng ghép các hoạt động sinh hoạt hàng ngày tập trung vào nhận thức và phù hợp với bối cảnh thực tế là hợp lý nhằm cải thiện nhận thức tổng thể, trí nhớ làm việc và các chức năng điều hành.17,18
2b B-R 4. Đối với người bệnh đột quỵ có suy giảm nhận thức, việc áp dụng phương pháp huấn luyện tích hợp nhận thức - vận động có thể là giải pháp hợp lý để cải thiện nhận thức tổng thể và trí nhớ làm việc.19–23

Tóm lược tổng quan

Ở những bệnh nhân đột quỵ bị suy giảm nhận thức hoặc trí nhớ, phương pháp huấn luyện nhận thức có công nghệ hỗ trợ—được giám sát, đạt cường độ từ trung bình đến cao, được điều chỉnh theo từng lĩnh vực khiếm khuyết hoặc có khả năng thích ứng linh hoạt theo tiến trình hồi phục—mang lại hiệu quả vượt trội so với các bài tập nhận thức truyền thống bằng giấy bút trong việc cải thiện nhận thức tổng thể (được đánh giá bằng các bộ công cụ ngắn gọn đa lĩnh vực), khả năng chú ý và trí nhớ làm việc.24–32 Việc ứng dụng các công nghệ này vào các bài tập mô phỏng đời sống thực tế hay các bài tập nhận thức truyền thống đều cho kết quả tương đương, nhưng thời lượng huấn luyện có thể đóng vai trò quyết định.33,29

Người chăm sóc hoàn toàn có thể triển khai huấn luyện nhận thức một cách khả thi, bằng hình thức trực tiếp hoặc thông qua phục hồi chức năng từ xa.34–37 Việc kết hợp huấn luyện nhận thức với hoạt động thể chất ở bất kỳ cường độ nào (thực hiện đồng thời hoặc nối tiếp nhau) có thể mang lại hiệu quả cao hơn so với chỉ tập thể chất đơn thuần trong việc cải thiện nhận thức toàn diện, trí nhớ làm việc và khả năng nhớ lại sau thời gian trì hoãn.38–44 Thêm vào đó, chương trình huấn luyện tích hợp nhận thức - vận động cho thấy tiềm năng nâng cao nhận thức tổng thể và trí nhớ làm việc.23,45–48

Hơn nữa, các chương trình phục hồi chức năng tích hợp hoạt động sinh hoạt hàng ngày (ADL) tập trung vào nhận thức và gắn liền với ngữ cảnh không chỉ giúp bệnh nhân gia tăng tính tự lập trong cuộc sống mà còn cho thấy triển vọng cải thiện nhận thức tổng thể, trí nhớ làm việc và chức năng điều hành trong các mẫu nghiên cứu quy mô nhỏ ở bệnh nhân đột quỵ bán cấp.49,50 Tuy nhiên, lợi ích này ở bệnh nhân đột quỵ mạn tính vẫn chưa được xác định rõ ràng. Việc huấn luyện kỹ năng ghi nhớ theo nhóm có thể hỗ trợ bệnh nhân tiếp thu các chiến lược bù trừ để phục vụ trí nhớ trong các hoạt động thường ngày, song tác động lên trí nhớ ngắn hạn hoặc dài hạn (được đo lường qua tự báo cáo hoặc trắc nghiệm tâm lý thần kinh) vẫn còn chưa chắc chắn.51–53

Văn bản bổ trợ chi tiết cho từng khuyến cáo

  1. Hai tổng quan hệ thống kèm phân tích gộp24,25 cùng nhiều thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (RCT)26–32 đã cung cấp bằng chứng nhất quán và vững chắc khẳng định tính ưu việt của phương pháp huấn luyện nhận thức có công nghệ hỗ trợ so với phương pháp truyền thống (như dùng giấy bút) trong việc cải thiện nhận thức tổng thể, sự chú ý và trí nhớ làm việc. Điểm mấu chốt là chương trình huấn luyện công nghệ cần có sự giám sát, cường độ từ trung bình đến cao, và được cá nhân hóa hoặc thích ứng theo tiến độ. Các hình thức hỗ trợ bao gồm phần mềm máy tính, trò chơi tương tác và môi trường thực tế ảo (VR).
  2. Hai nghiên cứu RCT báo cáo rằng việc kết hợp huấn luyện nhận thức với hoạt động thể chất (dù thực hiện đồng thời hay tuần tự) giúp cải thiện khả năng chú ý, trí nhớ làm việc và chức năng điều hành vượt trội hơn so với chỉ rèn luyện thể chất đơn thuần.38,39 Vai trò của cường độ can thiệp trong mô hình kết hợp này vẫn chưa thực sự rõ ràng. Một số RCT quy mô mẫu nhỏ gợi ý rằng kết hợp huấn luyện nhận thức với bài tập aerobic cường độ trung bình đến mạnh mang lại kết quả tốt hơn so với kết hợp bài tập nhận thức và thể chất cường độ nhẹ.40–42 Tuy nhiên, 2 nghiên cứu RCT với cỡ mẫu lớn hơn lại không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai mức cường độ này trên bệnh nhân đột quỵ mạn tính.43,44
  3. Hai nghiên cứu RCT đã so sánh phương pháp phục hồi chức năng sử dụng các hoạt động thường ngày tập trung vào nhận thức và gắn liền bối cảnh với phương pháp phục hồi chức năng truyền thống trên bệnh nhân đột quỵ giai đoạn bán cấp sớm và muộn. Cả hai thử nghiệm đều có những hạn chế nhất định về thiết kế có thể ảnh hưởng đến khả năng khái quát hóa kết quả (như cỡ mẫu nhỏ, nhận thức chỉ được đo lường bằng công cụ kém nhạy hoặc là kết cục phụ, dữ liệu bị thiếu). Dẫu vậy, cả hai công trình đều ghi nhận sự cải thiện nhận thức vượt trội, trong đó một nghiên cứu báo cáo cải thiện nhận thức tổng thể và trí nhớ làm việc, và cả hai đều ghi nhận cải thiện chức năng điều hành.49,50
  4. Một tổng quan hệ thống và phân tích gộp trên 24 nghiên cứu (\(n = 889\) bệnh nhân đột quỵ bán cấp) cho thấy huấn luyện thị giác - vận động mang lại hiệu quả vượt trội ở mức độ nhỏ nhưng có ý nghĩa thống kê đối với nhận thức tổng thể và trí nhớ làm việc so với việc không tập thị giác - vận động hoặc không can thiệp.45 Ngoài ra, 4 nghiên cứu RCT chất lượng trung bình đã đánh giá chương trình huấn luyện tích hợp nhận thức - vận động thông qua các bài tập thách thức đồng thời năng lực nhận thức và khả năng kiểm soát vận động chủ ý (chẳng hạn như vỗ tay và dậm chân theo nhịp,23 nắm và di chuyển đồ vật đến vị trí chỉ định trên màn hình LCD,47 làm bài tập nhận thức khi đang giữ thăng bằng,46 hoặc bước chân kết hợp trò chơi vi tính hóa48). Các thử nghiệm này đều chỉ ra rằng việc kết hợp nhận thức - vận động giúp cải thiện nhận thức tổng thể và trí nhớ làm việc tốt hơn so với chỉ luyện tập vận động đơn thuần hoặc không tập. Tổng hòa các nghiên cứu cho thấy việc lồng ghép các mục tiêu đòi hỏi nhận thức cao trong khi tập trung vào các vận động thị giác, chi hoặc toàn thân đem lại nhiều triển vọng cải thiện các khía cạnh nhận thức chuyên biệt.

Khoảng trống nghiên cứu và Định hướng nghiên cứu tương lai

  • Nhiều biện pháp can thiệp không dùng thuốc khác đã được nghiên cứu nhưng hiện còn thiếu các thử nghiệm RCT quy mô lớn, thiết kế chặt chẽ, có sử dụng các bộ công cụ đo lường nhận thức chính xác, nhạy bén (xem mục 4.4) và áp dụng phương pháp phân tích thống kê chuẩn mực để đưa ra khuyến cáo lâm sàng xác đáng. Hiện nay, các thang điểm sàng lọc ngắn đa lĩnh vực (như MMSE, MoCA) thường được dùng làm thước đo kết cục trong các thử nghiệm, mặc dù chúng bộc lộ nhiều hạn chế trong việc ghi nhận những thay đổi thực chất về nhận thức và trí nhớ. Các can thiệp này bao gồm:
    • Ở bệnh nhân đột quỵ cấp, dữ liệu sơ bộ cho thấy liệu pháp thở áp lực dương liên tục (CPAP) có thể liên quan đến kết quả nhận thức tốt hơn so với không điều trị;54–57 tuy nhiên, cỡ mẫu nhỏ và hạn chế trong thiết kế nghiên cứu chưa cho phép đưa ra kết luận chắc chắn.
    • Các bài tập dưỡng sinh truyền thống của Trung Quốc như Bát đoạn cẩm (Baduanjin) và Thái cực quyền (Tai chi) có thể giúp cải thiện khả năng chú ý, trí nhớ làm việc, chức năng điều hành và trí nhớ trễ trong ngắn hạn; tuy nhiên, tính bền vững của các cải thiện này sau khi dừng luyện tập vẫn chưa rõ.58,59
    • Điện châm vùng đầu (Scalp acupuncture) với tần suất cao (5–6 buổi/tuần trong 8–12 tuần) có thể mang lại những cải thiện nhỏ về nhận thức tổng thể và trí nhớ ngắn/dài hạn sau đột quỵ;60–62 dẫu vậy, ý nghĩa lâm sàng thực tế và những hạn chế về thước đo kết cục đòi hỏi phải có thêm nhiều nghiên cứu sâu hơn.
    • Liệu pháp chánh niệm (Mindfulness) có thể liên quan đến sự cải thiện khả năng chú ý và trí nhớ làm việc sau đột quỵ, nhưng bằng chứng hiện tại vẫn chưa đủ rõ nét.63
    • Nghe nhạc có lời có thể giúp cải thiện trí nhớ ngôn ngữ và khả năng diễn đạt.64 Động tác gõ nhịp bằng tay và chân trong khi nghe nhạc có thể cải thiện trí nhớ làm việc.23 Dù vậy, lợi ích của âm nhạc đối với trí nhớ làm việc cần được kiểm chứng qua các nghiên cứu lớn và thiết kế chuẩn hóa hơn.
    • Cho đến nay, chưa có phát hiện mang tính kết luận nào về vai trò của chế độ ăn uống hoặc thực phẩm bổ sung trong việc phục hồi nhận thức hay trí nhớ sau đột quỵ.65
    • Các thiết bị công nghệ hỗ trợ từ đơn giản đến phức tạp đã được nghiên cứu rộng rãi trên bệnh nhân tổn thương não mắc phải như một chiến lược bù trừ cho sinh hoạt hàng ngày; tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân đột quỵ tham gia các nghiên cứu này còn thấp (<50%).66 Các công trình tập trung vào đột quỵ chủ yếu mới dừng lại ở tính khả thi và trải nghiệm người dùng, do đó cần thêm nghiên cứu đánh giá hiệu quả thực tế.
    • Nhiều nghiên cứu đã khảo sát các kỹ thuật kích thích não không xâm lấn (như tDCS, rTMS, kích thích cụm theta ngắt quãng - iTBS) hoặc phản hồi thần kinh (neurofeedback) kết hợp với huấn luyện nhận thức; tuy nhiên, hiện chưa có phương pháp nào được FDA phê duyệt chính thức cho chỉ định phục hồi nhận thức hoặc trí nhớ sau đột quỵ.

6.2. Rối loạn giao tiếp mắc phải (Acquired Communication Disorders)

Khuyến cáo về Rối loạn Giao tiếp Mắc phải
Các nghiên cứu hỗ trợ được tóm tắt trong phần tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Nội dung khuyến cáo
Rối loạn ngữ dụng học (Apragmatism)
2a B-NR 1. Đối với người bệnh đột quỵ bị mất dụng ngữ (apragmatism), việc chuyển tuyến đến chuyên viên âm ngữ trị liệu là hợp lý nhằm thúc đẩy khả năng giao tiếp phục hồi hoặc bù trừ liên quan đến ngữ điệu, hiểu ngôn ngữ và sử dụng ngôn ngữ trong ngữ cảnh.1–5
Mất ngôn ngữ / Thất ngôn (Aphasia)
1 A 2. Đối với người bệnh đột quỵ bị thất ngôn, cần triển khai đa dạng các phương pháp can thiệp ngôn ngữ và lời nói để tạo thuận cho việc phục hồi hoặc bù trừ chức năng giao tiếp.6–17
1 B-NR 3. Đối với người bệnh đột quỵ có thất ngôn, khuyến cáo thực hiện đào tạo giao tiếp có hỗ trợ cho đối tác giao tiếp như một biện pháp bổ trợ trị liệu nhằm nâng cao các kỹ năng tạo thuận lợi, giúp cải thiện năng lực giao tiếp của người bệnh.18–21
2a B-R 4. Đối với người bệnh đột quỵ bị thất ngôn, việc áp dụng các phác đồ điều trị thất ngôn cường độ cao có thể hữu ích trong việc hỗ trợ phục hồi hoặc bù trừ giao tiếp.22–31
2a A 5. Đối với người bệnh đột quỵ bị thất ngôn, việc sử dụng phục hồi chức năng từ xa (telerehabilitation) là giải pháp hợp lý khi việc can thiệp trực tiếp không thể thực hiện được hoặc thiếu tính khả thi, nhằm đảm bảo người bệnh tiếp cận được dịch vụ âm ngữ trị liệu chuyên sâu.32–37
2b B-R 6. Đối với người bệnh đột quỵ bị thất ngôn, có thể cân nhắc các chương trình điều trị trên máy tính để bổ trợ cho các liệu pháp thất ngôn truyền thống do chuyên viên âm ngữ đảm trách, được thiết kế nhằm cung cấp liệu pháp phục hồi hoặc bù trừ từ xa.38–43
2b B-NR 7. Đối với người bệnh đột quỵ bị thất ngôn, có thể xem xét can thiệp nhóm (ví dụ: các nhóm trị liệu dựa vào cộng đồng) để hỗ trợ phục hồi, bù trừ và nâng cao kỹ năng giao tiếp tương tác giữa các cá nhân.44
Suy giảm thính lực (Hearing Loss)
1 B-NR 8. Đối với bệnh nhân đột quỵ có suy giảm thính lực, việc chuyển tuyến đến chuyên gia thính học để đánh giá sức nghe và xử lý thính giác được chỉ định nhằm phân tích và giảm thiểu các tác động tiêu cực của tình trạng suy giảm thính lực.45–47
2a B-NR 9. Đối với người bệnh đột quỵ bị suy giảm thính lực, việc sử dụng các thiết bị khuếch đại âm thanh (như máy trợ thính) cùng các chiến lược tạo thuận giao tiếp (như giảm thiểu tiếng ồn môi trường, duy trì tư thế đối diện trực tiếp khi nói chuyện) là hợp lý để giảm thiểu ảnh hưởng của tình trạng mất thính lực.48,49

Tóm lược tổng quan

Các rối loạn giao tiếp có nguồn gốc thần kinh mắc phải ảnh hưởng đến ít nhất 30% bệnh nhân sống sót sau đột quỵ, biểu hiện chủ yếu qua chứng mất ngôn ngữ (thất ngôn - aphasia) và mất dụng ngữ (apragmatism).4,50 Y văn tổng quan về điều trị thất ngôn bao gồm 9 thử nghiệm RCT,16,25,29,31,33,34,38,41,42,44 4 tổng quan hệ thống,6,30,31,40 2 tổng quan tường thuật/bằng chứng,35,43 1 tổng quan Cochrane,37 7 tổng quan hệ thống kèm phân tích gộp,8–10,12,13,28,32,36 và 7 nghiên cứu quan sát hoặc không ngẫu nhiên.7,11,15,26,39,51 Các phương pháp can thiệp mang lại kết quả tích cực bao gồm: tiếp cận âm vị học hoặc vận động âm (phonomotor),11,16,51 trị liệu đa phương thức,25 ngữ điệu trị liệu và âm nhạc trị liệu,8,10,12,32 trị liệu nhóm,44 cùng các liệu pháp tự quản lý/vi tính hóa.7,11,25,41,43

Hiện chưa có định nghĩa thống nhất tuyệt đối về "điều trị cường độ cao", nhưng thông thường mức này tương đương với \(\ge 5\) giờ âm ngữ trị liệu mỗi tuần. Các nghiên cứu chỉ ra một cách nhất quán rằng phục hồi chức năng từ xa có thể được ứng dụng hiệu quả trong điều trị thất ngôn, đặc biệt là khi các can thiệp trực tiếp không thể đáp ứng.32–34,36,43 Những tiến bộ khoa học hiện tại phần lớn vẫn tập trung vào điều trị thất ngôn sau đột quỵ bán cầu não trái, trong khi các rối loạn giao tiếp sau đột quỵ bán cầu phải ít được chú ý hơn. Mất dụng ngữ (apragmatism) là một thuật ngữ mới được công nhận nhằm mô tả các rối loạn ngôn ngữ ngữ dụng mắc phải chủ yếu liên quan đến tổn thương bán cầu phải.2 Nghiên cứu điều trị mất dụng ngữ hiện vẫn đang ở giai đoạn sơ khởi so với thất ngôn. Tương tự như trong khâu đánh giá, nhân viên y tế cần cân nhắc kỹ lưỡng tác động của tình trạng suy giảm nhận thức sau đột quỵ khi quản lý bệnh nhân thất ngôn hoặc mất dụng ngữ.52 Cuối cùng, tình trạng suy giảm thính lực sau đột quỵ hoàn toàn có thể xảy ra và những ảnh hưởng của nó lên giao tiếp cần phải được xem xét thấu đáo.47

Văn bản bổ trợ chi tiết cho từng khuyến cáo

  1. Mất dụng ngữ (apragmatism) được định nghĩa về mặt thực hành là một rối loạn ngôn ngữ mắc phải gây khó khăn trong việc thấu hiểu và truyền đạt ý nghĩa hoặc chủ đích của các yếu tố phi ngôn ngữ (như cử chỉ, nét mặt, biến điệu giọng nói) cũng như ngôn ngữ lời nói trong một ngữ cảnh cụ thể. Tình trạng này chủ yếu liên quan đến đột quỵ bán cầu phải. Gần đây, các chuyên gia đang nỗ lực thiết lập một mã ICD-10-CM riêng biệt cho hội chứng này, bởi mã rối loạn giao tiếp - nhận thức thông thường không phản ánh được các khiếm khuyết ngữ dụng học đặc thù. Một mã chẩn đoán chuẩn xác sẽ thúc đẩy việc chuyển tuyến lâm sàng và tạo động lực phát triển các liệu pháp can thiệp chuyên biệt, đặc biệt trong bối cảnh các nghiên cứu về điều trị mất dụng ngữ vẫn còn rất mới mẻ.2,5 Hiệp hội Nghe - Nói - Ngôn ngữ Hoa Kỳ (ASHA) đề xuất cách tiếp cận lấy người bệnh làm trung tâm để xây dựng các phác đồ phục hồi, bù trừ hoặc kết hợp, đồng thời nâng cao nhận thức về sự lệch chuẩn ngôn ngữ trong nhiều ngữ cảnh giao tiếp khác nhau.40,53 Tuy nhiên, việc điều trị hiện nay phần lớn vẫn chỉ tập trung vào cải thiện nhận thức và hội chứng bỏ quên nửa không gian.54 Một nghiên cứu can thiệp đơn lẻ đã phác thảo phương pháp tiếp cận rõ ràng nhằm huấn luyện các khía cạnh biểu cảm cảm xúc của ngôn ngữ và ý nghĩa của chúng.3
  2. Nhiều phương pháp điều trị cho bệnh nhân thất ngôn đã được chứng minh tính hiệu quả. Tổng quan Cochrane năm 2016 cung cấp bằng chứng mạnh mẽ cho thấy can thiệp thất ngôn sau đột quỵ giúp cải thiện giao tiếp chức năng, kỹ năng đọc, viết và ngôn ngữ diễn đạt.17 Các liệu pháp tập trung vào âm vị học hoặc vận động âm,11,16,51 can thiệp đa phương thức,25 cùng phương pháp ngữ điệu và âm nhạc trị liệu8–10,12,32 đều đem lại kết quả tích cực. Các liệu pháp nhắm vào từng khía cạnh ngôn ngữ chuyên biệt bao gồm phân tích đặc điểm ngữ nghĩa (SFA)55 và củng cố mạng lưới động từ (VNeST).56 Nghiên cứu và thực hành lâm sàng liên tục nhấn mạnh yêu cầu phải cá nhân hóa can thiệp theo định hướng lấy người bệnh làm trung tâm, đáp ứng đúng nhu cầu cụ thể nhằm nâng cao không chỉ sự hồi phục ngôn ngữ mà còn đảm bảo giao tiếp chức năng thành công, hiệu quả trong nhiều hoàn cảnh thực tế.57
  3. Việc đào tạo cho đối tác giao tiếp (communication partner training) mang lại lợi ích đã được xác lập rõ ràng ở người bệnh thất ngôn, mặc dù quy trình triển khai còn có sự khác biệt giữa các cơ sở. Đối tác giao tiếp đóng vai trò đặc biệt quan trọng giúp người bệnh tiếp cận giao tiếp, giảm bớt sự cô lập xã hội và xua tan cảm giác bất lực do mất đi sự độc lập trong giao tiếp. Sự đồng hành của các đối tác được tập huấn cũng làm giảm nguy cơ người bệnh bị đánh giá thấp về năng lực. Đối với cả người nhà và nhân viên y tế, việc đào tạo thành công sẽ giúp củng cố sự tự tin, giúp nhận thức đúng đắn giá trị của người thân, đồng thời thấu hiểu sâu sắc năng lực thực tế cũng như các rối loạn ngôn ngữ và nhận thức đi kèm của người bệnh.19,58 Các bác sĩ lâm sàng cần lưu ý rằng những thay đổi gần đây trong chính sách chi trả bảo hiểm đang tạo nhiều điều kiện thuận lợi hơn để triển khai công tác đào tạo đối tác giao tiếp.58a
  4. Trị liệu thất ngôn trên máy vi tính không ngừng phát triển song hành với các tiến bộ công nghệ. Khả năng tự thực hiện của các chương trình vi tính hóa giúp người bệnh tiếp cận điều trị dễ dàng hơn, dù đóng vai trò là liệu pháp chính hay bổ trợ cho việc trị liệu trực tiếp. Phương thức này mang đến lựa chọn can thiệp cường độ cao với chi phí hợp lý, vượt ra ngoài khuôn khổ các can thiệp hành vi truyền thống. Các bài tập trên máy tính chủ yếu nhắm vào các kỹ năng cụ thể như gọi tên hoặc tìm từ, nhưng có hạn chế về khả năng phản hồi trực tiếp cũng như sự linh hoạt trong việc điều chỉnh độ khó, độ phức tạp và tính chuyên biệt vốn là thế mạnh của các chuyên viên âm ngữ trị liệu. Các tổng quan y văn gần đây khẳng định can thiệp máy tính hoàn toàn có thể triển khai hiệu quả tại phòng khám hoặc tại nhà thông qua máy vi tính, máy tính bảng và các thiết bị thông minh khác.40
  5. Phục hồi chức năng từ xa trong quản lý thất ngôn đã phát triển vượt bậc trong đại dịch COVID-19. Các nghiên cứu chứng minh một cách nhất quán rằng can thiệp từ xa có thể ứng dụng hiệu quả khi không thể điều trị trực tiếp hoặc dùng để bổ trợ nhằm tăng cường độ trị liệu.22,34,36,43 Dù mang tính tạm thời, việc các bên bảo hiểm chi trả cho phục hồi chức năng từ xa trong đại dịch đã mang lại nhiều hiểu biết sâu sắc về tính hữu dụng, hiệu quả cũng như mức độ hài lòng của người bệnh. Sự mở rộng chi trả này đã gia tăng đáng kể tính sẵn có của dịch vụ. Các nghiên cứu tương lai cần xác định các tình huống lý tưởng nhất để áp dụng phục hồi chức năng từ xa cho bệnh nhân thất ngôn, làm cơ sở cho các hoạt động vận động chính sách nhằm duy trì cơ chế thanh toán bền vững.59
  6. Điều trị thất ngôn cường độ cao cung cấp cho người bệnh một lượng lớn các buổi trị liệu tập trung, thường diễn ra trong khoảng thời gian ngắn hơn, nhằm thúc đẩy quá trình hồi phục ngôn ngữ và nâng cao năng lực giao tiếp toàn diện.6,23,26,29,31 Các chuyên gia đầu ngành khuyến nghị người bệnh thất ngôn cần được tiếp cận các can thiệp "cường độ cao và cá nhân hóa" để tối ưu hóa khả năng giao tiếp.18 Dù nhiều nghiên cứu chứng minh kết quả khả quan (đặc biệt là giao tiếp chức năng tổng thể), mức cường độ lý tưởng và phương thức tiếp cận cụ thể cho phác đồ cường độ cao vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn.34 Dữ liệu thu thập từ 448 bệnh nhân tại Đức giai đoạn 2003–2020 đã mang lại cái nhìn sâu sắc về cách ứng dụng trị liệu cường độ cao trong thực hành thường quy, ghi nhận sự cải thiện ở cả các giai đoạn bán cấp sớm, bán cấp muộn và mạn tính.18 Phân tích chỉ ra rằng thời gian từ khi khởi phát đột quỵ, tổng liều trị liệu và mức độ nghiêm trọng của thất ngôn ban đầu là những yếu tố dự báo quan trọng cho kết quả hồi phục.23
  7. Trị liệu nhóm trong nhiều bối cảnh khác nhau đã chứng minh khả năng cải thiện giao tiếp chức năng và sự hòa nhập cộng đồng.60 Liệu pháp nhóm mang lại nhiều giá trị vượt ra ngoài sự hồi phục ngôn ngữ đơn thuần, bao gồm tăng cường tương tác xã hội và tạo cơ hội gia tăng cường độ điều trị với chi phí thấp hơn.44 Quy mô và định hướng trọng tâm của các nhóm can thiệp có thể rất linh hoạt tùy thuộc vào mục tiêu lâm sàng.
  8. Suy giảm thính lực sau đột quỵ có thể ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của chức năng thính giác và có mối liên hệ mật thiết với các rối loạn dáng đi và thăng bằng.47 Một số bệnh nhân trải qua tình trạng điếc đột ngột sau đột quỵ. Đến nay, có rất ít nghiên cứu đi sâu tìm hiểu mối tương quan giữa suy giảm thính lực và các rối loạn giao tiếp sau đột quỵ. Do đó, sự tác động qua lại giữa rối loạn thính giác và tổn thương ngôn ngữ/giao tiếp vẫn chưa được đánh giá đúng mức, dù việc suy giảm khả năng xử lý thính giác rất thường song hành với các khiếm khuyết ngôn ngữ truyền thống. Thậm chí, một số quan điểm cho rằng mất thính lực đột ngột có thể là dấu hiệu báo trước đột quỵ; vì vậy, các bác sĩ điều trị nên cân nhắc sàng lọc và đánh giá thính lực cho toàn bộ bệnh nhân đột quỵ.61
  9. Những tác động tiêu cực của suy giảm thính lực lên giao tiếp và phục hồi chức năng hàng ngày có thể được giảm thiểu thông qua việc khuếch đại âm thanh bằng máy trợ thính được hiệu chỉnh phù hợp và các giải pháp phục hồi thính giác khác.62,63 Trong không gian có nhiều người cùng giao tiếp, các can thiệp điều chỉnh môi trường như giảm tiếng ồn nền (ví dụ: tắt tivi, đài phát thanh hoặc chuyển sang phòng yên tĩnh) sẽ giúp người bệnh nghe và tương tác tốt hơn.64 Các chiến lược giao tiếp khác bao gồm: duy trì tư thế ngồi đối mặt, đảm bảo đủ ánh sáng, tối ưu hóa các gợi ý thị giác (như cử động môi, nét mặt) cũng mang lại sự hỗ trợ thiết thực cho bệnh nhân khiếm thính sau đột quỵ.65

Khoảng trống nghiên cứu và Định hướng nghiên cứu tương lai

  • Một khối lượng lớn nghiên cứu đã xuất hiện liên quan đến việc ứng dụng kích thích thần kinh,51,66–84 châm cứu,85–93 liệu pháp nhận thức - hành vi (CBT),94,95 điều trị bằng thuốc,96,97 và trí tuệ nhân tạo (AI)/thực tế ảo (VR).42,98–103 Các tài liệu hiện tại cho thấy kích thích thần kinh giúp thúc đẩy hồi phục thất ngôn, nâng cao năng lực giao tiếp và cải thiện tâm trạng khi kết hợp với trị liệu hành vi truyền thống. Cần có thêm các nghiên cứu và hướng dẫn thực hành lâm sàng chuẩn mực để hỗ trợ việc tích hợp kích thích thần kinh và các liệu pháp thay thế nhằm bù đắp cho những khiếm khuyết ngôn ngữ/nhận thức đang làm suy giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân thất ngôn.
  • Cần nghiên cứu thêm để xác định rõ lợi ích và tác dụng không mong muốn của các liệu pháp dùng thuốc. Việc được FDA cấp phép chỉ định điều trị thất ngôn là điều kiện tiên quyết để thuốc được ứng dụng rộng rãi trên lâm sàng.
  • Cần nghiên cứu để xác định các phương pháp tối ưu trong việc đào tạo đối tác giao tiếp phù hợp với từng môi trường lâm sàng và cơ sở chăm sóc đột quỵ khác nhau.
  • Cần tiếp tục tìm hiểu các thực hành tốt nhất trong điều trị hội chứng mất dụng ngữ (apragmatism) sau đột quỵ bán cầu phải.
  • Cần làm rõ tầm ảnh hưởng và tác động của tình trạng mất thính lực đối với hiệu quả điều trị các rối loạn giao tiếp sau đột quỵ.

6.3. Rối loạn lời nói do vận động: Loạn vận ngôn và Mất dùng vận động lời nói (Motor Speech Disorders: Dysarthria and Apraxia of Speech)

Khuyến cáo về Rối loạn Lời nói do Vận động: Loạn vận ngôn và Mất dùng động tác lời nói
Các nghiên cứu hỗ trợ được tóm tắt trong tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Nội dung khuyến cáo
1 B-NR 1. Đối với người bệnh có rối loạn lời nói do vận động sau đột quỵ, các can thiệp hành vi về lời nói được khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp.1–5
1 B-R 2. Đối với người bệnh rối loạn lời nói do vận động sau đột quỵ, tập luyện hô hấp là biện pháp bổ trợ có lợi bên cạnh các can thiệp hành vi truyền thống nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp.6–9
1 C-LD 3. Đối với người bệnh có rối loạn lời nói vận động sau đột quỵ hoặc bệnh nhân đang mở khí quản tại chỗ, nên sử dụng các thiết bị và phương thức giao tiếp tăng cường và thay thế (AAC) để hỗ trợ cho lời nói, giúp tăng cường hiệu quả giao tiếp.10,11
2a B-NR 4. Đối với người bệnh có rối loạn lời nói vận động sau đột quỵ, các ứng dụng trên máy tính hoặc điện thoại thông minh có thể mang lại lợi ích như một biện pháp bổ trợ cho các can thiệp hành vi truyền thống để cải thiện hiệu quả giao tiếp.12–17
2a B-NR 5. Đối với người bệnh rối loạn lời nói vận động sau đột quỵ có kèm tình trạng giọng mũi hở (hypernasality), việc sử dụng khí cụ giả phục hình (prosthetics) có thể hữu ích để nâng cao hiệu quả giao tiếp.18
2b C-LD 6. Đối với người bệnh có rối loạn lời nói vận động sau đột quỵ, phục hồi chức năng từ xa có thể hữu ích khi việc can thiệp trực tiếp không thể thực hiện được hoặc thiếu tính khả thi, nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp.19,20
3: Không có lợi ích B-R 7. Đối với người bệnh rối loạn lời nói vận động sau đột quỵ, các bài tập vận động cơ quan phát âm không liên quan đến lời nói (NSOME) không phải là biện pháp bổ trợ hiệu quả cho các can thiệp hành vi truyền thống để cải thiện hiệu quả giao tiếp.21,22

Tóm lược tổng quan

Rối loạn lời nói do vận động, bao gồm loạn vận ngôn (dysarthria) và mất dùng vận động lời nói (apraxia of speech), là những biến chứng thường gặp sau đột quỵ. Tình trạng này bắt nguồn từ sự rối loạn trong các khâu hô hấp, phát âm, cấu âm, cộng hưởng và ngữ điệu, từ đó làm suy giảm độ rõ của lời nói, hiệu quả giao tiếp và khả năng hòa nhập xã hội của người bệnh. Liệu pháp hành vi về lời nói là phương pháp điều trị chính đã được bằng chứng khoa học chứng minh.23 Các tổng quan hệ thống chỉ ra rằng những can thiệp hành vi tập trung vào nhiệm vụ cụ thể có thể cải thiện độ rõ ràng của lời nói, độ chuẩn xác của cấu âm và sự phối hợp hô hấp - phát âm ở bệnh nhân loạn vận ngôn và mất dùng động tác lời nói.1–3,5

Các liệu pháp bổ trợ có thể gia tăng hiệu quả khi kết hợp với can thiệp hành vi. Luyện tập cơ hô hấp giúp củng cố luồng hơi và kiểm soát phát thanh, đem lại lợi ích rõ nét cho những bệnh nhân bị giảm lực thở hỗ trợ phát âm.6 Các chương trình rèn luyện nâng đỡ hơi thở có cấu trúc kết hợp với trị liệu truyền thống giúp giảm mức độ nghiêm trọng của loạn vận ngôn tốt hơn so với chỉ trị liệu truyền thống đơn thuần.7,9 Ngược lại, các bài tập vận động miệng không liên quan đến lời nói (NSOME) thiếu bằng chứng chứng minh lợi ích sau đột quỵ.21,22 Hiện vẫn chưa có sự đồng thuận về khối lượng luyện tập, tần suất phân bổ, mức độ biến đổi của bài tập cũng như loại hình, cường độ và thời điểm can thiệp tối ưu.

Đối với những người bị hạn chế khả năng phát âm tự nhiên, hệ thống giao tiếp tăng cường và thay thế (AAC)—từ các bảng giao tiếp đơn giản đến các thiết bị điện tử công nghệ cao—mang lại giải pháp bổ trợ hiệu quả và thúc đẩy sự tham gia xã hội.10,11,15 Trị liệu dựa trên công nghệ (gồm phần mềm máy tính, máy tính bảng và ứng dụng điện thoại) đã chứng minh tính khả thi và tiềm năng hiệu quả khi đóng vai trò bổ trợ cho trị liệu trực tiếp.13,14 Phục hồi chức năng từ xa giúp mở rộng khả năng tiếp cận và đảm bảo tính liên tục của quá trình điều trị, được xem là phương thức cung cấp dịch vụ phù hợp cho các rối loạn lời nói nguồn gốc thần kinh.19,20 Tổng hợp các biện pháp này tạo nên một khung can thiệp toàn diện, lấy người bệnh làm trung tâm để khôi phục giao tiếp chức năng cho người trưởng thành bị rối loạn lời nói sau đột quỵ.

Văn bản bổ trợ chi tiết cho từng khuyến cáo

  1. Trị liệu hành vi là nền tảng trong quản lý các rối loạn lời nói vận động sau đột quỵ, bao gồm cả loạn vận ngôn và mất dùng động tác lời nói. Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng các can thiệp hành vi có cấu trúc, đúng trọng tâm sẽ cải thiện trực tiếp độ rõ của lời nói, độ chính xác của cấu âm, sự điều hòa hô hấp - phát âm và khả năng giao tiếp chức năng. Đối với mất dùng động tác lời nói, các phương pháp động học - cấu âm cường độ cao như Liệu pháp Tạo Âm (Sound Production Treatment - SPT) đã chứng minh hiệu quả rõ rệt, dù kết quả phụ thuộc nhiều vào cấu trúc luyện tập và cường độ can thiệp.1,3 Can thiệp hành vi cho loạn vận ngôn mang lại tác động tích cực trên toàn bộ các hệ thống phụ trợ phát âm, đặc biệt khi lồng ghép các bài tập lời nói chuyên biệt với mục tiêu trị liệu rõ ràng.2,5 Huấn luyện hô hấp và phát thanh thông qua các chương trình hành vi bài bản giúp nâng đỡ cột hơi và cải thiện chất lượng giọng.6 Việc tích hợp các bài tập thở có cấu trúc mang tính văn hóa đặc thù như Lục Tự Quyết khí công (Liuzijue qigong) cũng chứng minh lợi ích khi kết hợp với trị liệu ngôn ngữ thông thường.7,9 Liệu pháp hành vi có công nghệ hỗ trợ (trên máy tính, máy tính bảng hoặc phần mềm tự luyện tập) giúp bệnh nhân dễ tiếp cận dịch vụ chuyên khoa hơn và bổ trợ đắc lực cho các buổi tập trực tiếp với chuyên viên.14,17
  2. Huấn luyện hô hấp là biện pháp bổ trợ quan trọng cho trị liệu lời nói truyền thống ở bệnh nhân loạn vận ngôn sau đột quỵ, đặc biệt trong trường hợp yếu cơ hô hấp hoặc suy giảm kiểm soát hơi thở làm giảm độ rõ và cường độ âm lượng của giọng nói. Trị liệu hành vi đơn thuần có thể cải thiện độ chính xác của cấu âm và khả năng kiểm soát phát âm, nhưng các khiếm khuyết hô hấp thường kìm hãm sự tiến bộ chức năng nếu không được can thiệp trực tiếp bằng các bài tập tăng cường cơ hô hấp hoặc nâng đỡ cột hơi. Những lợi ích ghi nhận được cho thấy việc tăng cường sức mạnh và sự phối hợp nhịp nhàng của hệ hô hấp sẽ nâng cao hiệu quả của các liệu pháp tập trung vào lời nói. Các thử nghiệm có đối chứng về Lục Tự Quyết khí công—một chuỗi bài tập thở và phát âm có quy chuẩn—chỉ ra rằng khi kết hợp với âm ngữ trị liệu truyền thống, bệnh nhân đạt được sự cải thiện vượt bậc về kiểm soát hô hấp, chất lượng giọng và giảm độ nặng của loạn vận ngôn so với chỉ tập thở tiêu chuẩn đơn thuần.7,9 Các phương pháp khác như phác đồ thở áp lực dương ngắt quãng có máy hỗ trợ (IPPB) cũng chứng minh tính khả thi và bước đầu cho thấy hiệu quả, mang đến một lựa chọn thay thế để củng cố hỗ trợ hô hấp ở người loạn vận ngôn.8
  3. Các thiết bị AAC cung cấp sự hỗ trợ thiết yếu cho người bệnh rối loạn lời nói vận động sau đột quỵ, đặc biệt khi tình trạng loạn vận ngôn hoặc mất dùng động tác lời nói làm suy giảm nghiêm trọng độ rõ hoặc sản lượng lời nói. Hệ thống AAC—từ các công cụ công nghệ thấp như bảng chữ cái/hình ảnh đến các thiết bị công nghệ cao có thể tùy biến—đóng vai trò là phương tiện bổ trợ quan trọng hoặc giải pháp thay thế tạm thời cho lời nói tự nhiên, giúp bệnh nhân bày tỏ nhu cầu, tham gia vào các quyết định chăm sóc và duy trì kết nối xã hội. Bằng chứng cho thấy công nghệ AAC giúp nâng cao đáng kể hiệu quả giao tiếp và mức độ gắn kết ở bệnh nhân có tổn thương vận động thần kinh nghiêm trọng. Cụ thể, hệ thống AAC có công nghệ hỗ trợ giúp tạo thuận cho giao tiếp, tham gia các hoạt động giải trí và củng cố quyền tự chủ ở những cá nhân bị hạn chế vận động nặng nề, khẳng định tiềm năng to lớn của AAC trong việc cải thiện sự hòa nhập và chất lượng cuộc sống.10 Các giải pháp AAC công nghệ thấp đặc biệt quan trọng trong môi trường chăm sóc cấp tính hoặc hồi sức tích cực (ICU), nơi mà sự mệt mỏi, bệnh cảnh phức tạp hoặc các rào cản môi trường cản trở việc tạo lời nói. Một tổng quan hệ thống phương pháp hỗn hợp nhận thấy các công cụ AAC công nghệ thấp đã cải thiện tỷ lệ giao tiếp thành công và trải nghiệm của bệnh nhân ICU, đồng thời được cả người bệnh lẫn nhân viên y tế đánh giá cao về tính dễ dùng và mức độ chấp nhận.11 Những phát hiện này nhấn mạnh tính thực tiễn và khả năng tiếp cận của AAC ngay từ giai đoạn sớm của quá trình phục hồi.
  4. Các ứng dụng trên máy tính và điện thoại thông minh ngày càng trở thành công cụ bổ trợ có giá trị cho trị liệu lời nói truyền thống, mang lại thêm nhiều cơ hội luyện tập, mở rộng khả năng tiếp cận và gia tăng cường độ can thiệp. Các nghiên cứu ban đầu về nền tảng e-learning trong âm ngữ trị liệu đã chứng minh tính khả thi trong việc ghi nhận những thay đổi về độ rõ lời nói ở từng cá nhân, nêu bật tiềm năng của các công cụ kỹ thuật số trong việc hỗ trợ luyện tập có cấu trúc, lặp đi lặp lại bên ngoài phòng khám.12 Dựa trên nền tảng đó, các chương trình phục hồi chức năng trên máy tính bảng đã cho thấy nhiều triển vọng trong việc cung cấp các bài tập giao tiếp ngay tại cơ sở chăm sóc cấp tính.13 Các công cụ số cũng được đánh giá cho từng rối loạn chuyên biệt: một thử nghiệm chéo ngẫu nhiên có đối chứng cho thấy việc tự luyện tập qua phần mềm máy tính giúp cải thiện khả năng tạo lời nói ở người bị mất dùng động tác lời nói, chứng minh rằng việc tự tập luyện độc lập với sự hỗ trợ của công nghệ có thể bổ sung hiệu quả cho quá trình trị liệu dưới sự hướng dẫn của chuyên viên.14,15
  5. Can thiệp bằng dụng cụ phục hình là một lựa chọn quan trọng để kiểm soát khiếm khuyết cơ màn hầu - hầu và tình trạng giọng mũi hở đi kèm ở người lớn bị loạn vận ngôn sau đột quỵ, đặc biệt khi liệu pháp hành vi đơn thuần không đủ sức cải thiện độ cộng hưởng âm thanh. Tổng quan hệ thống năm 2025 của Spencer và cộng sự đã tổng hợp toàn diện nhất cho đến nay về các phương pháp quản lý khí công Lục Tự Quyết ở người lớn có rối loạn lời nói thần kinh, đồng thời nhấn mạnh rằng các khí cụ chỉnh hình miệng như khí cụ nâng màn hầu (palatal lift) hoặc khí cụ bịt vòm hầu (palatal obturator) có thể cải thiện rõ rệt độ cộng hưởng và độ rõ lời nói ở các bệnh nhân được chỉ định phù hợp. Các dụng cụ này giúp nâng đỡ hoặc tái định vị màn hầu và cấu trúc vòm họng một cách cơ học, giảm bớt luồng khí thoát lên mũi quá mức khi nói và tăng cường chất lượng âm thanh phát ra.18
  6. Phục hồi chức năng từ xa đang ngày càng trở thành một phương thức cung cấp dịch vụ quan trọng trong âm ngữ trị liệu cho người trưởng thành bị rối loạn lời nói vận động sau đột quỵ, giúp mở rộng phạm vi tiếp cận dịch vụ chăm sóc trong khi vẫn đảm bảo chất lượng và tính liên tục của trị liệu. Bằng chứng tổng hợp ban đầu của Cherney và van Vuuren đã chứng minh rằng các can thiệp lời nói - ngôn ngữ qua thực hành từ xa (bao gồm hội chẩn truyền hình thời gian thực và hệ thống trị liệu ảo) có thể tạo ra những cải thiện đáng kể về khả năng phát âm, độ rõ lời nói và mức độ tham gia giao tiếp ở những người có rối loạn ngôn ngữ và lời nói thần kinh mắc phải. Tổng quan nhấn mạnh rằng phục hồi chức năng từ xa hỗ trợ duy trì cường độ điều trị cao, nâng cao tính tuân thủ thông qua việc tự tập tại nhà và cho phép theo dõi khả năng phát âm trong môi trường thực tế—điều mà các phòng khám khó có thể thực hiện.19 Các hướng dẫn chuyên môn hiện tại tiếp tục củng cố tính khả thi và sự chấp nhận đối với thực hành từ xa. Cổng thông tin Thực hành Từ xa của Hiệp hội ASHA khẳng định rằng cung cấp dịch vụ âm ngữ trị liệu từ xa được xem là phù hợp về mặt lâm sàng khi đáp ứng cùng các tiêu chuẩn chăm sóc như điều trị trực tiếp, với bằng chứng vững chắc ủng hộ việc ứng dụng cho người lớn bị loạn vận ngôn và mất dùng động tác lời nói. Nền tảng từ xa cho phép các chuyên viên triển khai liệu pháp hành vi, huấn luyện hô hấp, hỗ trợ AAC và giáo dục người chăm sóc từ xa, đảm bảo tính liên tục của quá trình chăm sóc cho những bệnh nhân bị hạn chế vận động, cách trở địa lý hoặc khó tiếp cận các dịch vụ chuyên sâu.20
  7. Các bài tập vận động cơ miệng không liên quan đến lời nói (NSOME)—như đảo lưỡi, kéo căng môi hoặc cử động hàm riêng lẻ—chưa từng được chứng minh là có thể cải thiện khả năng tạo lời nói ở người lớn bị rối loạn lời nói vận động sau đột quỵ. Những bài tập này chỉ nhằm vào sức mạnh hoặc cử động của cấu trúc mặt - miệng bên ngoài ngữ cảnh phát âm; các bằng chứng cho thấy chúng không mang lại tiến bộ thực chất nào về độ rõ lời nói, độ chuẩn xác cấu âm hay giao tiếp chức năng. Một tổng quan toàn diện dựa trên y học chứng cứ khẳng định không có cơ sở xác đáng nào ủng hộ việc áp dụng NSOME trong điều trị rối loạn lời nói; qua các nghiên cứu hiện có, sự cải thiện về lời nói là không đáng kể hoặc hoàn toàn không có, và bất kỳ sự tiến bộ nào cũng không thể quy kết cho bản thân các bài tập này. Các tác giả kết luận rằng lời nói là một kỹ năng vận động mang tính chuyên biệt hóa cao và gắn liền với nhiệm vụ, do đó các cử động phi ngôn ngữ không thể kích hoạt được các mô hình thần kinh - cơ phối hợp phức tạp vốn cần thiết cho quá trình tạo lời nói.21 Các nghiên cứu tiếp theo trên bệnh nhân loạn vận ngôn sau đột quỵ càng củng cố thêm phát hiện này: một thử nghiệm tính khả thi ngẫu nhiên đánh giá NSOME ở bệnh nhân đột quỵ ghi nhận lợi ích rất hạn chế, không có sự cải thiện nhất quán hoặc có ý nghĩa lâm sàng nào về các chỉ số lời nói so với nhóm chứng. Dù người bệnh dung nạp tốt các bài tập, nghiên cứu nhấn mạnh rằng NSOME không thể đóng vai trò là một chiến lược phục hồi chức năng hiệu quả để khôi phục khả năng nói.22

Khoảng trống nghiên cứu và Định hướng nghiên cứu tương lai

  • Cần thêm nghiên cứu để xác định tần suất, thời lượng và tổng liều can thiệp lý tưởng của liệu pháp hành vi về lời nói nhằm tối đa hóa hiệu quả phục hồi ở bệnh nhân loạn vận ngôn và mất dùng động tác lời nói.
  • Cần có các nghiên cứu xác định đặc điểm của từng cá nhân người bệnh (như vị trí tổn thương não, mức độ nghiêm trọng, tình trạng nhận thức) nhằm dự đoán ai sẽ hưởng lợi nhiều nhất từ các can thiệp lời nói vận động cụ thể.
  • Dù huấn luyện hô hấp cho thấy nhiều triển vọng, vẫn cần nghiên cứu để xây dựng các phác đồ chuẩn mực, xác định thời điểm can thiệp tối ưu và phương thức tích hợp tốt nhất các bài tập thở và bài tập lời nói vào một kế hoạch điều trị thống nhất.
  • Cần tiến hành các thử nghiệm có đối chứng quy mô lớn để xác định hiệu quả của ứng dụng điện thoại, phần mềm máy tính và thực hành từ xa so với trị liệu truyền thống, đồng thời nhận diện nhóm bệnh nhân nào đạt hiệu quả cao nhất từ các giải pháp kỹ thuật số.
  • Dữ liệu về giao tiếp chức năng dài hạn, mức độ hài lòng của người dùng và tính bền vững của các hệ thống AAC sau đột quỵ hiện còn rất hạn chế.
  • Mặc dù khí cụ chỉnh hình và các phương pháp hành vi đang được ứng dụng trên lâm sàng, các nghiên cứu tương lai cần làm sáng tỏ kỹ thuật nào là tối ưu nhất để điều trị tình trạng giọng mũi hở trong loạn vận ngôn sau đột quỵ.
  • Điều hòa thần kinh không xâm lấn (như tDCS) đã trở thành tâm điểm của một số thử nghiệm lâm sàng gần đây đối với rối loạn lời nói vận động sau đột quỵ,24,25 nhưng hiện tại vẫn chưa được FDA cấp phép cho mục đích sử dụng này.
  • Cần các nghiên cứu nghiêm ngặt hơn để xác định ranh giới của tính chuyên biệt nhiệm vụ trong phục hồi chức năng lời nói vận động và loại bỏ hoàn toàn vai trò tiềm tàng của các hoạt động cơ miệng không liên quan đến phát âm.
  • Các thử nghiệm trong tương lai cần kết hợp các thước đo kết cục có giá trị sinh thái và lấy người bệnh làm trung tâm, phản ánh khả năng giao tiếp thành công trong cuộc sống thường nhật thay vì chỉ dựa vào các chỉ số đo lường trong phòng thí nghiệm hoặc phòng khám.

6.4. Hội chứng bỏ quên không gian (Spatial Neglect)

Khuyến cáo về Hội chứng Bỏ quên không gian
Các nghiên cứu trích dẫn hỗ trợ cho khuyến cáo được tóm tắt trong phần tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Nội dung khuyến cáo
2a A 1. Đối với người bệnh đột quỵ có hội chứng bỏ quên nửa không gian, việc áp dụng các phương pháp huấn luyện vận nhãn—chẳng hạn như kích thích thị động hoặc tập luyện cử động mắt quét nhanh (saccadic)/đuổi bắt mượt mà (smooth pursuit)—là hợp lý nhằm cải thiện tình trạng khiếm khuyết thị giác - không gian.1–6
2a B-R 2. Đối với người bệnh bị bỏ quên nửa không gian sau đột quỵ, việc phối hợp liệu pháp gương với các phương pháp phục hồi chức năng thông thường là hợp lý nhằm nâng cao mức độ độc lập chức năng.7,8
2b B-R 3. Đối với người bệnh bị bỏ quên nửa không gian sau đột quỵ, liệu pháp thích ứng lăng kính (độ lệch thị giác >10 độ) kết hợp với phục hồi chức năng truyền thống có thể là giải pháp hợp lý để cải thiện khiếm khuyết không gian dài hạn, nâng cao tính độc lập chức năng và giảm thiểu nguy cơ té ngã.9–26
2b B-NR 4. Đối với người bệnh bị bỏ quên nửa không gian sau đột quỵ, có thể cân nhắc sử dụng liệu pháp kích hoạt chi hoặc thực tế ảo (VR) để giảm bớt mức độ khiếm khuyết không gian.26–31
3: Không có lợi ích B-R 5. Đối với người bệnh bị bỏ quên nửa không gian sau đột quỵ, kích thích tiền đình bằng dòng điện một chiều (GVS) không có hiệu quả trong việc nâng cao mức độ độc lập trong các hoạt động sinh hoạt thường ngày.27,28

Tóm lược tổng quan

Hội chứng bỏ quên nửa không gian (mất chú ý một bên không gian - hemi-inattention) là tình trạng người bệnh báo cáo, phản ứng hoặc định hướng không đối xứng đối với một bên không gian sau tổn thương não, dẫn đến suy giảm chức năng nghiêm trọng. Hội chứng này gây ra các sai sót về tri giác, nhận thức và vận động, đồng thời tạo ra gánh nặng to lớn về mặt cá nhân và xã hội sau đột quỵ.29 Tình trạng này ảnh hưởng đến ít nhất một nửa số bệnh nhân sống sót trong những tháng đầu sau đột quỵ, nhưng lại thường bị chẩn đoán dưới mức và chưa được điều trị thỏa đáng (chỉ có 4,9% được chẩn đoán và 2,9% được điều trị).30 Sự tổn thương các mạng lưới thần kinh đa dạng làm phát sinh các triệu chứng có thể tách biệt nhau; do đó, bỏ quên nửa không gian là một hội chứng phức hợp chứ không đơn thuần là sự rối loạn của một dạng xử lý thông tin đơn lẻ.31,32 Việc phục hồi chức năng có ý nghĩa lâm sàng và lấy người bệnh làm trung tâm đòi hỏi các bác sĩ phải thấu hiểu cơ chế thần kinh của các triệu chứng mục tiêu và triển khai các quy trình chăm sóc liên chuyên khoa cụ thể, rõ ràng.4

Văn bản bổ trợ chi tiết cho từng khuyến cáo

  1. Huấn luyện cử động mắt quét nhanh, đuổi bắt mượt mà và kích thích thị động: 4 nghiên cứu RCT quy mô nhỏ và 2 tổng quan hệ thống1–6 đã ủng hộ giá trị của việc huấn luyện vận nhãn thị giác—vốn là thành phần cốt lõi trong can thiệp phục hồi chức năng bỏ quên không gian có hệ thống đầu tiên (huấn luyện quét thị giác).33,34 Tình trạng khiếm khuyết không gian được cải thiện sau 15 buổi huấn luyện kích thích thị động/gợi ý;1 cải thiện khi theo dõi dài hạn (dù không thấy ngay lập tức) sau 7 buổi kích thích thị động kết hợp bịt một nửa thị trường.5 Chức năng sinh hoạt hàng ngày được báo cáo cải thiện sau 20 buổi huấn luyện cử động mắt đuổi bắt mượt mà;3 cả chức năng vận nhãn, khiếm khuyết không gian và sinh hoạt thường ngày đều cải thiện sau 20 buổi tập cử động mắt quét nhanh kết hợp bài tập quét thị giác và tập luyện theo nhiệm vụ;6 chức năng không gian và sinh hoạt thường ngày cũng cải thiện sau khi tập cử động mắt quét nhanh kết hợp quét thị giác.4 Hai nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả can thiệp so với nhóm chứng tích cực;1,3 2 nghiên cứu so sánh tập vận nhãn kết hợp tập nhiệm vụ với chỉ tập nhiệm vụ đơn thuần.5,6 Một tổng quan hệ thống phân tích 5 nghiên cứu về tập cử động mắt đuổi bắt mượt mà nhận thấy hiệu quả xuất hiện ngay lập tức và duy trì sau vài tuần, có kèm theo cải thiện thực hiện chức năng không gian trong sinh hoạt hàng ngày. Tổng quan cũng kết luận rằng phương pháp này cải thiện khiếm khuyết không gian ở cả bệnh nhân đột quỵ giai đoạn mạn tính. Một tổng quan hệ thống khác gồm 9 nghiên cứu ngẫu nhiên và không ngẫu nhiên (tổng cộng 147 người tham gia)2 kết luận rằng bằng chứng tốt nhất ủng hộ bài tập cử động mắt đuổi bắt mượt mà (5 buổi và 20 buổi trong 2 nghiên cứu) giúp cải thiện các nhiệm vụ khiếm khuyết không gian. Ngoài ra, việc tập cử động mắt quét nhanh phản xạ kết hợp kích thích thị động cũng mang lại lợi ích ở mức độ nhỏ hơn. Hạn chế của các nghiên cứu mới là thiếu dữ liệu về tính khả thi và tính bền vững của các chương trình tập mắt do tính chất tốn nhiều nhân lực của phương pháp; đồng thời chưa đánh giá được mối quan hệ liều - đáp ứng và đặc điểm bệnh nhân giúp dự đoán mức hưởng lợi tối ưu.5
  2. Trong các buổi trị liệu thích ứng lăng kính, người bệnh đột quỵ đeo kính có gắn lăng kính hình nêm. Một tấm che chắn sẽ ngăn người bệnh nhìn thấy cánh tay của chính mình khi thực hiện các động tác lặp đi lặp lại (như chỉ tay, gạch ngang các đường thẳng). Nhiều buổi tập ngắn (thường là 10 buổi) được tiến hành trong các ngày hoặc tuần liên tiếp; kính chỉ được đeo trong suốt buổi tập. Một tổng quan hệ thống báo cáo liệu pháp thích ứng lăng kính giúp cải thiện khiếm khuyết không gian khi tìm kiếm thị giác.12 Ba tổng quan hệ thống kèm phân tích gộp (đánh giá lần lượt 8, 7 và 10 nghiên cứu RCT)15,17,26 báo cáo rằng liệu pháp này giúp nâng cao hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ không gian tương quan với năng lực sinh hoạt hàng ngày. Một nghiên cứu RCT thực hiện trên bệnh nhân châu Phi cho thấy liệu pháp thích ứng lăng kính cải thiện cả khiếm khuyết không gian lẫn các nhiệm vụ chức năng, và năng lực nhận thức ban đầu tốt hơn sẽ dự báo đáp ứng điều trị tốt hơn.23 Hai nghiên cứu RCT chỉ ra rằng lợi ích của liệu pháp thích ứng lăng kính có thể kéo dài nhiều tháng.19,24 Một tổng quan chỉ khảo sát tác động lên chức năng sinh hoạt hàng ngày ghi nhận lợi ích rõ nét, với hiệu ứng lớn hơn ở các nghiên cứu có chất lượng phương pháp luận tốt hơn.19 Ba nghiên cứu RCT đã đánh giá tính khả thi và kết luận phương pháp này hoàn toàn khả thi và có mức độ chấp nhận cao.10,13,19 Hai trong số này có cỡ mẫu chưa đủ lớn và không ghi nhận hiệu quả điều trị; tuy nhiên, 1 nghiên cứu báo cáo mức độ cải thiện chức năng vượt trội sau khi áp dụng liệu pháp thích ứng lăng kính so với chăm sóc thông thường ở nhóm bệnh nhân bị bỏ quên không gian mức độ nặng.19 Một nghiên cứu quan sát hồi cứu không ngẫu nhiên trong đời thực gợi ý rằng liệu pháp này có thể liên quan đến việc giảm nguy cơ té ngã.11 Các yếu tố điều chỉnh hiệu quả của liệu pháp bao gồm: tình trạng mất kết nối vùng trán/phân nhóm bỏ quên không gian,14,16 mức độ nghiêm trọng,13 thời gian sau đột quỵ, phương pháp tiến hành trị liệu và liều lượng/tần suất can thiệp.9,22 Một nghiên cứu RCT và 2 phân tích gộp báo cáo liệu pháp thích ứng lăng kính không vượt trội hơn nhóm chứng;18,21 tuy nhiên, các nghiên cứu này không xét đến các yếu tố điều chỉnh hiệu quả và áp dụng tiêu chuẩn lựa chọn cũng như tiêu chí chất lượng khác với các tổng quan ghi nhận kết quả tích cực.
  3. Liệu pháp gương là phương pháp đặt một tấm gương ở giữa hai tay hoặc hai chân để phản chiếu hình ảnh chi chuyển động bên lành. Việc quan sát gương tạo ra cho bệnh nhân ảo giác về sự chuyển động của chi bên liệt. Hai tổng quan hệ thống đánh giá tác động của liệu pháp gương lên hội chứng bỏ quên nửa không gian và hội chứng người đẩy (pusher syndrome)7,8 đã tìm thấy 3 nghiên cứu RCT ủng hộ việc sử dụng liệu pháp gương (đặt trong khung hoặc hộp) với phác đồ can thiệp kéo dài từ 3 đến 5 tuần.
  4. Liệu pháp kích hoạt chi35 bao gồm việc cải thiện hội chứng bỏ quên không gian thông qua việc vận động (các) chi đối bên tổn thương (bên bị bỏ quên) hoặc duy trì một tư thế tĩnh ở nửa thân bên đó. Một tổng quan hệ thống đã đánh giá việc kết hợp phương pháp này với can thiệp gợi ý,4 và một tổng quan hệ thống kèm phân tích gộp đã đánh giá việc sử dụng thiết bị robot để kích hoạt nửa thân bên liệt.36 Cả hai công trình đều kết luận rằng can thiệp này có thể cải thiện khiếm khuyết không gian. Liệu pháp vận động cưỡng bức (CIMT), dù mục đích chính là cải thiện chức năng vận động chứ không phải khiếm khuyết không gian - vận động, cũng được chứng minh là giúp nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ không gian trong một nghiên cứu RCT37 và cải thiện khiếm khuyết không gian trong một tổng quan hệ thống.4 Các can thiệp thực tế ảo (VR) rất đa dạng về thiết kế, trang thiết bị và cách thức vận hành; tuy nhiên, điểm chung là đều có sự tương tác thị giác - vận động trên nền tảng máy tính. VR nhập vai có thể sử dụng kính chuyên dụng hoặc màn hình quan sát có kiểm soát,38 trong khi VR bán nhập vai hoặc không nhập vai cho phép người bệnh nhìn tự do.39,40 Hai nghiên cứu RCT quy mô nhỏ38,39 và một tổng quan hệ thống40 báo cáo sự cải thiện trong các nhiệm vụ không gian tại phòng thí nghiệm hoặc giảm khiếm khuyết không gian; tổng quan hệ thống cũng ghi nhận 4 trên 5 nghiên cứu có sự cải thiện về ADL hoặc hiệu suất chức năng liên quan đến đời sống hàng ngày.40
  5. Kích thích tiền đình bằng dòng điện một chiều (GVS) tác động lên hệ thống tiền đình thông qua dòng điện áp vào mỏm chũm, từ đó kích thích tai trong và vỏ não tiền đình. Một thử nghiệm RCT nhỏ27 và một tổng quan hệ thống kèm phân tích gộp28 không tìm thấy bất kỳ tín hiệu điều trị có lợi nào của can thiệp này đối với khiếm khuyết không gian, ngay cả khi đã xem xét các vị trí dán điện cực khác nhau.

Khoảng trống nghiên cứu và Định hướng nghiên cứu tương lai

  • Mặc dù các nghiên cứu hiện có còn ở quy mô nhỏ, nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự biến thiên trong kết quả và khả năng lặp lại của nghiên cứu bỏ quên nửa không gian hoàn toàn có thể được giải quyết bằng cách xác định các yếu tố điều chỉnh hiệu quả điều trị dựa trên người bệnh. Việc phân tầng can thiệp theo độ tuổi (trẻ em);41 chủng tộc/sắc tộc và nhóm xã hội;32 cũng như các phân nhóm bỏ quên không gian14,31,42–44 đòi hỏi phải có các nghiên cứu chuyên sâu. Việc xem xét các tác động bất lợi lên tình trạng bỏ quên không gian từ các liệu pháp điều trị những rối loạn khác cũng sẽ giúp nâng cao khả năng phát hiện hiệu quả điều trị thực tế. Do đó, cần có sự phối hợp đồng bộ trong môi trường thực tiễn để triển khai các nghiên cứu quy mô lớn hơn.
  • Cần thêm thông tin về các phương pháp tiếp cận bằng thuốc đối với chứng bỏ quên không gian,45 các liệu pháp kết hợp hiệu quả giữa điều trị khuyết tật thị trường và bỏ quên không gian, cũng như lợi ích tương đối của các can thiệp phục hồi vận động sau đột quỵ khác trên bệnh nhân bỏ quên không gian.46,47 Các nghiên cứu cần tập trung vào: tính khả thi và khả năng áp dụng điều trị trong đời sống thực tế; các phân nhóm giải phẫu thần kinh/kiểu hình ảnh hưởng đến chỉ định điều trị; hiệu quả của điều trị bỏ quên không gian trong việc giảm thiểu các biến cố sức khỏe bất lợi như tai nạn tại nhà, mê sảng, tái nhập viện và mất khả năng lái xe; cùng các can thiệp hiệu quả nhằm giảm bớt tác động tiêu cực lên đối tác chăm sóc và người chăm sóc.
  • Ngoài ra, các phương pháp điều trị dưới đây cũng rất cần được nghiên cứu thêm:
    • Các tiếp cận cảm giác: châm cứu48–50 và âm thanh.51
    • Các điều trị thể chất - thân thể: kích thích tiền đình bằng nhiệt và phục hồi chức năng tiền đình,28 đặt tư thế cơ thể trị liệu.52
    • Kích thích não không xâm lấn (rTMS và tDCS).52–63

7. CHUYỂN TIẾP CHĂM SÓC VÀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

7.1. Đảm bảo tính liên tục về y tế và phục hồi chức năng xuyên suốt quá trình điều trị và hòa nhập cộng đồng

Khuyến cáo về Đảm bảo Tính Liên tục về Y tế và Phục hồi Chức năng Xuyên suốt Quá trình Điều trị và Hòa nhập Cộng đồng
Các nghiên cứu hỗ trợ được tóm tắt trong tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Nội dung khuyến cáo
2a B-R 1. Đối với người bệnh nhập viện do đột quỵ, việc lập kế hoạch xuất viện mang tính cá nhân hóa trong quá trình chuyển tiếp từ bệnh viện về nhà có thể hữu ích để cải thiện chức năng thể chất, năng lực tự quản lý và trải nghiệm của người bệnh.1–5
2b C-LD 2. Đối với người bệnh nhập viện do đột quỵ, các phương thức duy trì chăm sóc thay thế thông qua y tế từ xa (telehealth) có thể được cân nhắc để cung cấp các dịch vụ chăm sóc chuyển tiếp từ bệnh viện về nhà.6,7

Tóm lược tổng quan

Giai đoạn chuyển tiếp từ bệnh viện về nhà là khoảng thời gian vô cùng nhạy cảm và dễ tổn thương đối với bệnh nhân sau đột quỵ. Người bệnh có thể phải đối mặt với những thay đổi mới về thể chất, nhận thức hoặc cảm xúc, các bệnh lý nội khoa mới được chẩn đoán hoặc bị mất ổn định, cùng nhiều mối lo ngại về an toàn. Khi về nhà, việc tự quản lý các bệnh lý mạn tính và các yếu tố nguy cơ đột quỵ thường đòi hỏi phải dùng các thuốc mới, làm thêm xét nghiệm và tái khám ngoại trú, bên cạnh việc phải thích nghi với trạng thái "bình thường mới". Nhiều nghiên cứu đã chứng minh tầm quan trọng của việc theo dõi sát sao sau khi xuất viện nhằm cải thiện kết cục lâm sàng và giảm tỷ lệ tái nhập viện.1,3,4,8–11 Tuy nhiên, một thực tế được ghi nhận là chuỗi chăm sóc liên tục sau xuất viện thường gặp nhiều sự chậm trễ và rào cản trong tiếp cận. Vấn đề này càng trở nên trầm trọng hơn tại các khu vực có nguồn lực y tế hạn chế.

Văn bản bổ trợ chi tiết cho từng khuyến cáo

  1. Kế hoạch xuất viện phục vụ cho quá trình chuyển tiếp từ bệnh viện về cộng đồng cần được khởi động ngay từ trong bệnh viện và phải được cá nhân hóa để giải quyết các vấn đề về hiểu biết sức khỏe (health literacy), các yếu tố nguy cơ xã hội - nhân khẩu học và các nhu cầu đặc thù của đột quỵ. Một tổng quan hệ thống gồm 9 nghiên cứu RCT gần đây đã đánh giá hiệu quả của các mô hình theo dõi sau đột quỵ dựa trên chăm sóc ban đầu, bao gồm các can thiệp sử dụng nhân viên hỗ trợ đột quỵ, điều phối viên chăm sóc hoặc người quản lý ca bệnh. Do chất lượng phương pháp luận của các nghiên cứu có sự dao động lớn, việc diễn giải dữ liệu còn nhiều hạn chế. Các tác giả nhận thấy mặc dù bệnh nhân và người chăm sóc được theo dõi thường hài lòng hơn về một số khía cạnh giao tiếp và hiểu biết sâu hơn về đột quỵ, nhưng dường như không có sự gia tăng rõ rệt về chức năng thể chất, tâm trạng hay chất lượng cuộc sống so với nhóm không được can thiệp.12 Một tổng quan hệ thống khác khảo sát các mô hình chăm sóc chuyển tiếp sau đột quỵ hoặc nhồi máu cơ tim chỉ ra rằng chương trình chăm sóc chuyển tiếp khởi đầu từ bệnh viện có thể cải thiện một số kết cục ở người trưởng thành nhập viện vì hai bệnh cảnh này.13 Mặc dù không chuyên biệt cho đột quỵ, một nghiên cứu Cochrane năm 2012 đánh giá hiệu quả của việc lập kế hoạch xuất viện cho bệnh nhân chuyển từ bệnh viện cấp tính về nhà (tổng hợp 24 nghiên cứu RCT so sánh kế hoạch cá nhân hóa với chăm sóc xuất viện thường quy không điều chỉnh) trên dữ liệu của 8.098 bệnh nhân đã nhận thấy rằng thời gian nằm viện và tỷ lệ tái nhập viện "giảm có ý nghĩa thống kê ở những bệnh nhân nhập viện với chẩn đoán nội khoa được phân bổ vào nhóm có kế hoạch xuất viện (chênh lệch trung bình về thời gian nằm viện: \(-0,91\) ngày [KTC 95%, \(-1,55\) đến \(-0,27\)], 10 thử nghiệm; tỷ số nguy cơ tái nhập viện RR: \(0,82\) [KTC 95%, \(0,73–0,92\)], 12 thử nghiệm)". Đối với bệnh nhân cao tuổi có bệnh lý nội khoa, không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm về tỷ lệ tử vong (RR: \(0,99\) [KTC 95%, \(0,78–1,25\)], 5 thử nghiệm) hoặc tỷ lệ được xuất viện về nhà (RR: \(1,03\) [KTC 95%, \(0,93–1,14\)], 2 thử nghiệm). Các tác giả kết luận rằng "một kế hoạch xuất viện phù hợp với từng cá nhân có thể giúp giảm thời gian nằm viện và tỷ lệ tái nhập viện ở người cao tuổi nhập viện vì bệnh nội khoa", nhưng tác động lên tỷ lệ tử vong, kết cục sức khỏe và chi phí vẫn chưa thực sự rõ ràng.14 Nghiên cứu COMPASS—một thử nghiệm RCT theo cụm nhằm xác định xem mô hình chăm sóc đột quỵ sau giai đoạn cấp tính toàn diện có cải thiện kết cục sau xuất viện trong toàn hệ thống bang hay không—cho thấy không có sự khác biệt về kết cục chức năng giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng (mục tiêu chính của nghiên cứu). Cần lưu ý rằng chỉ có 35% bệnh nhân tại các bệnh viện can thiệp nhận được đầy đủ chuỗi các lần thăm khám, đây là một hạn chế lớn của nghiên cứu. Đối với bệnh nhân đột quỵ chuẩn bị xuất viện từ khoa cấp tính, kế hoạch xuất viện bắt buộc phải có sự tham gia của các chuyên gia phục hồi chức năng nhằm xác định nhu cầu dài hạn và hỗ trợ tổ chức cung cấp các dịch vụ đó.
  2. Y tế từ xa (telemedicine/telehealth) nên được xem xét như một phương thức hữu hiệu để gia tăng khả năng tiếp cận chăm sóc theo dõi sau đột quỵ, đặc biệt trong giai đoạn người bệnh còn bị hạn chế vận động hoặc bị cấm lái xe khiến việc đến khám trực tiếp gặp nhiều khó khăn. Sự phức tạp của hệ thống y tế có thể đe dọa tính liên tục của chăm sóc và đặt bệnh nhân vào nguy cơ cao có kết cục xấu sau xuất viện. Ứng dụng y tế từ xa đã phát triển mạnh mẽ, mở ra khả năng tăng cường tiếp cận dịch vụ, rút ngắn thời gian chờ đợi và giảm chi phí y tế.15 Y tế từ xa được định nghĩa là "việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe trong điều kiện khoảng cách là yếu tố then chốt, được thực hiện bởi tất cả các chuyên gia y tế sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để trao đổi thông tin hợp lệ phục vụ chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa bệnh tật, chấn thương...".16,17 Đối với người bệnh đột quỵ, nhiều rào cản về thể chất, nhận thức và quy định hành chính gây khó khăn cho việc tái khám định kỳ. Việc sử dụng các nền tảng y tế từ xa đã chứng minh tiềm năng tạo thuận lợi cho việc tiếp cận chăm sóc đột quỵ chuyên khoa và phục hồi chức năng ngay trong giai đoạn sớm sau đột quỵ. Thêm vào đó, công nghệ này còn cho phép đối tác chăm sóc cùng tham gia để thúc đẩy năng lực tự quản lý của người bệnh, bất kể khoảng cách địa lý. Các công nghệ này có thể dùng cho tư vấn từ xa, giải quyết vấn đề, các buổi giáo dục sức khỏe, một số buổi tập phục hồi chức năng, cũng như truyền tải các dữ liệu sinh hiệu thiết yếu như huyết áp, cân nặng hay kết quả xét nghiệm.18 Các chương trình chăm sóc chuyển tiếp được tăng cường nhờ công nghệ y tế từ xa trong giai đoạn chuyển từ bệnh viện về cộng đồng cần được xem xét nhằm giảm thiểu các lần tiếp xúc y tế kém giá trị, hạn chế biến chứng và cải thiện kết cục lâu dài sau đột quỵ.19

Khoảng trống nghiên cứu và Định hướng nghiên cứu tương lai

  • Thiếu phương pháp tiếp cận chuẩn hóa trong các nghiên cứu về chăm sóc đột quỵ chuyển tiếp, bao gồm việc thiết lập các bộ công cụ đo lường kết cục toàn diện và đồng nhất.
  • Bằng chứng về hiệu quả dài hạn còn hạn chế.
  • Cần khảo sát chuyên sâu về khả năng tiếp cận chăm sóc và công nghệ ở bệnh nhân đột quỵ có các yếu tố nguy cơ đặc thù liên quan đến các yếu tố quyết định sức khỏe mang tính xã hội (SDOH).
  • Sự hỗ trợ dành cho đối tác chăm sóc chưa được lồng ghép thỏa đáng vào các chương trình chăm sóc đột quỵ chuyển tiếp.20

7.2. Gắn kết và Hỗ trợ Người chăm sóc

Khuyến cáo về Gắn kết và Hỗ trợ Người chăm sóc
Các nghiên cứu hỗ trợ được tóm tắt trong tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Nội dung khuyến cáo
2a B-R 1. Chủ động và có chủ đích thu hút sự tham gia của người chăm sóc bệnh nhân đột quỵ càng sớm càng tốt và xuyên suốt toàn bộ quá trình phục hồi chức năng có thể mang lại lợi ích trong việc nâng cao kiến thức về đột quỵ, cải thiện sức khỏe tinh thần và giảm gánh nặng chăm sóc.1–6
2a B-R 2. Đối với người bệnh đột quỵ, việc đưa người chăm sóc vào các chương trình giáo dục và huấn luyện kỹ năng bằng phương pháp phản hồi thông tin (teach-back) về các hoạt động chăm sóc và phục hồi chức năng có thể mang lại lợi ích nhằm cải thiện kết quả ở cả người bệnh và người chăm sóc, chẳng hạn như trải nghiệm chăm sóc, các hoạt động sinh hoạt hàng ngày (ADL) và khả năng vận động.6–10
2a B-R 3. Đối với người chăm sóc bệnh nhân đột quỵ, sau khi người bệnh xuất viện khỏi giai đoạn cấp tính, việc tham gia liên tục trong thời gian dài vào một chương trình can thiệp tâm lý - xã hội hoặc giáo dục - tâm lý đa thành phần, được thiết kế chuyên biệt và hướng trọng tâm vào người chăm sóc có thể mang lại lợi ích trong việc cải thiện sức khỏe tinh thần của người chăm sóc, giảm gánh nặng và/hoặc cải thiện chức năng gia đình.6,11–13

Tóm lược tổng quan

Dữ liệu đại diện quốc gia tại Hoa Kỳ cho thấy có khoảng 5% người chăm sóc đang hỗ trợ cho một cá nhân có vấn đề sức khỏe chính là đột quỵ, tương đương khoảng 2,7 triệu người chăm sóc đột quỵ.1 Các báo cáo chỉ ra một cách nhất quán rằng sự gia tăng hỗ trợ xã hội (về mặt thực hành, thông tin, cảm xúc và các mối quan hệ), đặc biệt từ người chăm sóc là thành viên gia đình, có mối liên hệ chặt chẽ với việc cải thiện kết cục của bệnh nhân đột quỵ.2,3 Người chăm sóc còn hỗ trợ nhiều công việc khác như giúp đỡ các hoạt động ADL, IADL và trợ giúp thể chất; tuy nhiên, một số người chăm sóc phải trải qua các kết cục tiêu cực về sức khỏe tâm thần do công việc chăm sóc gây ra. Nhiều người cho biết họ có những nhu cầu thông tin và hỗ trợ chưa được đáp ứng trong suốt quá trình chăm sóc và phục hồi chức năng, điều này có thể liên quan đến tình trạng suy giảm chức năng thể chất ở bệnh nhân sống sót sau đột quỵ.4,5 Suy giảm chức năng thể chất của người bệnh lại càng làm gia tăng những nhu cầu hỗ trợ chưa được đáp ứng của người chăm sóc.

Văn bản bổ trợ chi tiết cho từng khuyến cáo

  1. Các nghiên cứu can thiệp theo cặp bao gồm cả người bệnh và người chăm sóc có sự không đồng nhất lớn về cả thiết kế can thiệp lẫn các kết cục được đo lường. Trong một tổng quan hệ thống về các can thiệp theo cặp và hỗ trợ người chăm sóc gia đình, 8 thử nghiệm có lực mẫu đầy đủ đã chứng minh sự cải thiện kết cục ở cả bệnh nhân đột quỵ và người chăm sóc.6 Tương tự, một tổng quan cập nhật của Cochrane đã so sánh sự khác biệt giữa phương thức truyền đạt thông tin thụ động (chỉ dùng tài liệu giáo dục) và chủ động (dùng thực hành mẫu, các buổi gặp mặt và gọi điện thoại), kết quả cho thấy các phương pháp chủ động giúp nâng cao đáng kể kết cục của bệnh nhân và người chăm sóc, bao gồm cả sức khỏe tâm thần.7 Thêm vào đó, một số tổng quan khảo sát phục hồi chức năng từ xa và các can thiệp công nghệ đã chứng minh một cách nhất quán sự tiến bộ về kiến thức và sức khỏe tâm thần ở người bệnh.8–11 Một phân tích gộp trên 15 thử nghiệm có sự tham gia của người chăm sóc không chính thức chỉ ra rằng các can thiệp dựa trên công nghệ kết hợp chương trình giáo dục có cấu trúc giúp giảm đáng kể các triệu chứng trầm cảm.9
  2. Nhiều thử nghiệm đã tập trung cụ thể vào việc hướng dẫn kỹ năng cho người chăm sóc nhằm cải thiện kết quả phục hồi chức năng của người bệnh. Một thử nghiệm đánh giá can thiệp tại nhà do người chăm sóc thực hiện nhận thấy chức năng thể chất của bệnh nhân được cải thiện nhưng không làm giảm gánh nặng của người chăm sóc.12 Một thử nghiệm khác đánh giá chương trình luyện tập xoay vòng theo nhiệm vụ liều lượng tối thiểu có sự tham gia tích cực của người chăm sóc; can thiệp này đã cải thiện đáng kể chức năng thể chất của người bệnh.14 Những người chăm sóc được phân ngẫu nhiên vào nhóm nhận chương trình đào tạo tại nhà về chăm sóc răng miệng cho bệnh nhân đột quỵ đã thể hiện kiến thức, sự tự tin về năng lực bản thân và hành vi chăm sóc răng miệng vượt trội hơn so với nhóm chứng.13 Yếu tố then chốt quyết định sự thành công của công tác giáo dục và đào tạo trong các chương trình này là đảm bảo người chăm sóc nắm vững kỹ năng thông qua việc thực hành lại. Một nghiên cứu tập trung vào phương thức thực hành lại đã đào tạo người chăm sóc gia đình bằng video kết hợp phương pháp phản hồi thông tin; nhóm áp dụng teach-back ghi nhận sự tiến bộ vượt bậc về năng lực chăm sóc của thân nhân, cũng như chức năng vận động và trạng thái tâm lý của bệnh nhân trong một thử nghiệm ngẫu nhiên quy mô nhỏ.15
  3. Nhiều chương trình can thiệp đa thành phần, tâm lý - xã hội và/hoặc giáo dục - tâm lý hướng tới người chăm sóc và các can thiệp theo cặp đã được mô tả trong y văn.6,16–18 Mặc dù một số thử nghiệm thí điểm nhỏ cho kết quả hỗn hợp, các phân tích gộp cho thấy hiệu ứng tích cực rõ rệt trong việc giảm bớt gánh nặng chăm sóc qua 7 thử nghiệm can thiệp đa thành phần.16,17 Các can thiệp giáo dục - tâm lý giúp cải thiện chức năng gia đình trong một phân tích gộp các can thiệp theo cặp chú trọng đồng thời nhu cầu của người chăm sóc và người bệnh.6 Nhìn chung, các khuyến cáo dành cho chương trình hướng tới người chăm sóc nhấn mạnh sự cần thiết của việc đánh giá đúng nhu cầu và cá nhân hóa các thành phần can thiệp;6 tuy nhiên, phương thức cung cấp có thể rất linh hoạt: gặp mặt trực tiếp, qua điện thoại hoặc y tế từ xa/hội nghị truyền hình đều đã được áp dụng thành công.6

Khoảng trống nghiên cứu và Định hướng nghiên cứu tương lai

  • Sự không đồng nhất về các thành phần can thiệp và thước đo kết cục làm hạn chế khả năng so sánh hiệu quả giữa các can thiệp theo cặp và can thiệp cho người chăm sóc. Các nghiên cứu so sánh hiệu quả trong tương lai cần được thực hiện để làm rõ thành phần nào tạo ra tác động lớn nhất và lợi ích khác biệt trên kết cục của người bệnh so với người chăm sóc.
  • Khả năng mở rộng quy mô của các chương trình hỗ trợ người chăm sóc thông qua hệ thống y tế hoặc phối hợp với các tổ chức cộng đồng (như các Cơ quan Phụ trách Người cao tuổi tại địa phương) chưa từng được đánh giá trong các thử nghiệm thực tế và triển khai quy mô lớn.

7.3. Kết nối với nguồn lực Cộng đồng

Khuyến cáo về Giới thiệu và Kết nối Nguồn lực Cộng đồng
Các nghiên cứu hỗ trợ được tóm tắt trong tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Nội dung khuyến cáo
1 C-LD 1. Đối với người bệnh đột quỵ và người chăm sóc của họ, cần cung cấp các thông tin được cá nhân hóa và chuyển tuyến đến các nguồn lực cộng đồng cập nhật xuyên suốt chuỗi chăm sóc liên tục nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận các dịch vụ này.1–3
2a B-R 2. Đối với người bệnh đột quỵ, các phương pháp giáo dục mang tính tương tác (như phương pháp phản hồi teach-back hoặc giao tiếp hai chiều) kèm theo theo dõi định kỳ có thể mang lại lợi ích trong việc nâng cao hiểu biết của người bệnh và giảm thiểu tình trạng lo âu, trầm cảm.4
2a B-NR 3. Đối với người bệnh đột quỵ, việc áp dụng Bảng kiểm Sau Đột quỵ (Post-Stroke Checklist - PSC) có thể hữu ích để nhận diện các vấn đề sức khỏe liên quan đến đột quỵ và định hướng cho các chuyển tuyến cá nhân hóa.5–8
2a B-NR 4. Đối với người bệnh đột quỵ, việc chuyển tuyến đến các chương trình tự quản lý hoặc can thiệp lối sống có thể hữu ích để cải thiện các kết cục sau đột quỵ.9–11
2b B-R 5. Đối với người bệnh đột quỵ và người chăm sóc, giáo dục sức khỏe đột quỵ dựa trên công nghệ có thể được cân nhắc để nâng cao kiến thức về bệnh.12–17

Tóm lược tổng quan

Quá trình chuyển tiếp thành công từ bệnh viện về nhà đòi hỏi phải có sự đánh giá cẩn trọng và cá nhân hóa cho cả nhu cầu của người bệnh lẫn người chăm sóc, kết hợp với các nguồn lực chính thức và phi chính thức có thể tiếp cận được. Trong giai đoạn chuyển tiếp, bệnh nhân và người chăm sóc thường phản ánh nhiều thách thức như: sự giao tiếp kém hiệu quả với nhân viên y tế, sự điều phối chăm sóc bị phân mảnh, sự thiếu chuẩn bị sẵn sàng khi xuất viện, khó khăn trong tiếp cận phục hồi chức năng và dịch vụ chuyên khoa, cũng như sự thiếu hụt hỗ trợ về cảm xúc, xã hội và thông tin.1–3 Việc chuyển tuyến đến các nguồn lực cộng đồng phù hợp có thể giúp giải quyết các nhu cầu và ưu tiên của người bệnh và người chăm sóc. Quá trình này cần được cá nhân hóa, tính đến các mối bận tâm về mặt cảm xúc, thông tin và hậu cần.2 Chuyển tuyến chính thức có thể cần thiết cho các dịch vụ như phục hồi chức năng chuyên sâu hoặc các dịch vụ lâm sàng khác. Nguồn lực phi chính thức có thể bao gồm các tổ chức cộng đồng, nhóm tình nguyện, cơ quan phi lợi nhuận hoặc các chương trình do chính phủ hỗ trợ. Bảng 8 phác thảo các ví dụ về nguồn lực thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau có thể xem xét dựa trên đánh giá cá nhân hóa. Nhu cầu của người bệnh và người chăm sóc thường biến chuyển liên tục trong suốt tiến trình phục hồi; vì vậy, việc đánh giá và theo dõi liên tục là điều kiện tiên quyết để nhận diện, giải quyết kịp thời các nhu cầu chưa được đáp ứng và nâng cao chất lượng chăm sóc toàn diện.

Văn bản bổ trợ chi tiết cho từng khuyến cáo

  1. Một tổng quan hệ thống lớn bao gồm 51 nghiên cứu định tính áp dụng phương pháp tổng hợp dân tộc học (meta-ethnography) nhận thấy bệnh nhân đột quỵ và người chăm sóc không chính thức của họ thường gặp phải tình trạng giao tiếp kém, chăm sóc phân mảnh và thiếu sự hỗ trợ thực tế cũng như cảm xúc từ các dịch vụ y tế ban đầu và cộng đồng.2 Tổng hợp này nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết về một mô hình chăm sóc tích hợp và cá nhân hóa hơn. Một tổng quan hệ thống thứ hai gồm 24 nghiên cứu định lượng áp dụng phương pháp phân tích tổng hợp định tính đã xác định 4 nhóm nhu cầu lớn chưa được đáp ứng: (1) thông tin liên quan đến bệnh tật, (2) sự tham gia và phục hồi thể chất, (3) các nguồn lực xã hội - môi trường, và (4) hỗ trợ cảm xúc.1 Tổng hợp lại, có rất nhiều cơ hội để bù đắp những khoảng trống chăm sóc này. Tuy nhiên, bằng chứng về các can thiệp và phương pháp tiếp cận nhằm nâng cao khả năng tiếp cận nguồn lực giải quyết nhu cầu sau đột quỵ còn khá hạn chế. Một tổng quan hệ thống gồm 10 nghiên cứu về khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội hoặc nguồn lực cộng đồng sau đột quỵ đã mô tả nhiều cách tiếp cận khác nhau như giáo dục, dịch vụ chuyển tuyến và hỗ trợ điều hướng; nhìn chung các biện pháp này đều mang lại lợi ích cho người tham gia, mặc dù sự không đồng nhất trong thiết kế nghiên cứu và thước đo kết cục gây khó khăn cho việc đánh giá chính xác mức độ hiệu quả.3
  2. Khả năng tiếp cận thông tin liên quan đến đột quỵ đã được xác định là một khoảng trống kiến thức dai dẳng đối với cả người bệnh và người chăm sóc.1 Để chủ động tham gia vào quá trình ra quyết định và tự quản lý hiệu quả các di chứng lâu dài, người bệnh cần được cung cấp thông tin kịp thời, chính xác và theo phương thức phù hợp. Điều quan trọng là không chỉ nội dung thông tin mà phương thức truyền đạt cũng đóng vai trò quyết định. Một tổng quan Cochrane gồm 33 nghiên cứu (phần lớn có thiết kế ngẫu nhiên) đã phân loại các can thiệp giáo dục thành "chủ động" và "thụ động". Trong đó, can thiệp chủ động bao gồm tương tác có chủ đích kèm cơ hội giải thích và củng cố thông tin sau đó (như áp dụng phương pháp teach-back, giao tiếp hai chiều cho phép người bệnh tiếp thu thông tin và đặt câu hỏi, cùng một kế hoạch theo dõi để củng cố hoặc làm rõ vấn đề). Trong phân tích gộp, các can thiệp chủ động đã nâng cao đáng kể hiểu biết của người bệnh về đột quỵ, đồng thời làm giảm nhẹ tình trạng lo âu và trầm cảm so với nhóm chứng.4
  3. Bảng kiểm Sau Đột quỵ (Post-Stroke Checklist - PSC) được Hội đồng Tư vấn Cộng đồng Đột quỵ Toàn cầu phát triển nhằm chuẩn hóa việc chăm sóc đột quỵ dài hạn, hỗ trợ các bác sĩ lâm sàng nhận diện các vấn đề liên quan đến đột quỵ và định hướng chuyển tuyến đến các nguồn lực phù hợp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Được Tổ chức Đột quỵ Thế giới (WSO) bảo trợ, bảng kiểm PSC hiện có sẵn trực tuyến bằng 9 ngôn ngữ.18 Trong một nghiên cứu thí điểm ban đầu, việc áp dụng PSC cho bệnh nhân từ 8 tháng đến 5 năm sau đột quỵ được chứng minh là khả thi và được cả bệnh nhân lẫn bác sĩ đánh giá cao.8 Các nghiên cứu quan sát tiếp theo khẳng định tính hữu ích của PSC trong việc ước tính tỷ lệ hiện mắc các vấn đề sức khỏe sau đột quỵ (ghi nhận ở tới 95% trường hợp) và hỗ trợ chuyển tuyến đa chuyên khoa trong 85% trường hợp.7 Tại thời điểm theo dõi 3 và 12 tháng, các vấn đề sức khỏe liên quan đến đột quỵ đã giảm nhưng vẫn còn tồn tại ở 2/3 số bệnh nhân.6 Thêm vào đó, các lĩnh vực của PSC về tâm trạng, nhận thức, nhu cầu xã hội và gánh nặng người chăm sóc có mối tương quan chặt chẽ với các thang đo lâm sàng đã được kiểm định, cho thấy đây là một công cụ sàng lọc toàn diện đầy triển vọng.5
  4. Một tổng quan bao quát (umbrella review) đánh giá các can thiệp thay đổi hành vi và tự quản lý nhằm giảm nguy cơ đột quỵ đã tổng hợp 15 tổng quan hệ thống kèm phân tích gộp có chất lượng phương pháp luận khác nhau, bao trùm nhiều kết cục phòng ngừa thứ phát (tử vong/mắc bệnh, tuân thủ dùng thuốc, hành vi lối sống, kết cục tâm lý và các chỉ dấu sinh học).11 Nhìn chung, chưa có bằng chứng mạnh mẽ về tác động của các can thiệp này lên tỷ lệ tái phát đột quỵ hay tử vong. Bằng chứng rõ rệt nhất thuộc về các can thiệp đa phương thức giúp tăng cường hoạt động thể chất và giảm biến cố tim mạch.11 Một tổng quan Cochrane có phân tích gộp về các can thiệp tự quản lý ở người trưởng thành sau đột quỵ sống tại cộng đồng cho thấy các chương trình này giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và sự tự tin vào năng lực bản thân so với chăm sóc thông thường.10 Một tổng quan hệ thống kèm phân tích gộp về can thiệp lối sống tập trung vào các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi bằng hành vi đã chứng minh mức giảm huyết áp tâm thu có ý nghĩa thống kê, nhưng không ghi nhận tác động rõ rệt lên các kết cục khác như tỷ lệ biến cố tim mạch hay tử vong.9 Các mục 5.8 "Thay đổi và Quản lý Lối sống" và 7.6 "Tham gia Hoạt động Vui chơi, Giải trí và Xã hội" sẽ mô tả chi tiết hơn về các thành phần can thiệp này. Bộ tiêu chuẩn "Life's Essential 8" của AHA đưa ra các thước đo then chốt để cải thiện và duy trì sức khỏe tim mạch, có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho người bệnh và nhân viên y tế để định hướng thay đổi hành vi và tự quản lý.19
  5. Ngày càng có nhiều sự quan tâm đến việc ứng dụng các chiến lược giáo dục dựa trên công nghệ để hỗ trợ bệnh nhân đột quỵ. Một tổng quan hệ thống gồm 10 nghiên cứu đánh giá các phương thức này nhận thấy tất cả các nghiên cứu đều ghi nhận tác động tích cực trên ít nhất 1 thước đo kết cục chính. Tuy nhiên, các thước đo kết cục rất đa dạng và không có nghiên cứu nào dùng chung một công nghệ, khiến các tác giả kết luận rằng cần thêm bằng chứng để khẳng định hiệu quả của các cách tiếp cận này trong việc nâng cao kiến thức và khả năng tự quản lý đột quỵ.13 Tương tự, một tổng quan hệ thống về các can thiệp công nghệ tự định hướng có sẵn trên thị trường (như phần mềm máy tính, trang web và ứng dụng di động) cho thấy 15/17 nghiên cứu báo cáo ít nhất 1 kết cục chính tích cực, bao gồm cả sự chấp nhận của người tham gia, dù tính không đồng nhất giữa các nghiên cứu vẫn rất cao.14 Ở từng nghiên cứu riêng lẻ, việc giáo dục bằng video cá nhân hóa đã nâng cao mức độ hài lòng của người bệnh và người chăm sóc, đồng thời duy trì kiến thức về đột quỵ tại thời điểm 90 ngày.12 Một thử nghiệm RCT lớn (\(n = 310\)) sử dụng ứng dụng video trên di động ghi nhận tỷ lệ tử vong liên quan đến đột quỵ giảm ở nhóm can thiệp, nhưng không cải thiện khả năng kiểm soát yếu tố nguy cơ.15 Một thử nghiệm RCT khác (\(n = 63\)) nhận thấy ứng dụng di động giúp tăng cường nhận thức về các yếu tố nguy cơ đột quỵ, mặc dù điểm số kiến thức và chất lượng cuộc sống không vượt trội hơn có ý nghĩa thống kê so với phương pháp giáo dục truyền thống.16
Bảng 8. Các ví dụ về Nguồn lực và Chuyển tuyến tại Cộng đồng
Lĩnh vực Ví dụ về dịch vụ, hỗ trợ hoặc chuyển tuyến
Dịch vụ phục hồi chức năng Vật lý trị liệu, hoạt động trị liệu, âm ngữ trị liệu, tâm lý thần kinh học, trung tâm sinh hoạt cộng đồng, cẩm nang hướng dẫn phục hồi chức năng tại nhà.
Hỗ trợ nghề nghiệp Đào tạo lại nghề, việc làm có hỗ trợ, điều chỉnh thích ứng nơi làm việc, các chương trình cấp địa phương hoặc bang, tư vấn pháp lý theo Đạo luật Người khuyết tật Hoa Kỳ (ADA), cổng thông tin việc làm trực tuyến, mạng lưới việc làm cho người khuyết tật.
Dịch vụ lái xe và phương tiện đi lại Phục hồi chức năng lái xe, đánh giá trang thiết bị thích ứng, cơ quan quản lý phương tiện cơ giới của bang, dịch vụ vận chuyển cho người khuyết tật.
Hỗ trợ xã hội Nhóm hỗ trợ người sống sót sau đột quỵ, hỗ trợ người chăm sóc, tư vấn sức khỏe tâm thần, nhóm cộng đồng do đồng đẳng viên dẫn dắt, diễn đàn trực tuyến, tổ chức tôn giáo/tín ngưỡng, Công cụ tìm kiếm nhóm hỗ trợ đột quỵ AHA/ASA.
Chương trình vui chơi và giải trí Thể thao thích ứng, liệu pháp nghệ thuật hoặc âm nhạc, các lớp học tại trung tâm cộng đồng, chuyên viên giải trí trị liệu, câu lạc bộ sở thích, chương trình công viên và giải trí của địa phương hoặc bang, chương trình thư viện công cộng.
Hỗ trợ tại nhà và dịch vụ chăm sóc thay thế Chăm sóc thay thế tại nhà, chương trình ban ngày cho người lớn, chăm sóc giảm nhẹ thay thế, dịch vụ chăm sóc thay thế tình nguyện, chương trình "Bữa ăn lưu động" (Meals on Wheels), ngân hàng thực phẩm địa phương và bang, chương trình tình nguyện cộng đồng, dịch vụ phi lợi nhuận địa phương, nguồn lực từ các cơ quan phụ trách người cao tuổi của bang hoặc địa phương.
Hỗ trợ tài chính và nhà ở Chương trình hỗ trợ nhà ở, tư vấn phúc lợi, lập kế hoạch tài chính, chương trình miễn trừ Medicaid HCBS, thông tin điều hướng bảo hiểm y tế.
Dụng cụ hỗ trợ và công nghệ Thiết bị y tế bền, dụng cụ trợ giúp di chuyển, thiết bị giao tiếp, cải tạo/thích ứng nhà ở, giáo dục và đào tạo kỹ năng công nghệ và kỹ thuật số, hỗ trợ y tế từ xa.
Giáo dục và Điều hướng hệ thống Nhân viên y tế cộng đồng, nhân viên công tác xã hội, hội thảo hoặc lớp học giáo dục tại trung tâm cộng đồng, sổ tay hướng dẫn nguồn lực; Các nguồn giáo dục trực tuyến: AHA/ASA, Tổ chức Đột quỵ Thế giới (WSO), Hiệp hội Tổn thương Não Hoa Kỳ (BIAA).
Pháp lý và Vận động quyền lợi Các tổ chức bảo vệ quyền của người khuyết tật, trợ giúp pháp lý về nhà ở/việc làm, nhóm vận động quyền lợi người bệnh.
Chăm sóc sức khỏe toàn diện, Dinh dưỡng và Tự quản lý Chuyển tuyến chuyên gia dinh dưỡng, các lớp học cộng đồng, tài liệu giáo dục sức khỏe, chương trình hoặc hội thảo tự quản lý bệnh, huấn luyện viên phục hồi, các học phần trực tuyến, cố vấn đồng đẳng.
Gợi ý nguồn lực cấp Địa phương, Bang, Liên bang và Quốc gia:
Quốc gia: Trang thông tin điện tử của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ / Hiệp hội Đột quỵ Hoa Kỳ (AHA/ASA).
Liên bang: Trung tâm Dịch vụ Medicare & Medicaid (CMS).
Bang: Các cơ quan phụ trách người cao tuổi, sở y tế, cơ quan quản lý giao thông / phương tiện cơ giới.
Địa phương: Trung tâm cộng đồng, tổ chức tôn giáo, tổ chức phi lợi nhuận, lực lượng tình nguyện viên.
AHA/ASA: Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ / Hiệp hội Đột quỵ Hoa Kỳ; AD: Thiết bị hỗ trợ; HCBS: Dịch vụ dựa vào gia đình và cộng đồng.

Khoảng trống nghiên cứu và Định hướng nghiên cứu tương lai

  • Cần có các thiết kế nghiên cứu chặt chẽ hơn để đánh giá chính xác hiệu quả của các can thiệp nâng cao khả năng tiếp cận nguồn lực cộng đồng cho bệnh nhân đột quỵ và người chăm sóc. Các thước đo kết cục phải bảo đảm tính nhất quán để cho phép so sánh chéo giữa các nghiên cứu.
  • Hiệu quả của các phương thức giáo dục dựa trên công nghệ đối với nhiều kết cục dài hạn hiện vẫn chưa được xác định.
  • Việc ứng dụng bảng kiểm PSC trong bối cảnh y tế tại Hoa Kỳ còn rất hạn chế. Cần nghiên cứu sâu hơn về các giải pháp thúc đẩy triển khai PSC tại Hoa Kỳ.
  • Bằng chứng chất lượng cao về tác động của các nhóm hỗ trợ đồng đẳng cho bệnh nhân đột quỵ còn thiếu hụt, mặc dù sự cô lập xã hội đã được xác định rõ là một nhu cầu bức thiết chưa được đáp ứng.

7.4. Phục hồi chức năng dựa vào Cộng đồng và Phục hồi chức năng từ xa

Khuyến cáo về Phục hồi Chức năng dựa vào Cộng đồng và Phục hồi Chức năng Từ xa
Các nghiên cứu hỗ trợ được tóm tắt trong tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Nội dung khuyến cáo
1 A 1. Đối với người bệnh xuất viện sau đợt đột quỵ gần đây, việc tiếp tục phục hồi chức năng tại cộng đồng hoặc tại nhà được khuyến nghị (khi có đủ điều kiện khả thi) nhằm đạt được các mục tiêu phục hồi chức năng.1
2a B-R 2. Đối với người bệnh sống tại nhà sau đột quỵ, phục hồi chức năng đa chuyên khoa tại nhà là một giải pháp thay thế hợp lý cho phục hồi chức năng tại bệnh viện/phòng khám để đạt được các mục tiêu chức năng về khả năng di chuyển, tự chăm sóc và chức năng nhận thức/giao tiếp.2–6
2a B-R 3. Đối với người bệnh sống tại nhà sau đột quỵ mức độ nhẹ đến trung bình, các liệu pháp phục hồi chức năng từ xa là những lựa chọn thay thế hợp lý cho trị liệu trực tiếp khi khả năng tiếp cận dịch vụ trực tiếp bị hạn chế hoặc không có sẵn.7–11
2a C-LD 4. Đối với người bệnh đột quỵ mức độ nhẹ đến trung bình, việc tham gia vào các chương trình tập luyện thể dục tại cộng đồng có thể hữu ích để nâng cao sức mạnh cơ bắp, khả năng vận động và sức khỏe tim mạch.12–16
2b C-LD 5. Đối với người bệnh đột quỵ, việc phối hợp đồng bộ các dịch vụ giáo dục, trị liệu và hỗ trợ trong suốt quá trình chuyển tiếp từ bệnh viện về nhà có thể là giải pháp hợp lý để nâng cao sự tự tin về năng lực bản thân, khả năng chức năng và chất lượng cuộc sống của người bệnh.17–21

Tóm lược tổng quan

Trong những thập kỷ gần đây, thời gian nằm viện cấp tính trung bình của bệnh nhân đột quỵ tại Hoa Kỳ đã rút ngắn xuống chỉ còn khoảng 4 đến 6 ngày, và thời gian phục hồi chức năng nội trú tiếp sau đó thường chỉ kéo dài từ 10 đến 14 ngày.22 Dù khung thời gian nằm viện bị rút ngắn, quá trình hồi phục chức năng chi trên và dáng đi vẫn thường tiếp diễn từ 2 đến 6 tháng sau đột quỵ.23,24 Do đó, khả năng tiếp cận các dịch vụ phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng đóng vai trò sống còn để hỗ trợ quá trình hồi phục chức năng liên tục. Mặc dù các dịch vụ phục hồi chức năng ngoại trú tại bệnh viện hoặc phòng khám có thể phục vụ những người sống tại nhà, nhưng các rào cản như khó khăn về phương tiện đi lại và sự thiếu hụt dịch vụ tại địa phương có thể cản trở sự tiếp cận này.25 Các lựa chọn thay thế tại cộng đồng—bao gồm dịch vụ y tế tại nhà, phục hồi chức năng từ xa và các chương trình tập luyện thể dục tại khu dân cư được thiết kế riêng cho bệnh nhân đột quỵ—hoàn toàn có thể giúp người bệnh đạt được các mục tiêu chức năng đề ra.

Văn bản bổ trợ chi tiết cho từng khuyến cáo

  1. Nhiều bệnh nhân đột quỵ khi xuất viện trực tiếp từ các đơn vị đột quỵ cấp hoặc sau đợt nằm viện phục hồi chức năng sau cấp tính vẫn còn những khiếm khuyết di chứng từ nhẹ đến trung bình. Bằng chứng từ các nghiên cứu về Dịch vụ Xuất viện Sớm có Hỗ trợ (ESD) (đã điểm tại mục 2.1) khẳng định rằng phục hồi chức năng tại cộng đồng mang lại hiệu quả rõ rệt cho những người còn tàn tật mức độ trung bình, giúp họ đạt được sự hồi phục chức năng có ý nghĩa và tránh nguy cơ phải quay lại các cơ sở chăm sóc nội trú dài hạn.1
  2. Các dịch vụ phục hồi chức năng đa chuyên khoa tại nhà có thể hỗ trợ hiệu quả cho tiến trình phục hồi đột quỵ, đặc biệt khi có sự tham gia tích cực của gia đình hoặc người chăm sóc. Hiệu quả của các dịch vụ này tương đương với phục hồi chức năng tại bệnh viện hoặc phòng khám trong việc đạt được các mục tiêu chức năng. Một phân tích gộp gồm 49 nghiên cứu RCT so sánh phục hồi chức năng tại nhà với chăm sóc thông thường đã chứng minh tác động tích cực ở mức độ trung bình đối với tính độc lập chức năng, trong đó kết quả thuận lợi nhất được ghi nhận ở những người trẻ tuổi, người bị đột quỵ lần đầu và những người được can thiệp trong vòng 6 tháng kể từ khi khởi phát.2 Hai tổng quan hệ thống của Nascimento và cộng sự (lần lượt gồm 8 và 9 nghiên cứu RCT) nhận thấy phục hồi chức năng tại nhà mang lại kết quả phục hồi vận động, sự khéo léo của chi trên, tốc độ đi bộ, thăng bằng và sinh hoạt hàng ngày tương đương với điều trị tập trung tại trung tâm.5,6 Thêm vào đó, một phân tích gộp độc lập trên 46 nghiên cứu RCT báo cáo rằng bệnh nhân nhận dịch vụ tại nhà có khả năng thực hiện ADL vượt trội hơn, cho thấy việc tập luyện trong môi trường quen thuộc có thể nâng cao tính độc lập trong các hoạt động tự chăm sóc.3 Hơn nữa, sự hỗ trợ cảm xúc và tư vấn do điều dưỡng, nhân viên công tác xã hội hoặc các chuyên gia khác cung cấp ngay tại nhà giúp giảm nhẹ các triệu chứng trầm cảm so với chăm sóc thường quy.4 Những phát hiện này nhấn mạnh giá trị to lớn của việc tích hợp hỗ trợ người chăm sóc và các can thiệp cá nhân hóa tại nhà vào chiến lược phục hồi chức năng đột quỵ.
  3. Trong đại dịch COVID-19, các liệu pháp phục hồi chức năng từ xa đã được áp dụng rộng rãi để duy trì quá trình trị liệu khi không thể gặp mặt trực tiếp. Sau đại dịch, giá trị sử dụng của phương thức này vẫn tiếp tục được duy trì, đặc biệt đối với những bệnh nhân gặp rào cản về mặt địa lý, thể chất hoặc khó tiếp cận dịch vụ tại phòng khám/tại nhà.25 Y văn hiện tại đánh giá về phục hồi chức năng từ xa có đặc điểm là tính không đồng nhất lớn giữa các thử nghiệm, dẫn đến chất lượng bằng chứng chỉ ở mức thấp đến trung bình.26 Các công nghệ tương tác và truyền thông được nghiên cứu bao gồm điện thoại, internet, thực tế ảo (VR), và theo dõi hiệu suất thông qua các cảm biến hoặc thiết bị đeo. Dẫu vậy, các nghiên cứu RCT và tổng quan hệ thống nhìn chung đều ủng hộ tính tương đương của phục hồi chức năng từ xa so với liệu pháp trực tiếp truyền thống hoặc chăm sóc thông thường trong việc thúc đẩy hồi phục chức năng ở bệnh nhân có khiếm khuyết từ nhẹ đến trung bình.7,9,10,26–29 Một thử nghiệm lâm sàng trên các bệnh nhân có khiếm khuyết vận động chi trên từ nhẹ đến nặng (thực hiện trong khoảng từ 4 đến 36 tuần sau đột quỵ) chứng minh rằng phục hồi chức năng từ xa sử dụng trò chơi điện tử trên máy tính không hề thua kém so với trị liệu tay trực tiếp tại phòng khám, bất kể thời gian tổn thương đã trôi qua bao lâu.8 Thêm vào đó, một nghiên cứu so sánh chương trình phục hồi chức năng từ xa để huấn luyện chi trên ở bệnh nhân đột quỵ mạn tính với nhóm chứng theo vùng địa lý chỉ nhận can thiệp tối thiểu đã báo cáo kết quả vượt trội ở nhóm trị liệu từ xa.30 Bằng chứng về tác động của phục hồi chức năng từ xa đối với chức năng thăng bằng còn chưa nhất quán và chất lượng thấp, nhưng một tổng quan Cochrane nhìn chung ủng hộ tính không thua kém của nó so với chăm sóc trực tiếp.11,26,31–33 Tuy nhiên, dữ liệu hiện tại chưa đủ để ủng hộ việc sử dụng trị liệu từ xa như một phương thức thực tế, an toàn hoặc hiệu quả cho việc huấn luyện dáng đi.
  4. Tập thể dục sau giai đoạn phục hồi chức năng đóng vai trò thiết yếu đối với người bệnh đột quỵ, tuy nhiên các trung tâm thể hình thông thường thường thiếu các điều kiện thích ứng phù hợp. Các chương trình tập thể dục thích ứng dựa vào cộng đồng đã chứng minh nhiều lợi ích lâm sàng mặc dù chất lượng bằng chứng còn hạn chế. Trong một thử nghiệm không ngẫu nhiên, một chương trình kéo dài 8 tuần cho những người bị liệt nửa người mức độ nhẹ đến trung bình đã giúp cải thiện sức bền dáng đi, khả năng thăng bằng, hiệu suất thể chất và chất lượng cuộc sống tại thời điểm 16 tuần, đồng thời duy trì sự tiến bộ về ADL và giảm nhu cầu trị liệu chính thức tại thời điểm 12 tháng. Bệnh nhân tham gia cũng ít bị gãy xương hơn.12,15 Ngoài ra, một phân tích đoàn hệ hồi cứu về chương trình phục hồi chức năng tim mạch thích ứng cho thấy nguy cơ tử vong giảm gấp 4 lần cùng với sự cải thiện chức năng tim mạch và thể chất tại thời điểm 1 năm sau đột quỵ.13 Ngược lại, các chương trình cộng đồng chỉ tập trung chủ yếu vào giáo dục mà thiếu hoạt động thể chất không mang lại tiến bộ chức năng nào so với chăm sóc thông thường.14
  5. Các chương trình phục hồi chức năng chuyển tiếp tại bệnh viện và tại nhà mang lại lợi ích lâm sàng rõ ràng cho người bệnh đột quỵ chuyển từ khu điều trị cấp sang môi trường cộng đồng. Dù vậy, mức độ đầu tư nguồn lực cần thiết vẫn chưa được xác định chắc chắn. Một tổng quan hệ thống gồm 30 nghiên cứu nhận thấy việc huấn luyện sức khỏe (health coaching), theo dõi có cấu trúc qua điện thoại và thăm khám tại nhà sau xuất viện có thể cải thiện ADL, chất lượng cuộc sống và sự tự tin vào năng lực bản thân của người bệnh.34 Các chương trình do điều dưỡng dẫn dắt cho kết quả hỗn hợp: Duncan và cộng sự18 báo cáo không có sự cải thiện về điểm số Thang Đánh giá Tác động Đột quỵ (SIS), trong khi Wong và cộng sự21 lại ghi nhận sự tiến bộ trên Thang khảo sát SF-36 và mức độ hài lòng của người bệnh. Đáng chú ý, các nhóm chăm sóc chuyển tiếp bao gồm cả bác sĩ và điều phối viên thường gắn liền với kết cục tốt hơn.20 Các chương trình do chuyên viên hoạt động trị liệu dẫn dắt hướng tới sự độc lập tại nhà thông qua các can thiệp định hướng mục tiêu cho thấy hiệu quả khác nhau: Bollinger và cộng sự17 không thấy tác động lên Chỉ số Tái hòa nhập Cuộc sống Bình thường (RNLI), trong khi Krauss và cộng sự19 lại ghi nhận tỷ lệ tử vong giảm và tỷ lệ chuyển vào viện dưỡng lão thấp hơn. Các chương trình chuyển tiếp do điều dưỡng phụ trách tập trung vào người chăm sóc giúp nâng cao hiểu biết sức khỏe, năng lực chăm sóc và giảm bớt căng thẳng cho thân nhân.34–36 Mặc dù có những lợi ích này, dữ liệu về hiệu quả - chi phí (cost-effectiveness) của các chương trình phục hồi chuyển tiếp từ bệnh viện về nhà hiện vẫn còn thiếu hụt.

Khoảng trống nghiên cứu và Định hướng nghiên cứu tương lai

  • Chỉ định lâm sàng cho phục hồi chức năng từ xa sau đột quỵ cần được xác định rõ ràng hơn. Bằng chứng hiện tại cho thấy trị liệu từ xa có lợi thế tương đối đối với việc huấn luyện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày (ADL), trong khi phục hồi dáng đi lại phù hợp hơn với hình thức trị liệu trực tiếp.27,33 Hơn nữa, các công cụ đo lường kết cục truyền thống trong phục hồi chức năng đột quỵ chưa được chuẩn hóa cho đánh giá từ xa, mặc dù các công cụ theo dõi hoạt động bằng thiết bị có thể là một giải pháp thay thế khả thi.37 Cần nghiên cứu sâu hơn để hiểu rõ các yếu tố chi phối sở thích của bệnh nhân đối với phục hồi chức năng từ xa, bao gồm khả năng tiếp cận, hiệu quả cảm nhận và các yếu tố tâm lý - xã hội.28
  • Các công nghệ mới nổi như thực tế ảo (VR) và robot đã bắt đầu được khám phá để ứng dụng trong phục hồi chức năng đột quỵ tại nhà.38,39 Tuy nhiên, dữ liệu so sánh hiệu quả của chúng với trị liệu trực tiếp truyền thống tại nhà hoặc trị liệu từ xa có chuyên viên hướng dẫn vẫn còn rất hạn chế. Bằng chứng hiện nay vẫn chưa làm sáng tỏ liệu các công nghệ này mang lại lợi ích vượt trội, tương đương hay chỉ mang tính bổ trợ trong quá trình hồi phục chức năng. Rất cần có thêm nghiên cứu để xác định chỉ định lâm sàng, tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân và chiến lược triển khai các công nghệ phục hồi chức năng trong môi trường gia đình.

7.5. Chức năng Tình dục

Khuyến cáo về Chức năng Tình dục
Các nghiên cứu hỗ trợ được tóm tắt trong tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Nội dung khuyến cáo
2b B-NR 1. Đối với người bệnh đột quỵ, các nhân viên y tế chủ động thảo luận và trao đổi về các vấn đề liên quan đến chức năng tình dục có thể là việc làm hợp lý.1–9

Tóm lược tổng quan

Rối loạn chức năng tình dục được báo cáo ở hơn 50% số người sau đột quỵ, nhưng tình trạng này thường không được nhận diện và chưa được các nhân viên y tế giải quyết thỏa đáng vì nhiều lý do khác nhau.1,2–4 Nhân viên y tế có thể chưa sẵn sàng trao đổi về vấn đề tình dục với bệnh nhân và bạn đời của họ do thiếu sự đào tạo bài bản và có cấu trúc.2,3,8,9 Mặc dù đã có các khuyến cáo trước đây, nhu cầu lồng ghép vấn đề sức khỏe tình dục một cách có hệ thống và đa chuyên khoa vào các chương trình phục hồi chức năng vẫn tiếp tục là một đòi hỏi cấp thiết.10

Văn bản bổ trợ chi tiết cho từng khuyến cáo

  1. Tình dục là một khía cạnh quan trọng cấu thành chất lượng cuộc sống của người bệnh đột quỵ và bạn đời của họ. Mặc dù rối loạn chức năng tình dục xuất hiện ở cả nam và nữ thuộc mọi lứa tuổi5 với biểu hiện triệu chứng rất đa dạng ở từng cá nhân, người bệnh cho biết tỷ lệ gặp rối loạn tình dục sau đột quỵ là rất cao nhưng không được nhân viên y tế giải quyết đầy đủ hoặc hoàn toàn bị bỏ qua.2–4 Thêm vào đó, y văn về công tác đánh giá, điều trị và các khuyến cáo cho chương trình phục hồi chức năng còn rất khan hiếm. Nhiều nghiên cứu kết luận rằng bệnh nhân đột quỵ và bạn đời rất mong muốn nhận được nhiều thông tin hơn về vấn đề tình dục từ nhân viên y tế.6 Họ có nhiều mối bận tâm về tình dục nhưng lại e ngại mở lời do tâm lý ngượng ngùng hoặc các rào cản văn hóa.1,7 Về phía nhân viên y tế, họ cũng ngần ngại đề cập đến chủ đề này vì áp lực thời gian, niềm tin văn hóa hoặc thiếu hụt kiến thức chuyên môn.1,7–9 Việc tăng cường đào tạo, dành thời gian thỏa đáng và có sự hỗ trợ từ tổ chức sẽ tác động mạnh mẽ đến kiến thức, sự tự tin và thực hành lâm sàng của cán bộ y tế. Thực hành tự phản chiếu và ứng dụng các mô hình như mô hình PLISSIT (Permission - Cho phép, Limited Information - Thông tin giới hạn, Specific Suggestions - Gợi ý cụ thể, và Intensive Therapy - Trị liệu chuyên sâu) có thể trao quyền cho các nhân viên y tế giải quyết hiệu quả các mối bận tâm này cho người bệnh đột quỵ.9 Nhân viên y tế nên chủ động tạo cơ hội để trao đổi với bệnh nhân và tìm hiểu nguyên nhân gây rối loạn chức năng tình dục, bất kể người bệnh ở độ tuổi nào. Những cuộc trò chuyện này nên được thực hiện ở mọi giai đoạn chăm sóc sau đột quỵ. Đánh giá toàn diện cần xem xét các bệnh đồng mắc như đái tháo đường, tăng huyết áp, tăng lipid máu, béo phì, hút thuốc lá, các khía cạnh tâm lý (lo âu và trầm cảm), tác dụng phụ của thuốc,11 các khiếm khuyết thể chất và chức năng do đột quỵ, sự thiếu hiểu biết, các lo ngại về an toàn, sự thay đổi vai trò trong gia đình và sự suy giảm ham muốn tình dục.1

Khoảng trống nghiên cứu và Định hướng nghiên cứu tương lai

  • Phát triển các công cụ đánh giá toàn diện, nhạy cảm giới và đã được kiểm định giá trị khoa học.
  • Tích hợp thường quy vấn đề sức khỏe tình dục vào các chương trình phục hồi chức năng đột quỵ có cấu trúc.
  • Chuẩn hóa công tác đào tạo cho nhân viên y tế.
  • Ưu tiên triển khai các thử nghiệm lâm sàng lớn, thiết kế chặt chẽ trên các quần thể bệnh nhân đa dạng với thời gian theo dõi dài hạn.
  • Chú trọng nghiên cứu sâu hơn về rối loạn chức năng tình dục ở nữ giới và các can thiệp tập trung vào các cặp đôi.

7.6. Tham gia Hoạt động Vui chơi, Giải trí và Xã hội

Khuyến cáo về Tham gia Hoạt động Vui chơi, Giải trí và Xã hội
Các nghiên cứu hỗ trợ được tóm tắt trong tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Nội dung khuyến cáo
1 B-NR 1. Đối với người bệnh đột quỵ giai đoạn bán cấp và mạn tính, khuyến nghị thiết lập kế hoạch đánh giá và điều trị cá nhân hóa để giải quyết những thay đổi trong mô hình tham gia hoạt động giải trí và xã hội, nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống, sức khỏe và mức độ thỏa mãn với hoạt động giải trí.1–4
1 B-NR 2. Đối với người bệnh đột quỵ, khuyến nghị thực hiện sàng lọc và trao đổi về sức khỏe xã hội—bao gồm tình trạng cô lập xã hội, cảm giác cô đơn và sự hạn chế trong các mạng lưới cũng như nguồn hỗ trợ xã hội—nhằm giảm thiểu tỷ lệ tử vong sau đột quỵ, giảm nguy cơ đột quỵ tái phát và nâng cao chất lượng cuộc sống.5–9
2a B-R 3. Đối với người trưởng thành sống tại cộng đồng sau đột quỵ, việc cung cấp các chương trình giáo dục và tư vấn giải trí được thiết kế riêng biệt liên quan đến việc tham gia các hoạt động giải trí lành mạnh và có ý nghĩa có thể mang lại lợi ích trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống; chức năng tâm lý; mức độ thỏa mãn, sự gắn kết và năng lực trong hoạt động giải trí; đồng thời giảm thiểu các rào cản nhận thức đối với hoạt động giải trí.10
Khuyến cáo dựa trên từng hoạt động cụ thể*†
1 B-NR 4. Đối với người bệnh đột quỵ, khuyến nghị tạo điều kiện cho việc duy trì thường xuyên hoạt động thể chất trong thời gian rảnh rỗi (LTPA) có ý nghĩa cá nhân thông qua giáo dục cá nhân hóa, tư vấn, hỗ trợ từ người chăm sóc và các chương trình chuyên biệt nhằm tăng cường sức khỏe toàn diện và giảm nguy cơ tử vong sau đột quỵ.11–16
2a B-R 5. Đối với người bệnh đột quỵ, việc lồng ghép các hoạt động hòa nhập với thiên nhiên và tiếp xúc với không gian xanh có thể mang lại lợi ích trong việc giảm mức độ khuyết tật và nguy cơ tử vong do đột quỵ, đồng thời cải thiện các chức năng thể chất, nhận thức, xã hội và tâm lý; nâng cao cảm giác hạnh phúc và chất lượng cuộc sống.17
2b B-R 6. Đối với người bệnh đột quỵ, việc lồng ghép các hoạt động giải trí và thư giãn dựa trên bằng chứng—chẳng hạn như thái cực quyền, khí công, trò chơi vận động điện tử thương mại (exergames), nghệ thuật thị giác, yoga, thể thao thích ứng, âm nhạc, trò chơi video nhập vai thương mại, Pilates và khiêu vũ—có thể là hợp lý để hỗ trợ sức khỏe và tiến trình phục hồi.18–27
*Mặc dù hoạt động giải trí của mỗi cá nhân mang tính cá nhân hóa và phụ thuộc ngữ cảnh sâu sắc, hãy cân nhắc áp dụng các hoạt động dựa trên bằng chứng cho những người có thể dung nạp và tham gia an toàn.
†Vui lòng xem Bảng 11 để biết mô tả chi tiết hơn về các hoạt động này.

Tóm lược tổng quan

Tham gia vào các hoạt động giải trí có ý nghĩa cá nhân là yếu tố then chốt quyết định sức khỏe và chất lượng cuộc sống; tuy nhiên, khía cạnh này chưa luôn được tích hợp hoặc nhấn mạnh một cách có hệ thống trong thực hành y tế.3 Hoạt động giải trí trước đột quỵ là một chỉ dấu tiên lượng tiềm năng cho chức năng điều hành sau đột quỵ, nêu bật tầm quan trọng của các hoạt động thư giãn trước biến cố trong việc bồi đắp dự trữ nhận thức (cognitive reserve).28–30 Sau đột quỵ, mô hình giải trí thường có xu hướng suy giảm về hoạt động nhận thức, trở nên ít vận động hơn, mang tính đơn độc, thu hẹp trong không gian gia đình, giảm cả về số lượng, loại hình và phạm vi hoạt động; từ đó dẫn đến những tác động tiêu cực lên sức khỏe thể chất và tinh thần (bao gồm sự cô đơn), làm tăng nguy cơ tử vong và nguy cơ đột quỵ tái phát.1–3,5,7,8,9,31

Sở thích, năng lực, nguyện vọng, mức độ hài lòng, mục tiêu, yếu tố tạo thuận và rào cản giải trí của mỗi người là hoàn toàn độc nhất. Sự độc nhất này đòi hỏi phải có một quy trình đánh giá và kế hoạch điều trị cá nhân hóa để giải quyết những thay đổi trong mô hình tham gia giải trí và xã hội;1–4,10,31–42 cung cấp giáo dục và tư vấn giải trí được thiết kế riêng;10 đồng thời phát triển các kỹ năng, kiến thức và sự hỗ trợ cần thiết để hướng tới một lối sống giải trí lành mạnh, toàn diện. Dù hoạt động giải trí mang tính cá nhân hóa cao, y văn chỉ ra rằng một số hoạt động đem lại hiệu quả rõ rệt, bao gồm LTPA,11–16,43,44 hoạt động hòa nhập thiên nhiên/tiếp xúc không gian xanh, thái cực quyền,18,19,45–50 khí công,19,47–49 trò chơi vận động điện tử thương mại,26,51,52 nghệ thuật thị giác,25,53–55 yoga,20,48,49 thể thao thích ứng,23,56,57 hoạt động âm nhạc, trò chơi video nhập vai thương mại, Pilates,21,49 và khiêu vũ. Dù vậy, mức độ bằng chứng ủng hộ hiệu quả của các hoạt động này có sự khác biệt nhất định.

Văn bản bổ trợ chi tiết cho từng khuyến cáo

  1. Việc tham gia vào nhiều hoạt động kích thích trí tuệ và xã hội xuyên suốt cuộc đời (bao gồm cả các hoạt động giải trí) giúp xây dựng nguồn dự trữ nhận thức, đóng vai trò như một tấm đệm giảm thiểu sự suy giảm nhận thức sau đột quỵ và thúc đẩy quá trình hồi phục.28–30 Sau đột quỵ, người bệnh rất thường suy giảm các hoạt động giải trí kích thích nhận thức, chuyển sang lối sống tĩnh tại, cô lập tại nhà, thu hẹp số lượng và chủng loại hoạt động, gây tác động tiêu cực đến sức khỏe thể chất và tinh thần.1–3,31,40 Mức độ tham gia hoạt động giải trí sau đột quỵ giảm từ 10% đến 40%, với mức giảm trung bình là 22%.1 Sự suy giảm này càng trở nên rõ nét theo thời gian,4 với nhiều hạn chế tham gia hơn cùng mong muốn được tham gia nhiều hơn ở những người trẻ tuổi sau đột quỵ.2 Các rào cản và yếu tố tạo thuận đối với việc tham gia giải trí và xã hội có ý nghĩa bao gồm các yếu tố cá nhân (kiến thức, thói quen, niềm tin, giá trị, mục tiêu hoạt động, tính độc lập chức năng, chức năng tâm lý/thể chất/nhận thức) và các yếu tố môi trường (thiết bị thích ứng, phương tiện đi lại, dịch vụ, thông tin, thái độ của người xung quanh, thời tiết, hỗ trợ xã hội, nghĩa vụ gia đình, môi trường vật lý, lời nhắc nhở, lịch trình định sẵn). Động lực và cơ hội từ môi trường,36 khả năng phục hồi tâm lý cao hơn,42 phong cách ứng phó tích cực,33 mức độ hài lòng cao hơn với môi trường sống,33 ít cảm nhận thấy giới hạn năng lực,33 và sự hỗ trợ xã hội34 là những yếu tố dự báo sự gia tăng tham gia giải trí và xã hội. Ngược lại, mức độ nghiêm trọng của đột quỵ,39 triệu chứng trầm cảm,4,35 và nhiều di chứng đột quỵ33,35,41 dự báo sự sụt giảm tham gia. Ở người trẻ tuổi bị đột quỵ, sự hạn chế tham gia các hoạt động giải trí tích cực liên quan mật thiết đến khó khăn trong giao tiếp, gia tăng trầm cảm, suy giảm khả năng vận động và tình trạng sống neo đơn; điều này đòi hỏi các can thiệp bền vững và sự hỗ trợ toàn diện.40 Sự tham gia vào hoạt động giải trí và cộng đồng còn là yếu tố dự báo sớm cho tính độc lập vận động chức năng và sự hỗ trợ xã hội về sau; đồng thời sự gắn kết xã hội là yếu tố dự báo tích cực cho mức độ hài lòng cuộc sống cao hơn, khẳng định rằng sự tham gia vừa là kết cục phục hồi vừa là yếu tố dự báo quan trọng.32 Người chăm sóc bệnh nhân đột quỵ cũng bị suy giảm sự tham gia vào các hoạt động có giá trị, dẫn đến cô lập xã hội và suy giảm sức khỏe tinh thần; tuy nhiên, các chiến lược duy trì hoạt động cho đối tượng này cần được nghiên cứu thêm.58–60
  2. Sự cô đơn và cô lập xã hội đã được Tổng Y sĩ Hoa Kỳ cảnh báo như một đại dịch đáng lo ngại.61 Bệnh nhân sau đột quỵ rất thường trải qua sự cô lập xã hội, thiếu hụt mạng lưới/hỗ trợ xã hội và cảm giác cô đơn (Bảng 9).3,6,61,62 Một phân tích thứ cấp quy mô lớn trên bệnh nhân sau đột quỵ (\(n = 140.953\)) ghi nhận mức độ cô đơn rất cao,8 một nghiên cứu khác (\(n = 244\)) nhận thấy cứ 3 người sau đột quỵ thì có 1 người rơi vào tình trạng cô đơn.5,9 Một tổng quan hệ thống lớn gồm 19 nghiên cứu (\(n = 1.675.707\)) với thời gian theo dõi từ 4 tháng đến 30 năm khẳng định rằng cô lập xã hội, mạng lưới xã hội hạn chế, thiếu hỗ trợ xã hội và cô đơn đều gắn liền với nguy cơ tử vong cao sau đột quỵ.7 Các nghiên cứu khác chỉ ra mối quan hệ xã hội kém sau đột quỵ làm tăng 32% nguy cơ đột quỵ tái phát,8 và sự cô đơn dự báo chất lượng cuộc sống suy giảm.63 Bất chấp tầm quan trọng của việc phải sàng lọc (Bảng 10) và can thiệp sự cô đơn, dữ liệu về các yếu tố liên quan và các biện pháp can thiệp hiện còn rất thiếu hụt.5,6,62,64 Một tổng quan gần đây gợi ý rằng việc cải thiện năng lực chức năng, nâng cao kỹ năng xã hội, cung cấp hỗ trợ xã hội, gia tăng cơ hội tương tác và điều chỉnh nhận thức xã hội lệch lạc có thể mang lại hữu ích, nhưng cần có thêm các nghiên cứu kiểm chứng.43 Một nghiên cứu khác kêu gọi xác định các giải pháp lâm sàng mới như "kê đơn xã hội" (social prescriptions) song hành với các phác đồ chuẩn nhằm chú trọng vào các kết nối xã hội chất lượng.5
  3. Giáo dục giải trí (leisure education) tập trung vào việc trang bị kiến thức cho người bệnh về hoạt động giải trí (nhận thức giải trí), các nguồn lực giải trí, và cách vượt qua rào cản cũng như củng cố các yếu tố tạo thuận; trong khi tư vấn giải trí (leisure counseling) tập trung vào việc khám phá thái độ, cảm xúc và giá trị giải trí của từng cá nhân để xóa bỏ trở ngại và thúc đẩy sự gắn kết giải trí lành mạnh.10 Mặc dù giáo dục và tư vấn giải trí thường được kết hợp chặt chẽ, hai thuật ngữ này đôi khi được dùng thay thế cho nhau.10 Thêm vào đó, y văn có thể chỉ đề cập đến 1 phương pháp dù cả 2 đều được áp dụng. Một tổng quan hệ thống gần đây về giáo dục và tư vấn giải trí ghi nhận 3 nghiên cứu—gồm 2 thử nghiệm RCT65,66 và 1 nghiên cứu bán thực nghiệm67 với cỡ mẫu nhỏ trên người trưởng thành sau đột quỵ sống tại cộng đồng (tổng \(n = 86\)). Hai nghiên cứu RCT áp dụng cùng một chương trình giáo dục/tư vấn giải trí 12 bước cho các bệnh nhân có suy giảm nhận thức nhẹ tại nhà và cộng đồng trong 1 giờ/tuần kéo dài 8–12 tuần; nghiên cứu bán thực nghiệm triển khai chương trình theo nhóm cho các cặp vợ chồng trong 5 buổi kéo dài 8 tuần. Việc cung cấp giáo dục/tư vấn giải trí đã giúp cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống, mức độ hài lòng giải trí, thực hành giải trí tự chủ, năng lực giải trí, đồng thời làm giảm trầm cảm và các rào cản giải trí.65–67 Dù vậy, các kết quả này cần được diễn giải thận trọng do tính không đồng nhất của các nghiên cứu với cỡ mẫu nhỏ và chất lượng chưa đồng đều.
  4. Duy trì thường xuyên hoạt động thể chất mang lại lợi ích to lớn cho sức khỏe và tiến trình phục hồi sau đột quỵ (xem mục 5.1 "Hoạt động thể chất" và mục 5.8 "Thay đổi và Quản lý Lối sống"), đồng thời làm giảm nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân.12,16 Mặc dù mức độ hoạt động thể chất và sự tuân thủ chương trình tập luyện tại nhà sau đột quỵ nhìn chung là rất thấp,68,69 việc chú trọng vào các hoạt động thể chất trong thời gian rảnh rỗi (LTPA) được cá nhân hóa hoàn toàn có tiềm năng nâng cao sự tham gia của người bệnh.15 Các nghiên cứu định tính chỉ ra rằng sự tham gia tích cực và bền vững vào hoạt động thể chất chịu sự chi phối của kết nối và hỗ trợ xã hội,11,13,15 sự tự tin vào năng lực bản thân,11,15 cảm giác kiểm soát,14 và những trải nghiệm thể chất - tâm lý tích cực.13,15 Điều này đạt được thông qua các hoạt động LTPA phản ánh đúng sở thích và bản sắc cá nhân trước đột quỵ, thay vì chỉ là những bài tập đơn thuần nhắm vào từng chức năng cơ thể riêng biệt.11,14,15 Các yếu tố khác hỗ trợ sự gắn kết LTPA bao gồm: niềm tin hành vi mạnh mẽ,13 tính thực tế của hoạt động,15 chương trình can thiệp nhóm và trò chơi tập luyện phù hợp với năng lực và sở thích,13 thói quen LTPA, lời nhắc nhở và thiết bị theo dõi hoạt động,13 cùng việc sử dụng các chương trình LTPA chính quy cho những người có sự tự tin thấp hoặc có lối sống tĩnh tại trước đột quỵ.11 Nghiên cứu cũng chỉ ra các trở ngại đối với LTPA gồm: các triệu chứng khó chịu, rào cản môi trường, các yếu tố liên quan đến người chăm sóc, trải nghiệm tâm lý tiêu cực và sự hiểu biết chưa đầy đủ về hoạt động thể chất.13 Bằng cách thấu hiểu các yếu tố này, nhân viên y tế có thể phối hợp chặt chẽ với người bệnh để giúp họ khôi phục các hoạt động LTPA có giá trị hoặc xây dựng chiến lược hướng tới lối sống năng động hơn.11
  5. Một tổng quan hệ thống năm 2025 gồm 38 nghiên cứu (\(n = 39.084\)) nhận thấy trong giai đoạn sớm của phục hồi đột quỵ, việc ngắm nhìn các yếu tố ngoài trời và thiên nhiên giúp tạo ra cảm giác thanh thản và hạnh phúc; trị liệu trong không gian vườn ngoài trời cải thiện các hành vi có chủ đích; và ánh sáng, âm thanh, hình ảnh tự nhiên giúp giảm tâm trạng trầm cảm, lo âu, mệt mỏi và nâng cao chất lượng cuộc sống.17 Đối với các hoạt động hòa nhập thiên nhiên cụ thể: liệu pháp đắm mình trong rừng (tắm rừng - shinrin-yoku) giúp giảm trầm cảm, lo âu, căng thẳng và mức độ tàn tật chức năng; làm vườn giúp cải thiện các chức năng tâm lý, thể chất, xã hội, nhận thức cũng như ADL và chất lượng cuộc sống; lướt sóng cải thiện các chức năng cảm xúc - tâm lý, thể chất và mang lại cơ hội kết nối lại với sở thích và bản sắc cá nhân; đi dạo ven biển giúp cải thiện chức năng thể chất và cảm giác hạnh phúc.17 Việc sống gần không gian xanh có mối liên hệ mật thiết với việc giảm mức độ khuyết tật và tử vong sau đột quỵ,17 điều này cũng được củng cố trong một tổng quan hệ thống khác gồm 27 nghiên cứu (bao gồm từ 374 người tham gia đến đoàn hệ dân số 4,3 triệu người).70 Bất chấp sự biến thiên giữa các nghiên cứu, các nhà khoa học khuyến nghị các nhà thiết kế đô thị, cơ sở y tế, nhân viên y tế và bệnh nhân đột quỵ nên lồng ghép thiên nhiên vào bất cứ nơi nào có thể nhằm tận dụng tiềm năng to lớn của nó trong phục hồi đột quỵ.17
  6. Ở người bệnh đột quỵ, thái cực quyền,18,45–50,71 khí công,19,47–49 yoga,20,48,49,72 Pilates,21,49 khiêu vũ,22,73,74 thể thao thích ứng,23,56,57,75,76 hoạt động âm nhạc,24,77,78 nghệ thuật thị giác,25,53–55 trò chơi vận động điện tử thương mại,26,51,52 và trò chơi video nhập vai thương mại27 có thể được xem xét như những liệu pháp bổ trợ để tăng cường kết cục phục hồi chức năng và mức độ tham gia. Nhìn chung, các can thiệp này đại diện cho một phổ rộng các phương pháp tiếp cận dựa trên trải nghiệm, vận động, giải trí và thân - tâm, giúp khuyến khích người bệnh gắn kết vào các hoạt động có ý nghĩa và thú vị. Mặc dù có sự khác biệt về nền tảng lý thuyết, hình thức tổ chức và liều lượng, điểm chung của chúng là tích hợp vận động thể chất với sự gắn kết nhận thức và tham gia tâm lý - xã hội. Bằng chứng cho thấy tiềm năng cải thiện chức năng vận động, thăng bằng, di chuyển, kết cục chi trên và chi dưới, song hành với sự tiến bộ về sức khỏe tâm lý, tâm trạng, sự tự tin, mức độ tham gia và chất lượng cuộc sống. Nhiều phương thức còn giúp củng cố kết nối xã hội, bản sắc cá nhân và điều hòa cảm xúc, hỗ trợ quá trình phục hồi đột quỵ toàn diện. Tuy nhiên, bằng chứng tổng thể vẫn còn hạn chế do tính không đồng nhất của can thiệp và thước đo kết cục, chất lượng phương pháp luận chưa đồng đều, cỡ mẫu nhỏ và nguy cơ sai lệch. Do đó, các kết quả cần được diễn giải cẩn trọng và việc áp dụng lâm sàng phải được cá nhân hóa theo sở thích, năng lực và hoàn cảnh của từng người bệnh. Xem Bảng 11 để biết mô tả chi tiết từng hoạt động, kết cục liên quan, bằng chứng hỗ trợ và hạn chế.
Bảng 9. Định nghĩa về các Yếu tố Sức khỏe Xã hội
Thuật ngữ Định nghĩa
Sự cô đơn (Loneliness) Một trải nghiệm đau khổ mang tính chủ quan xuất phát từ cảm nhận bị cô lập hoặc thiếu hụt các mối quan hệ có ý nghĩa; trong đó "thiếu hụt" phản ánh sự chênh lệch hoặc nhu cầu chưa được đáp ứng giữa trải nghiệm thực tế và mong muốn của cá nhân.
Cô lập xã hội (Social isolation) Tình trạng khách quan khi một cá nhân có rất ít mối quan hệ xã hội, ít vai trò xã hội, không tham gia các hội nhóm và rất hiếm khi có tương tác xã hội.
Mạng lưới xã hội (Social networks) Tập hợp các cá nhân và hội nhóm mà một người có kết nối, cùng các mối liên kết đan xen giữa các mối quan hệ đó. "Mạng lưới kết nối xã hội" này tạo nên cấu trúc nền tảng cho nhiều chức năng kết nối xã hội vận hành.
Hỗ trợ xã hội (Social support) Sự sẵn có (thực tế hoặc trong cảm nhận) của các nguồn lực thông tin, vật chất cụ thể và cảm xúc từ những người xung quanh, thông thường là từ chính mạng lưới xã hội của cá nhân.
Bảng 10. Các Công cụ Đánh giá Cô lập Xã hội và Sự Cô đơn có Đặc tính Tâm trắc học từ Tốt đến Mạnh43
Lĩnh vực Tên công cụ đánh giá
Cô lập xã hội
  • Thang đo Mạng lưới Xã hội Lubben - 6 mục (LSNS-6)
  • Thang đo Mạng lưới Xã hội Lubben (LSNS), 18 mục
  • Thang đo Mạng lưới Xã hội Đột quỵ (SSNS), 19 mục
Sự cô đơn
  • Thang đo Cô đơn UCLA-3 (UCLA-3), 3 mục
  • Thang đo Cô đơn UCLA Hiệu đính (R-UCLA), 20 mục
  • Thang đo Cô đơn De Jong-Gierveld - 6 mục (DGLS-6)
  • Thang đo Cô đơn De Jong-Gierveld - 11 mục (DGLS-11)
  • Thang đo Cô đơn Cảm xúc và Xã hội cho Người trưởng thành - Bản ngắn (SELSA-S), 15 mục
  • Thang đo Cô đơn Phân biệt (DLS), 60 mục
  • Hệ thống Thông tin Đo lường Kết cục do Bệnh nhân Tự báo cáo (PROMIS) – Cô lập Xã hội, các bản ngắn 8, 6 và 4 mục (Lưu ý: Dù có tiêu đề "cô lập xã hội", công cụ này thực chất đo lường trải nghiệm chủ quan về cảm giác tách biệt và mất kết nối với người khác, thay vì đo lường khách quan về mức độ tiếp xúc hoặc quy mô mạng lưới xã hội)
Bảng 11. Các Hoạt động Vui chơi, Giải trí và Xã hội Dựa trên Bằng chứng
Hoạt động Kết cục chính
(Cần diễn giải thận trọng mọi kết quả)
Điểm nhấn bằng chứng then chốt
(Tóm tắt súc tích)
Hoạt động thể chất trong thời gian rảnh rỗi (LTPA): Hoạt động thể chất tự nguyện được thực hiện trong thời gian rảnh nhằm mục đích tận hưởng hoặc nâng cao sức khỏe. Yếu tố tạo thuận: kết nối và hỗ trợ xã hội,11,13,15 tự tin vào năng lực bản thân,11,15 cảm giác kiểm soát,14 trải nghiệm thể chất và tâm lý tích cực,13,15 phản ánh sở thích, bản sắc và tính cách trước đột quỵ,11,13,15 niềm tin hành vi mạnh mẽ,13 tính thực tế của hoạt động,15 chương trình nhóm và trò chơi thể chất phù hợp,13 thói quen LTPA, lời nhắc nhở và thiết bị theo dõi,13 chương trình LTPA chính quy.11
Rào cản: Triệu chứng khó chịu, rào cản môi trường, yếu tố người chăm sóc, trải nghiệm tâm lý tiêu cực, thiếu hiểu biết về hoạt động thể chất.13
(Xem mục 5.1 và 5.8 để biết giải thích chi tiết về lợi ích sức khỏe và phục hồi).
Bằng chứng: 3 tổng hợp phân tích định tính gồm 38 nghiên cứu định tính (\(n = 561\)) và một nghiên cứu định tính gốc (\(n = 38\)) ở đột quỵ bán cấp và mạn tính (các hoạt động can thiệp cụ thể không được báo cáo).
Hạn chế: Nguy cơ bỏ sót nghiên cứu và sai lệch xuất bản, sai lệch do tự báo cáo, chất lượng nghiên cứu định tính không đồng đều, thiếu báo cáo về mối quan hệ nghiên cứu viên - người tham gia, chiến lược tuyển chọn và đạo đức.
Hoạt động hòa nhập thiên nhiên và tiếp xúc không gian xanh: Tham gia hoặc tương tác với các yếu tố và môi trường tự nhiên. Ngắm nhìn thiên nhiên: Cảm giác thanh thản và hạnh phúc.17
Trị liệu tại vườn ngoài trời: Hành vi có chủ đích.17
Ánh sáng, âm thanh, hình ảnh tự nhiên: Trầm cảm, lo âu, mệt mỏi, hạnh phúc.17
Đắm mình trong rừng: Trầm cảm, lo âu, căng thẳng, khuyết tật chức năng.17
Làm vườn: Chức năng tâm lý, thể chất, xã hội, nhận thức, ADL, chất lượng cuộc sống.17
Lướt sóng: Chức năng cảm xúc - tâm lý và thể chất, cơ hội kết nối lại sở thích/bản sắc.17
Đi dạo ven biển: Chức năng thể chất, cảm giác hạnh phúc.17
Gần không gian xanh: Giảm khuyết tật và tử vong sau đột quỵ, giảm tỷ lệ hiện mắc/mới mắc đột quỵ.17,70
Bằng chứng: 1 tổng quan hệ thống gồm 38 nghiên cứu (4 RCT, còn lại là định tính, bán thực nghiệm, cắt ngang, \(n = 39.084\)) và 1 tổng quan hệ thống gồm 27 nghiên cứu (không có RCT, đa số cắt ngang và đoàn hệ, quy mô từ 374 người đến đoàn hệ 4,3 triệu dân) ở mọi giai đoạn đột quỵ.
Hạn chế: Can thiệp và phác đồ không đồng nhất cao, sai lệch lựa chọn, ít xem xét không gian xanh đô thị vs nông thôn, công cụ đo lường biến thiên, chất lượng phương pháp luận dao động, trải nghiệm mang tính chủ quan.
Thái cực quyền (Tai chi): Bài tập thân - tâm bắt nguồn từ Trung Quốc, kết hợp các động tác nhẹ nhàng, uyển chuyển, có cấu trúc và tuần tự với hít thở sâu và thiền định; chú trọng thăng bằng, phối hợp và kiểm soát tư thế. Nguy cơ đột quỵ tử vong,48 chức năng vận động,18,46–48 nguy cơ té ngã,18,49 thăng bằng,47–50 dung tích/sức bền tập luyện,49,50 tốc độ đi bộ,49 các hoạt động sinh hoạt hàng ngày,18,46,48 trầm cảm,45,47,48,50,71 lo âu,45 chất lượng cuộc sống.48 Bằng chứng: 8 tổng quan hệ thống gồm 112 nghiên cứu RCT (\(n = 12.872\)) ở đột quỵ bán cấp và mạn tính.
Hạn chế: Can thiệp và phác đồ không đồng nhất cao, chất lượng từ thấp đến cao, cỡ mẫu nhỏ, nguy cơ bỏ sót RCT, công cụ đo lường biến thiên.
Khí công (Qigong): Thực hành thân - tâm Trung Hoa kết hợp các chuyển động nhẹ nhàng, lặp lại và dễ thích ứng với hít thở sâu và thiền định; nuôi dưỡng năng lượng cơ thể (khí). Thăng bằng,19,48,49 chức năng thần kinh,19 chức năng vận động,47 sinh hoạt hàng ngày,19 trầm cảm,47 chất lượng cuộc sống.19,48,49 Bằng chứng: 4 tổng quan hệ thống gồm 42 nghiên cứu RCT (\(n = 2.073\)) ở đột quỵ bán cấp và mạn tính.
Hạn chế: Không đồng nhất cao, chất lượng từ thấp đến cao, cỡ mẫu nhỏ, nguy cơ bỏ sót RCT, biến thiên công cụ đo, khó khăn trong làm mù người tham gia.
Trò chơi vận động điện tử thương mại (Exergames): Trò chơi video sử dụng công nghệ bắt chuyển động để chuyển động tác thực tế thành hành động trong game (ví dụ: Nintendo Wii, XBOX Kinect). Thăng bằng,51 chức năng chi trên,26,52 chức năng vận động thân dưới,52 khả năng di chuyển, chức năng tim phổi, kết cục cơ xương khớp, hoạt động thể chất, trầm cảm, chất lượng cuộc sống.51 Bằng chứng: 1 tổng quan bao quát gồm 11 phân tích gộp (\(n = 9.615\)), 1 tổng quan hệ thống gồm 50 nghiên cứu quan sát/thực nghiệm (\(n = 905\)), và 1 tổng quan hệ thống gồm 40 nghiên cứu (13 nghiên cứu trên đột quỵ, gồm 10 RCT, \(n = 218\)) ở mọi giai đoạn.
Hạn chế: Can thiệp không đồng nhất, biến thiên công cụ đo lường, cỡ mẫu nhỏ, chất lượng từ trung bình đến cao hoặc chưa được đánh giá.
Nghệ thuật thị giác: Sáng tạo tác phẩm nghệ thuật bằng vật liệu hữu hình như vẽ tranh, nặn đất sét, cắt dán collage, thủ công mỹ nghệ, đan lát, thêu thùa, may vá, tô màu, in ấn tranh. Sinh hoạt hàng ngày,54 chức năng chi trên,25,53 vận động tinh, phối hợp bàn tay,25 khả năng nhận thức,25,53 trầm cảm,25 chức năng tâm lý/cảm xúc (lo âu, tuyệt vọng, cảm xúc tiêu cực).25
Định tính: Trân trọng cơ hội, bản thân, người khác và cuộc sống;55 tương tác xã hội, tận hưởng niềm vui, chuyển hướng chú ý khỏi đột quỵ, tái thiết lập bản sắc xã hội, sự tự tin, tự chủ, đạt mục tiêu, giao tiếp, cảm giác kiểm soát và hy vọng, lòng tự trọng, tâm trạng.54
Bằng chứng: 2 tổng quan hệ thống gồm 24 nghiên cứu, trong đó có 18 RCT (\(n = 1.345\)) và 2 nghiên cứu định tính (\(n = 38\)) ở mọi giai đoạn.
Hạn chế: Không đồng nhất cao, chất lượng phương pháp luận từ thấp đến trung bình, cỡ mẫu nhỏ.
Yoga: Thực hành thân - tâm cổ xưa của Ấn Độ kết hợp tư thế thể chất (asanas), kỹ thuật thở và thiền định. Thăng bằng,49 sợ té ngã,49 trầm cảm,20,49 lo âu,20,49 chất lượng cuộc sống.48,49
Định tính: Tầm vận động (ROM), độ vững vàng, khả năng thực hiện nhiệm vụ, điều hòa cảm xúc, cải thiện tham gia xã hội/cộng đồng qua củng cố tự tin và tình bạn.72
Bằng chứng: 3 tổng quan hệ thống gồm 15 RCT (\(n = 272\)) và 1 nghiên cứu định tính gốc (\(n = 26\)) ở đột quỵ mạn tính (phổ biến nhất là Hatha yoga).
Hạn chế: Không đồng nhất, chất lượng thấp đến trung bình, cỡ mẫu nhỏ, biến thiên công cụ đo, yếu tố gây nhiễu do thay đổi thuốc điều trị.
Thể thao thích ứng (Adapted sports): Các môn thể thao thi đấu và giải trí được điều chỉnh về luật, dụng cụ hoặc cấu trúc cho người khuyết tật. Đấm bốc ngồi: thăng bằng, chức năng chi trên, tốc độ đi bộ, chất lượng cuộc sống.23
Bóng chuyền: chức năng chi trên và sự khéo léo bàn tay.23
Khiêu vũ: thăng bằng.23
Golf: trí nhớ thị giác không gian, tưởng tượng thị giác, tâm trạng, thăng bằng, phối hợp, sức mạnh chi trên.23,76
Cưỡi ngựa: thăng bằng, di chuyển chức năng, thăng bằng động, nguy cơ té ngã,23 khả năng đi bộ, nhận thức hồi phục, sức chứa chức năng, sức khỏe tâm thần.
Kickboxing: thăng bằng.23
Đấm bốc đứng: độ linh hoạt xương bả vai ở chi trên liệt.56
Đạp xe thích ứng: sức khỏe thể chất, tâm lý, xã hội.75
Chương trình thể thao thích ứng tổng hợp: hoạt động thể chất, chất lượng cuộc sống, thăng bằng, ROM chi trên, sức mạnh, sức bền, tâm trạng, gắn kết xã hội, cảm giác thuộc về tập thể và hạnh phúc.57
Bằng chứng: 1 tổng quan hệ thống gồm 30 nghiên cứu (7 nghiên cứu trên đột quỵ, 5 RCT, \(n = 264\)), 1 RCT gốc (\(n = 60\)), và 3 nghiên cứu bán thực nghiệm gốc (\(n = 56\)) ở đột quỵ mạn tính.
Hạn chế: Không đồng nhất cao, cỡ mẫu nhỏ, chất lượng phương pháp luận hỗn hợp, thiếu đánh giá theo dõi dài hạn, sai lệch do kinh nghiệm thể thao trước đó, đánh giá viên không làm mù, phụ thuộc nhiều vào tự báo cáo.
Hoạt động âm nhạc: Bao gồm tiếp nhận (nghe nhạc, thảo luận bài hát, thư giãn, hồi tưởng) và chủ động (chơi nhạc cụ, vận động theo nhạc, sáng tác, gõ nhịp cơ thể). Chức năng điều hành,78 cảm xúc hạnh phúc,24,78 thông số dáng đi,78 thăng bằng,78 chi trên (sức mạnh, ROM, độ khéo léo, chức năng),77,78 chất lượng cuộc sống,77 tâm trạng.78 Bằng chứng: 3 tổng quan hệ thống gồm 88 nghiên cứu, trong đó có 53 RCT (\(n = 3.282\)) ở mọi giai đoạn.
Hạn chế: Can thiệp không đồng nhất, cỡ mẫu nhỏ, nguy cơ sai lệch từ trung bình đến cao, chất lượng dao động lớn, có thể có hiệu ứng giả dược.
Trò chơi video thương mại nhập vai: Sử dụng kính thực tế ảo VR để đắm chìm trong môi trường mô phỏng có hình ảnh, âm thanh tương tác (Oculus Rift, Quest, HTC Vive, Pico GO). Chức năng vận động chi trên.27 Bằng chứng: 1 tổng quan hệ thống gồm 23 RCT (\(n = 395\)) ở đột quỵ bán cấp và mạn tính.
Hạn chế: Không đồng nhất, mẫu nhỏ, game thương mại có thể thiếu kiểm chứng khoa học, rối loạn chức năng bàn tay làm hạn chế cầm nắm bộ điều khiển, các yếu tố văn hóa/bối cảnh game có thể làm giảm sự gắn kết của người bệnh.
Pilates: Phương pháp tập luyện thân - tâm tác động thấp, tập trung vào sức mạnh cơ lõi, sức bền cơ bắp và độ linh hoạt thông qua các động tác chính xác, có kiểm soát (trên thảm hoặc máy reformer). Thăng bằng tĩnh và động, chất lượng cuộc sống, tốc độ đi bộ, chức năng tim phổi,21,49 té ngã.49 Bằng chứng: 2 tổng quan hệ thống các RCT gồm 10 nghiên cứu (\(n = 213\)) ở đột quỵ bán cấp và mạn tính (đa số đi lại độc lập, tập trên thảm có giám sát chặt chẽ).
Hạn chế: Phác đồ đồng nhất về thời lượng/tần suất nhưng không đồng nhất về bài tập Pilates cụ thể; chất lượng từ kém đến tốt; nguy cơ sai lệch cao hoặc chưa rõ; cỡ mẫu nhỏ.
Hoạt động khiêu vũ: Nhiều phong cách như múa ba lê, đương đại, dân gian, tango, jazz, khiêu vũ thể thao, merengue, bolero, trò chơi nhảy múa. Thăng bằng động,73 phối hợp dáng đi,22 khả năng di chuyển chức năng,22,73,74 tâm trạng,64 mệt mỏi,72 sức mạnh chi dưới,22 các thông số không gian - thời gian của dáng đi.73 Bằng chứng: 3 tổng quan hệ thống (chủ yếu là bán thực nghiệm) gồm 21 nghiên cứu (\(n = 524\)) ở đột quỵ bán cấp và mạn tính (đa số đi lại được không cần trợ giúp).
Hạn chế: Phác đồ can thiệp không đồng nhất cao, chất lượng hỗn hợp, cỡ mẫu nhỏ, có nguy cơ sai lệch.

Khoảng trống nghiên cứu và Định hướng nghiên cứu tương lai

  • Cần nghiên cứu hiệu quả của các hoạt động vui chơi giải trí cụ thể chưa có đủ bằng chứng để đưa vào khuyến cáo năm 2026, bao gồm nhưng không giới hạn: Thủy Khí Công (Ai Chi), thiền định, chánh niệm, viết nhật ký, đi bộ với gậy kiểu Bắc Âu (Nordic pole walking), bơi lội, trò chơi trên máy tính bảng/máy tính bàn và các trò chơi phi công nghệ (như board game, đánh bài, giải đố, cờ bàn).
  • Nghiên cứu về việc xây dựng, triển khai và kết quả của các đợt "tinh chỉnh giải trí" định kỳ (ví dụ: mỗi 6 tháng) nhằm tăng cường sự tham gia xã hội và giải trí lâu dài.
  • Phát triển các thước đo định lượng phản ánh đúng ý nghĩa của việc tái gắn kết giải trí tối ưu theo cảm nhận của chính người bệnh đột quỵ.
  • Nghiên cứu sự tham gia giải trí và xã hội như những yếu tố dự báo ngắn hạn và dài hạn cho kết cục phục hồi chức năng, chất lượng cuộc sống, sức khỏe và quỹ đạo hồi phục.
  • Nghiên cứu tác động của từng loại hình giải trí trước đột quỵ cụ thể (thể chất, xã hội, kích thích nhận thức) lên dự trữ nhận thức và mối liên hệ của chúng với các khiếm khuyết nguyên phát/thứ phát cũng như khả năng hồi phục sau đột quỵ.
  • Nghiên cứu so sánh kết cục ngắn hạn và dài hạn giữa các bài tập chuẩn hóa được chỉ định với việc tham gia vào các hoạt động giải trí thể chất có ý nghĩa cá nhân sau đột quỵ.
  • Nghiên cứu các "thành phần hoạt tính trị liệu" để kê đơn chuẩn xác hơn các hoạt động vui chơi, giải trí và xã hội sau đột quỵ (liều lượng, cấu trúc, tần suất, kỹ thuật tạo thuận, môi trường, dụng cụ, mô hình lý thuyết) với thời gian theo dõi dài hạn.
  • Khám phá tác động của sự gắn kết giải trí có ý nghĩa và những cảm xúc tích cực trải nghiệm được đối với tính mềm dẻo thần kinh (neuroplasticity) và những chuyển biến phục hồi dọc theo thời gian.
  • Nghiên cứu các can thiệp mới nhằm duy trì lâu dài hoạt động giải trí và xã hội lành mạnh ở bệnh nhân đột quỵ mạn tính, chẳng hạn như mô hình can thiệp tại cộng đồng.
  • Nghiên cứu các can thiệp nhằm giảm bớt sự cô đơn và tác động trúng đích vào các con đường trung gian dẫn tới cảm giác cô đơn.

7.7. Trở lại Công việc

Khuyến cáo về Tái hòa nhập Công việc
Các nghiên cứu hỗ trợ được tóm tắt trong tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Nội dung khuyến cáo
2a B-R 1. Đối với người bệnh đột quỵ, việc cung cấp một chương trình phục hồi chức năng nghề nghiệp sớm, được thiết kế riêng biệt do chuyên viên hoạt động trị liệu và các dịch vụ hướng nghiệp phối hợp thực hiện là hợp lý nhằm thúc đẩy quá trình trở lại làm việc.1–5
2a B-R 2. Đối với người bệnh đột quỵ, việc đánh giá toàn diện về thị giác, tri giác, sự khéo léo của bàn tay, năng lực vận động, khả năng nhận thức và các yêu cầu đặc thù của công việc có thể mang lại lợi ích để điều chỉnh dịch vụ phù hợp và tạo thuận lợi cho việc tái hòa nhập công việc.5
2a B-R 3. Đối với người bệnh đột quỵ, việc điều chỉnh nhiệm vụ công việc và thích ứng nơi làm việc là hợp lý để hỗ trợ quá trình trở lại làm việc.3–10
2a B-R 4. Đối với những người sống chung với đột quỵ, việc quản lý tình trạng mệt mỏi sau đột quỵ, hỗ trợ nhận thức và tâm lý - xã hội, cùng với sự tham gia sớm của người sử dụng lao động vào quá trình phục hồi chức năng nghề nghiệp là hợp lý để thúc đẩy việc trở lại làm việc.3–5,7–14

Tóm lược tổng quan

Cùng với sự tiến bộ trong quản lý đột quỵ cấp, gánh nặng bệnh tật sau đột quỵ đã gia tăng kể từ năm 1991. Điều này một phần bắt nguồn từ sự gia tăng tỷ lệ mắc đột quỵ ở nhóm người trong độ tuổi lao động từ 15 đến 49 tuổi tại khu vực miền Nam và Trung Tây Hoa Kỳ.15,16 Thêm vào đó, dân số người cao tuổi (\(\ge 65\) tuổi) tại Hoa Kỳ dự kiến sẽ tăng gấp đôi trong 40 năm tới.15,17 Do tỷ lệ mắc đột quỵ tăng theo tuổi, ngày càng có nhiều người cao tuổi phải sống chung với các khuyết tật sau đột quỵ.18 Đáng lưu ý, thu nhập có xu hướng giảm sút rõ rệt sau đột quỵ: một nghiên cứu đoàn hệ nhận thấy mức thu nhập trung vị sụt giảm tới 29,6% sau đột quỵ, với mức mất mát tương đối lớn hơn ở những người có thu nhập thấp.3,10,19 Bệnh nhân đột quỵ thường khó có thể đạt lại mức thu nhập như trước biến cố trong vòng 3 năm.10,19,20 Tác động cộng dồn của sự sụt giảm thu nhập dẫn đến mức độ phụ thuộc chức năng cao hơn, gia tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ và tạo ra gánh nặng kinh tế đáng kể cho hệ thống y tế.21 Bằng chứng cho thấy việc trở lại làm việc theo từng nấc thang, thử việc, điều chỉnh nơi làm việc và tái bố trí công việc có thể hỗ trợ hiệu quả cho việc tái hòa nhập lao động.3–5,7,8,14 Vì vậy, nhu cầu hỗ trợ xã hội và phục hồi nghề nghiệp để giảm thiểu tổn thất kinh tế là vô cùng cấp bách.19

Văn bản bổ trợ chi tiết cho từng khuyến cáo

  1. Các nghiên cứu khảo sát chương trình trở lại làm việc sau đột quỵ ngày càng gia tăng.1,3–5,9–11,13,22 Bằng chứng chỉ ra rằng các chương trình hướng nghiệp theo từng nấc thang có thể gia tăng tỷ lệ tái hòa nhập công việc thành công.4,5 Trong thử nghiệm RETAKE, một can thiệp phục hồi nghề nghiệp sớm và cá nhân hóa do chuyên viên hoạt động trị liệu đảm nhận—mang tên Phục hồi Chức năng Nghề nghiệp Chuyên sâu Sớm sau Đột quỵ (ESSVR)—đã được triển khai. Áp dụng mô hình điều phối ca bệnh, các chuyên viên đã lồng ghép năng lực, nguyện vọng của người bệnh và yêu cầu công việc vào kế hoạch can thiệp; đồng thời cung cấp kiến thức về tác động của đột quỵ cho người sử dụng lao động. Thử nghiệm so sánh ESSVR với chăm sóc thường quy (vốn sẵn có cho cả 2 nhóm). Mặc dù không ghi nhận sự khác biệt chung giữa hai nhóm, phân tích phân nhóm định trước chỉ ra rằng ESSVR mang lại hiệu quả vượt trội hơn ở những người lớn tuổi và những người có từ 1 di chứng đột quỵ trở lên.1,4,9 Một nghiên cứu khác khảo sát việc trở lại làm việc sớm ngay sau đột quỵ: những người được phân ngẫu nhiên vào nhóm thực nghiệm đã nhận một chương trình tái hòa nhập công việc cá nhân hóa được tiến hành trực tiếp ngay tại nơi làm việc; trong khi nhóm đối chứng chỉ nhận can thiệp chuẩn tại phòng khám có tính đến yêu cầu công việc trước đó nhưng không có can thiệp tại nơi làm việc. Tại thời điểm 6 tháng sau đột quỵ, 60% bệnh nhân ở nhóm thực nghiệm đã có việc làm, so với tỷ lệ chỉ 20% ở nhóm đối chứng.5
  2. Bất chấp tầm quan trọng của việc trở lại làm việc, các nghiên cứu ghi nhận việc sử dụng các công cụ đánh giá nghề nghiệp phù hợp sau đột quỵ vẫn còn khan hiếm. Trong nghiên cứu của Ntsiea và cộng sự, những người tham gia nhóm thực nghiệm được đánh giá bằng Phòng Thí nghiệm Đánh giá Di động cho Trị liệu viên (T/PAL)—một công cụ bao gồm các mô-đun công việc để nhận diện các trở ngại tiềm tàng như phân biệt thị giác, phối hợp mắt - tay, nhận thức không gian và hình thể, sự khéo léo của bàn tay, phân biệt màu sắc và năng lực nhận thức.23 Bài kiểm tra cũng xác định các kỹ năng, sở thích và phương thức học tập phù hợp với nghề nghiệp. Dù không chuyên biệt hoàn toàn cho đột quỵ, đây là công cụ toàn diện tích hợp đánh giá cả kỹ năng nhận thức và tri giác. Sự trao đổi thường xuyên giữa người sử dụng lao động và nhóm chăm sóc y tế cũng được thiết lập, cho phép trị liệu viên đưa các thông tin thực tế tại nơi làm việc vào kế hoạch can thiệp.5 La Torre và cộng sự khuyến nghị cần nghiên cứu sâu hơn để xác định khiếm khuyết nhận thức cụ thể nào gây cản trở nhiều nhất đến việc trở lại làm việc.13 Trong một nghiên cứu định tính trên những người ở các giai đoạn tái hòa nhập công việc khác nhau, người tham gia đã chỉ ra nhiều thách thức nhận thức bao gồm mệt mỏi nhận thức, khó khăn trong xử lý nhận thức/điều hành và giảm động lực; các thách thức tâm lý gồm sợ hãi, lo âu và thiếu hỗ trợ tâm lý/đồng đẳng.24 Việc tăng cường sử dụng các công cụ sàng lọc và đánh giá phù hợp có thể nâng cao chất lượng của các can thiệp nghề nghiệp.
  3. Phần lớn người tham gia trong các thử nghiệm tái hòa nhập công việc đều có sự điều chỉnh về môi trường làm việc, thời gian làm việc hoặc nhiệm vụ công việc.5,13 Các nghiên cứu khác chỉ ra rằng sự thích ứng nơi làm việc, hỗ trợ tâm lý - xã hội và sự thay đổi trong hệ giá trị ưu tiên của bản thân người bệnh giúp tạo thuận cho cả việc trở lại làm việc và duy trì sự bền vững của công việc.14 Một phân tích tổng hợp định tính nhận thấy các yếu tố chi phối sự thành công bao gồm: khả năng thích ứng, động lực làm việc nội tại, tính sẵn có của dịch vụ hướng nghiệp và các yêu cầu công việc phù hợp với năng lực hiện tại của người bệnh.7 Trong nghiên cứu SCORE (Đoàn hệ Đột quỵ về Kết cục Phục hồi chức năng), các tác giả ghi nhận một số lượng đáng kể người tham gia có sự điều chỉnh nhiệm vụ công tác, trong đó có một số cá nhân đã chuyển đổi công việc.10 Các thay đổi khác bao gồm thay đổi nhiệm vụ/hoạt động, điều chỉnh số giờ làm việc (tổng thời gian hoặc cách phân bổ ca kíp) hoặc sử dụng các trang thiết bị thích ứng. Tần suất xuất hiện các điều chỉnh thích ứng giảm dần theo thời gian. Nhiều nghiên cứu khẳng định sự hỗ trợ từ người sử dụng lao động, việc giáo dục cho người sử dụng lao động hiểu về tình trạng đột quỵ và việc giảm giờ làm là những yếu tố cốt lõi nhất để trở lại làm việc thành công.10,14
  4. Tình trạng mệt mỏi sau đột quỵ, rối loạn tâm trạng và khuyết tật nhận thức là những yếu tố dự báo tiêu cực đối với khả năng trở lại làm việc.13 Các yếu tố dự báo tiêu cực khác gồm phục hồi chức năng chưa thỏa đáng, thời gian nằm viện kéo dài, hoàn cảnh kinh tế - xã hội khó khăn và công việc lao động chân tay. Các yếu tố dự báo tích cực bao gồm sự hỗ trợ từ gia đình, khả năng tiếp cận dịch vụ hướng nghiệp, môi trường làm việc linh hoạt và hỗ trợ, công việc bàn giấy (lao động trí óc) và tính độc lập trong ADL.14,19,22,25,26 Một tổng quan bao quát nhận thấy khuyết tật thể chất chính gây ảnh hưởng tiêu cực nhất đến việc tái hòa nhập lao động chính là tình trạng mệt mỏi sau đột quỵ.11 Dù mệt mỏi và tâm trạng được xem là các rào cản lớn, một tổng quan hệ thống nhận thấy các chương trình phục hồi nghề nghiệp hiếm khi giải quyết thỏa đáng hai vấn đề này, đồng thời việc sử dụng các công cụ sàng lọc mệt mỏi còn rất hạn chế.11 Một số nghiên cứu gợi ý rằng mệt mỏi, tâm trạng và các khó khăn nhận thức hoàn toàn có thể được điều chỉnh để giúp người bệnh trở lại làm việc thành công.1,3–5,9,11,13,14,27 Mệt mỏi sau đột quỵ có thể được can thiệp bằng cả phương pháp dùng thuốc và không dùng thuốc (như liệu pháp CBT, chánh niệm, giáo dục người bệnh và bài tập aerobic).28 Cuối cùng, sự tham gia của người sử dụng lao động là yếu tố hoàn toàn có thể tác động được và bằng chứng cho thấy sự tham gia này đóng góp to lớn vào thành công của can thiệp phục hồi nghề nghiệp.4,9,14,25

Khoảng trống nghiên cứu và Định hướng nghiên cứu tương lai

  • Y văn về việc cải thiện khuyết tật nhận thức trong bối cảnh tái hòa nhập công việc sau đột quỵ còn rất ít ỏi. Huấn luyện trí nhớ làm việc đã chứng minh sự cải thiện ở các lĩnh vực nhận thức chuyên biệt, tuy nhiên những tiến bộ này chưa giúp nâng cao khả năng thực hiện các hoạt động IADL của người bệnh.29
  • Huấn luyện chiến lược đã giúp cải thiện khả năng thực hiện ADL và sự tham gia cộng đồng.30 Các nghiên cứu tương lai cần khảo sát xem liệu huấn luyện chiến lược có thể hỗ trợ nâng cao tỷ lệ trở lại làm việc hay không.

7.8. Trở lại Lái xe

Khuyến cáo về Trở lại Lái xe
Các nghiên cứu hỗ trợ được tóm tắt trong tài liệu bổ sung trực tuyến.
COR LOE Nội dung khuyến cáo
1 C-LD 1. Đối với người bệnh đột quỵ có các khiếm khuyết có thể ảnh hưởng đến việc lái xe an toàn (như khiếm khuyết nhận thức, tri giác hoặc thể chất), khuyến nghị chuyển tuyến để thực hiện bài kiểm tra lái xe trên đường thực tế do cá nhân có thẩm quyền tiến hành nhằm xác định khả năng đủ điều kiện lái xe.1–4
2a B-NR 2. Đối với người bệnh đột quỵ, việc đánh giá toàn diện về thị lực, tri giác, khả năng vận động và nhận thức do bác sĩ/chuyên viên lâm sàng được đào tạo thực hiện là hợp lý để cung cấp thông tin về khả năng đủ điều kiện lái xe theo các quy định an toàn và pháp lý tại địa phương.1–4
2a C-LD 3. Đối với người bệnh đột quỵ không vượt qua được bài kiểm tra lái xe trên đường thực tế hoặc có các khiếm khuyết ảnh hưởng đến lái xe an toàn, việc tham gia chương trình phục hồi chức năng lái xe cùng với người có thẩm quyền là hợp lý nhằm nâng cao năng lực lái xe.2,5–7
2b B-NR 4. Đối với người bệnh đột quỵ, việc sử dụng thiết bị mô phỏng lái xe (driving simulator) có thể được cân nhắc để ước tính các rủi ro khi lái xe hoặc dự đoán khả năng thực hiện bài kiểm tra lái xe trên đường thực tế.1,7–10

Tóm lược tổng quan

Lái xe là một hoạt động sinh hoạt hàng ngày có sử dụng công cụ (IADL) thiết yếu đối với nhiều cá nhân. Khả năng tự chủ phương tiện đi lại tạo điều kiện thuận lợi cho tính độc lập, tham gia các hoạt động, gắn kết với đời sống xã hội/cộng đồng và tiếp cận các nguồn lực thiết yếu;11 tuy nhiên, lái xe là một nhiệm vụ phức tạp đòi hỏi sự phối hợp tích hợp của các kỹ năng nhận thức, tri giác, thị giác, cảm xúc và vận động—tất cả đều có thể bị tổn thương sau đột quỵ.5 Các quy định pháp lý về việc trở lại lái xe sau đột quỵ có sự khác biệt tùy theo từng bang hoặc quốc gia. Bác sĩ lâm sàng cần nắm rõ các hướng dẫn và yêu cầu pháp lý tại địa phương để đảm bảo người bệnh được thông tin đầy đủ về các tiêu chuẩn lái xe. Các bác sĩ thường được yêu cầu đánh giá khả năng đủ điều kiện lái xe và phải thẩm định cẩn trọng từng trường hợp cụ thể để đưa ra khuyến cáo dựa trên sự hiện diện của các khiếm khuyết có thể đe dọa đến an toàn khi lái xe.

Văn bản bổ trợ chi tiết cho từng khuyến cáo

  1. Bài kiểm tra lái xe trên đường thực tế (on-road test) vẫn là tiêu chuẩn vàng được công nhận để xác định khả năng đủ điều kiện lái xe. Khả năng vận hành trên đường thực tế thường được dùng làm thước đo kết cục chính trong các nghiên cứu đánh giá công cụ sàng lọc lái xe.1,2,4 Đánh giá lái xe chính thức trên đường được thực hiện bởi chuyên gia phục hồi chức năng lái xe hoặc giáo viên dạy lái xe có chứng chỉ. Một nghiên cứu phỏng vấn định tính các bác sĩ và chuyên viên hoạt động trị liệu gợi ý rằng không phải mọi bệnh nhân đột quỵ đều cần làm bài kiểm tra trên đường và đề xuất sử dụng mô hình phân tầng nguy cơ để xác định nhu cầu đánh giá chính thức hoặc phục hồi chức năng dựa trên mức độ nghiêm trọng của khiếm khuyết.3 Một số bệnh nhân có khiếm khuyết nặng sẽ không thể trải qua quy trình đánh giá lái xe một cách an toàn. Ngược lại, một số bệnh nhân có thể phù hợp để trở lại lái xe mà không cần đánh giá chính thức trên đường. Bằng chứng hiện tại chưa chỉ ra rõ ràng liệu có trắc nghiệm tâm lý thần kinh, phương pháp hay bộ công cụ sàng lọc nào có thể phân loại chuẩn xác những bệnh nhân bắt buộc phải làm bài kiểm tra lái xe trên đường hay không.
  2. Đánh giá toàn diện các kỹ năng liên quan đến lái xe đóng vai trò sống còn để nhận diện những người đủ điều kiện pháp lý để lái xe nhưng vẫn còn tồn tại các khiếm khuyết di chứng có thể đe dọa sự an toàn, từ đó chuyển tuyến họ đến các dịch vụ đánh giá chuyên sâu hoặc phục hồi chức năng. Hiện chưa có sự đồng thuận rõ ràng về việc sử dụng các bài kiểm tra tâm lý thần kinh hoặc các bộ công cụ sàng lọc khác để dự đoán chính xác khả năng lái xe sau đột quỵ, cũng như chưa thống nhất về thước đo kết cục lái xe nào nên được áp dụng. Ba tổng quan hệ thống gần đây đã đánh giá năng lực của các bài kiểm tra sàng lọc trong việc dự đoán hiệu suất lái xe hoặc khả năng trở lại lái xe trên 65 nghiên cứu (trong đó có 15 nghiên cứu trùng lặp).1,2,4 Phần lớn các nghiên cứu gốc là nghiên cứu không ngẫu nhiên và được tiến hành tại các quốc gia khác nhau, điều này làm hạn chế tính khái quát hóa do điều kiện giao thông khác biệt. Nhìn chung, kết quả kém trong các bài kiểm tra sàng lọc có liên quan đến việc giảm khả năng đủ điều kiện lái xe (cả trong môi trường thực tế lẫn mô phỏng); tuy nhiên, sự biến thiên và không nhất quán giữa các nghiên cứu là rất lớn. Trong 2 tổng quan hệ thống, kết quả của Đánh giá Sàng lọc Lái xe Đột quỵ (SDSA) và Bài kiểm tra Nối điểm B (Trail Making Test B - TMT-B) cho thấy mối tương quan thuận nhất quán với hiệu suất bài kiểm tra lái xe trên đường hoặc thiết bị mô phỏng.1,4 Nghiên cứu định tính nhấn mạnh sự kết hợp giữa các đánh giá chuẩn hóa với quan sát hiệu suất chức năng để phân tầng nguy cơ lái xe trên lâm sàng và định hướng can thiệp.3
  3. Bằng chứng ủng hộ các kỹ thuật phục hồi chức năng giúp bệnh nhân cải thiện kỹ năng lái xe thực tế sau đột quỵ còn khá hạn chế. Một tổng quan Cochrane gồm 4 thử nghiệm không tìm thấy sự cải thiện có ý nghĩa về tỷ lệ vượt qua bài kiểm tra lái xe trên đường sau các can thiệp phục hồi chức năng.5 Một thử nghiệm RCT chỉ ra rằng việc huấn luyện trên thiết bị mô phỏng cá nhân hóa không cải thiện tỷ lệ đỗ bài kiểm tra lái xe trên đường nói chung so với nhóm chứng; tuy nhiên, phân tích phân nhóm cho thấy những bệnh nhân có khiếm khuyết mức độ trung bình đạt tỷ lệ đỗ cao hơn rõ rệt sau can thiệp.7 Một tổng quan hệ thống khác xác định 2 nghiên cứu RCT đánh giá tác động của việc luyện tập trên mô phỏng đối với các trắc nghiệm tâm lý thần kinh, trong đó chỉ có 1 nghiên cứu cho thấy sự tiến bộ trong ngắn hạn nhưng không duy trì được sau 5 năm.2 Một tổng quan độc lập tìm thấy bằng chứng chất lượng cao trong 3/16 nghiên cứu ủng hộ hiệu quả của việc huấn luyện kỹ năng chuyên biệt ngoài sa hình và huấn luyện trên thiết bị mô phỏng vi tính hóa.6 Mặc dù việc thích ứng hoặc cải tạo xe ô tô có thể được các chuyên viên hoạt động trị liệu triển khai, hiệu quả thực tế của giải pháp này vẫn chưa được kiểm chứng đầy đủ.6
  4. Thiết bị mô phỏng lái xe có thể được đưa vào quy trình đánh giá khả năng lái xe bằng cách nhận diện các hành vi nguy cơ tiềm ẩn hoặc dự đoán kết quả bài kiểm tra trên đường thực tế. Tuy nhiên, bằng chứng về hiệu quả của chúng còn nhiều điểm trái chiều. Hai nghiên cứu so sánh nhận thấy người lái sau đột quỵ có các chỉ số mô phỏng (như tốc độ và khả năng giữ làn đường) kém hơn so với nhóm chứng khỏe mạnh, nhưng sự khác biệt không đạt ý nghĩa thống kê dù nhóm đột quỵ có điểm nhận thức thấp hơn.8,9 Trong một tổng quan hệ thống, 2 trên 3 nghiên cứu gốc báo cáo đánh giá trên mô phỏng đã tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa ở bệnh nhân đột quỵ.1 Thêm vào đó, các chỉ số mô phỏng ở bệnh nhân đột quỵ có tương quan thuận với hiệu suất trắc nghiệm tâm lý thần kinh và có thể phân loại chuẩn xác khả năng đỗ bài kiểm tra trên đường dựa trên công thức tính xác suất trong một nghiên cứu quan sát.10 Trong một thử nghiệm RCT khác, việc tập trên mô phỏng không cải thiện tỷ lệ vượt qua bài kiểm tra thực tế so với nhóm chứng, dẫu vậy phân tích phân nhóm cho thấy bệnh nhân có khiếm khuyết trung bình có nhiều khả năng đỗ hơn sau can thiệp.7

Khoảng trống nghiên cứu và Định hướng nghiên cứu tương lai

  • Các nghiên cứu đánh giá tính hữu dụng của các bài trắc nghiệm tâm lý thần kinh, thang đo sàng lọc và bộ công cụ đánh giá có tính không đồng nhất cao về cả phương pháp nghiên cứu lẫn thước đo kết cục. Cần có các thiết kế nghiên cứu chặt chẽ hơn để khảo sát sâu mối tương quan giữa các công cụ sàng lọc/nhận thức với hiệu suất lái xe thực tế, đồng thời tạo thuận lợi cho việc so sánh giữa các công trình.
  • Các phân nhóm nhân khẩu học sau đột quỵ—bao gồm phụ nữ, những người dưới 55 tuổi và các bệnh nhân từ những quốc gia có thu nhập thấp—hiện chưa được đại diện thỏa đáng trong các nghiên cứu về khả năng đủ điều kiện lái xe.
  • Giá trị của thiết bị mô phỏng trong việc dự đoán khả năng lái xe và trong đào tạo phục hồi chức năng lái xe vẫn chưa được xác lập vững chắc.
  • Bằng chứng chất lượng cao mô tả hiệu quả của các can thiệp phục hồi chức năng trong việc cải thiện năng lực lái xe hoặc tạo thuận lợi cho việc trở lại lái xe sau đột quỵ hiện còn rất hạn chế.

BAN LÃNH ĐẠO VÀ CÁN BỘ

Stacey Rosen, MD, Chủ tịch
Nancy Brown, Giám đốc Điều hành
Mariell Jessup, MD, FAHA, Giám đốc Khoa học và Y tế
Nicole Aiello Sapio, EdD, Phó Chủ tịch Điều hành Quốc gia, Văn phòng Chiến lược và Hoạt động Khoa học
Radhika Rajgopal Singh, PhD, Phó Chủ tịch Cấp cao, Văn phòng Khoa học và Y tế
Joe Loftin, Giám đốc Quốc gia, Tuyên bố và Hướng dẫn Khoa học

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN ĐỘT QUỴ

Prashant Nedungadi, BPharm, PhD, Phó Chủ tịch Quốc gia, Khoa học và Y tế, Hướng dẫn Lâm sàng
Anne Leonard, MPH, RN, FAHA, CCRC, Giám đốc Cấp cao Quốc gia, Khoa học và Y tế, Văn phòng Khoa học và Y tế

ỦY BAN GIÁM SÁT TUYÊN BỐ KHOA HỌC CỦA HỘI ĐỒNG ĐỘT QUỴ AHA/ASA

Nerissa Ko, MD, MA, Chủ tịch; William Mack, MD, MS, FAHA, Chủ tịch Đắc cử; Jose Romano, MD, FAHA, Cựu Chủ tịch; Cheryl Bushnell, MD, MHSc, FAHA; Joseph Carrera, MD; Wendy Dusenbury, PhD, DNP, NP, FAHA; Allison Gaffey, BA, MA, PhD, FAHA; Hannah Gardener, ScD, FAHA; Nestor Gonzalez, MD, MSc, FAHA; Nneka Ifejika, MD, MPH, FAHA; Ronald Lazar, PhD, FAHA; Eva Mistry, MBBS, MSc, FAHA; Soojin Park, MD, FAHA; Nicole Rosendale, MD; Lauren Sansing, MD, MS, FAHA; Alexis N. Simpkins, MD, PhD, MS, FAHA; Kori Zachrison, MD, MS, FAHA.

Lưu ý y khoa: Bài viết được biên soạn dựa trên định hướng nội dung của AHA và ASA 2026 và nhằm mục đích giáo dục sức khỏe. Nội dung không thay thế đánh giá và chỉ định cá nhân của bác sĩ hoặc chuyên viên phục hồi chức năng. Người có bệnh lý tim mạch, bệnh mạn tính phức tạp, nguy cơ té ngã cao hoặc đang phục hồi sau phẫu thuật cần được hướng dẫn chương trình vận động phù hợp.
Tài liệu tham khảo

1. Introduction

1. Martin SS, Aday AW, Almarzooq ZI, Anderson CAM, Arora P, Avery CL, Baker-Smith CM, Barone Gibbs B, Beaton AZ, Boehme AK, et al; American Heart Association Council on Epidemiology and Prevention Statistics Committee and Stroke Statistics Subcommittee. 2024 Heart disease and stroke statistics: a report of US and global data from the American Heart Association. Circulation. 2024;149:e347–e913. doi: 10.1161/CIR.0000000000001209 Crossref. PubMed.

2. World Health Organization (WHO). International Classification of Functioning, Disability and Health: ICF. World Health Organization; 2001.

3. Bernhardt J, Hayward KS, Kwakkel G, Ward NS, Wolf SL, Borschmann K, Krakauer JW, Boyd LA, Carmichael ST, Corbett D, et al. Agreed definitions and a shared vision for new standards in stroke recovery research: the Stroke Recovery and Rehabilitation Roundtable Taskforce. Neurorehabil Neural Repair. 2017;31:793–799. doi: 10.1177/1545968317732668 Crossref.

4. Ifejika NL, Awosika OO, Black T, Duncan PW, Harvey RL, Katz DI, Kimberley TJ, Lutz B, O'Neil F, Stein J, et al. Improving access to stroke rehabilitation and recovery: a policy statement from the American Heart Association/American Stroke Association. Stroke. 2025;56:e218–e233. doi: 10.1161/STR.0000000000000493 Crossref. PubMed.

5. Winstein CJ, Stein J, Arena R, Bates B, Cherney LR, Cramer SC, Deruyter F, Eng JJ, Fisher B, Harvey RL, et al; American Heart Association Stroke Council, Council on Cardiovascular and Stroke Nursing, Council on Clinical Cardiology, and Council on Quality of Care and Outcomes Research. Guidelines for Adult Stroke Rehabilitation and Recovery: A Guideline for Healthcare Professionals From the American Heart Association/American Stroke Association. Stroke. 2016;47:e98–e169. doi: 10.1161/STR.0000000000000098 Crossref. PubMed.

6. Kleindorfer DO, Towfighi A, Chaturvedi S, Cockroft KM, Gutierrez J, Lombardi-Hill D, Kamel H, Kernan WN, Kittner SJ, Leira EC, et al. 2021 Guideline for the prevention of stroke in patients with stroke and transient ischemic attack: a guideline from the American Heart Association/American Stroke Association. Stroke. 2021;52:e364–e467. doi: 10.1161/STR.0000000000000375 Crossref. PubMed.

7. Bushnell C, Kernan WN, Sharrief AZ, Chaturvedi S, Cole JW, Cornwell WK, Cosby-Gaither C, Doyle S, Goldstein LB, Lennon O, et al. 2024 Guideline for the primary prevention of stroke: a guideline from the American Heart Association/American Stroke Association. Stroke. 2024;55:e344–e424. doi: 10.1161/STR.0000000000000475 Crossref. PubMed.

8. Ifejika NL, Awosika OO, Black T, Duncan PW, Harvey RL, Katz DI, Kimberley TJ, Lutz B, O’Neil F, Stein J, et al. Improving Access to Stroke Rehabilitation and Recovery: A Policy Statement From the American Heart Association/American Stroke Association. Stroke. 2025;56:e218–e233. doi: 10.1161/STR.0000000000000493 Crossref. PubMed.

9. Piano MR, Marcus GM, Aycock DM, Buckman J, Hwang C-L, Larsson SC, Mukamal KJ, Roerecke M; on behalf the American Heart Association Council on Lifestyle and Cardiometabolic Health; Council on Cardiovascular and Stroke Nursing; Council on Clinical Cardiology; and Stroke Council. Alcohol use and cardiovascular disease: a scientific statement from the American Heart Association. Circulation. 2025;152:e7–e21. doi: 10.1161/CIR.0000000000001341 Crossref. PubMed.

10. Henke PK, Kahn SR, Pannucci CJ, Secemksy EA, Evans NS, Khorana AA, Creager MA, Pradhan AD; American Heart Association Advocacy Coordinating Committee. Call to action to prevent venous thromboembolism in hospitalized patients: a policy statement from the American Heart Association. Circulation. 2020;141:e914–e931. doi: 10.1161/CIR.0000000000000769 Crossref. PubMed.

11. Rodgers ML, Fox E, Abdelhak T, Franker LM, Johnson BJ, Kirchner-Sullivan C, Livesay SL, Marden FA; American Heart Association Council on Cardiovascular and Stroke Nursing and the Stroke Council. Care of the patient with acute ischemic stroke (endovascular/intensive care unit-postinterventional therapy): update to 2009 comprehensive nursing care scientific statement: a scientific statement from the American Heart Association. Stroke. 2021;52:e198–e210. doi: 10.1161/STR.0000000000000358 Crossref. PubMed.

12. Miller EL, Murray L, Richards L, Zorowitz RD, Bakas T, Clark P, Billinger SA; American Heart Association Council on Cardiovascular Nursing and the Stroke Council. Comprehensive overview of nursing and interdisciplinary rehabilitation care of the stroke patient: a scientific statement from the American Heart Association. Stroke. 2010;41:2402–2448. doi: 10.1161/STR.0b013e3181e7512b Crossref. PubMed.

13. Baddour LM, Weimer MB, Wurcel AG, McElhinney DB, Marks LR, Fanucchi LC, Esquer Garrigos Z, Pettersson GB, DeSimone DC; American Heart Association Rheumatic Fever, Endocarditis and Kawasaki Disease Committee of the Council on Lifelong Congenital Heart Disease and Heart Health in the Young; Council on Cardiovascular Surgery and Anesthesia; Council on Cardiovascular and Stroke Nursing; Council on Clinical Cardiology; and Council on Peripheral Vascular Disease. Management of infective endocarditis in people who inject drugs: a scientific statement from the American Heart Association. Circulation. 2022;146:e187–e201. doi: 10.1161/CIR.0000000000001090 Crossref. PubMed.

14. St-Onge MP, Aggarwal B, Fernandez-Mendoza J, Johnson D, Kline CE, Knutson KL, Redeker N, Grandner MA; American Heart Association Council on Lifestyle and Cardiometabolic Health; Council on Cardiovascular and Stroke Nursing; Council on Clinical Cardiology; and Council on Quality of Care and Outcomes Research. Multidimensional sleep health: definitions and implications for cardiometabolic health: a scientific statement from the American Heart Association. Circ Cardiovasc Qual Outcomes. 2025;18:e000139. doi: 10.1161/HCQ.0000000000000139 Crossref. PubMed.

15. Takahashi EA, Schwamm LH, Adeoye OM, Alabi O, Jahangir E, Misra S, Still CH; American Heart Association Council on Cardiovascular Radiology and Intervention, Council on Hypertension, Council on the Kidney in Cardiovascular Disease, and Stroke Council. An overview of telehealth in the management of cardiovascular disease: a scientific statement from the American Heart Association. Circulation. 2022;146:e558–e568. doi: 10.1161/CIR.0000000000001107 Crossref. PubMed.

16. Billinger SA, Arena R, Bernhardt J, Eng JJ, Franklin BA, Johnson CM, MacKay-Lyons M, Macko RF, Mead GE, Roth EJ, et al; American Heart Association Stroke Council. Physical activity and exercise recommendations for stroke survivors: a statement for healthcare professionals from the American Heart Association/American Stroke Association. Stroke. 2014;45:2532–2553. doi: 10.1161/STR.0000000000000022 Crossref. PubMed.

17. Cushman M, Barnes GD, Creager MA, Diaz JA, Henke PK, Machlus KR, Nieman MT, Wolberg AS; American Heart Association Council on Peripheral Vascular Disease; Council on Arteriosclerosis, Thrombosis and Vascular Biology; Council on Cardiovascular and Stroke Nursing; Council on Clinical Cardiology; Council on Epidemiology and Prevention; and the International Society on Thrombosis and Haemostasis. Venous thromboembolism research priorities: a scientific statement from the American Heart Association and the International Society on Thrombosis and Haemostasis. Circulation. 2020;142:e85–e94. doi: 10.1161/CIR.0000000000000818 Crossref. PubMed.

2. The Rehabilitation Program

2.1. Organization of Poststroke Rehabilitation Care (Levels of Care)

1. Bettger JAP, Kaltenbach L, Reeves MJ, Smith EE, Fonarow GC, Schwamm LH, Peterson ED. Assessing stroke patients for rehabilitation during the acute hospitalization: findings from the Get With The Guidelines–Stroke program. Arch Phys Med Rehabil. 2013;94:38–45. doi: 10.1016/j.apmr.2012.06.029 Crossref.

2. Miller EL, Murray L, Richards L, Zorowitz RD, Bakas T, Clark P, Billinger SA; American Heart Association Council on Cardiovascular Nursing and the Stroke Council. Comprehensive overview of nursing and interdisciplinary rehabilitation care of the stroke patient: a scientific statement from the American Heart Association. Stroke. 2010;41:2402–2448. doi: 10.1161/STR.0b013e3181e7512b Crossref. PubMed.

3. Alcusky M, Ulbricht CM, Lapane KL. Postacute care setting, facility characteristics, and poststroke outcomes: a systematic review. Arch Phys Med Rehabil. 2018;99:1124–1140.e9. doi: 10.1016/j.apmr.2017.09.005 Crossref. PubMed.

4. Hong I, Goodwin JS, Reistetter TA, Kuo Y-F, Mallinson T, Karmarkar A, Lin Y-L, Ottenbacher KJ. Comparison of functional status improvements among patients with stroke receiving postacute care in inpatient rehabilitation vs skilled nursing facilities. JAMA Netw Open. 2019;2:e1916646–e1916646. doi: 10.1001/jamanetworkopen.2019.16646 Crossref. PubMed.

5. Simmonds KP, Burke J, Kozlowski A, Andary M, Luo Z, Reeves MJ. Estimating the impact of hospital-level variation on the use of inpatient rehabilitation facilities versus skilled nursing facilities on individual patients with stroke. Circ Cardiovasc Qual Outcomes. 2024;17:e010636. doi: 10.1161/CIRCOUTCOMES.123.010636 Crossref. PubMed.

6. Cogan AM, Weaver JA, Davidson LF, Khromouchkine N, Mallinson T. Association of therapy time and cognitive recovery in stroke patients in post-acute rehabilitation. J Am Med Dir Assoc. 2021;22:453–458.e3. doi: 10.1016/j.jamda.2020.06.031 Crossref.

7. MacDonald SL, Linkewich E, Bayley M, Jeong IJ, Fang J, Fleet JL. The association between inpatient rehabilitation intensity and outcomes after stroke in Ontario, Canada. Int J Stroke. 2024;19:431–441. doi: 10.1177/17474930231215005 Crossref.

8. Outpatient Service Trialists. Therapy‐based rehabilitation services for stroke patients at home. Cochrane Database Syst Rev. 2003;2003:CD002925. doi: 10.1002/14651858.CD002925 Crossref.

9. Freburger JK, Li D, Fraher EP. Community use of physical and occupational therapy after stroke and risk of hospital readmission. Arch Phys Med Rehabil. 2018;99:26–34.e5. doi: 10.1016/j.apmr.2017.07.011 Crossref.

10. Stein J, Rodstein BM, Levine SR, Cheung K, Sicklick A, Silver B, Hedeman R, Egan A, Borg-Jensen P, Magdon-Ismail Z; Northeast Cerebrovascular Consortium Stroke Rehabilitation and Recovery Delphi Study Group. Which road to recovery? factors influencing postacute stroke discharge destinations: a Delphi study. Stroke. 2022;53:947–955. doi: 10.1161/STROKEAHA.121.034815 Crossref. PubMed.

11. Langhorne P, Baylan S; Early Supported Discharge Trialists. Early supported discharge services for people with acute stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2017;7:CD000443. doi: 10.1002/14651858.CD000443.pub4 Crossref. PubMed.

12. Stuart M, Ryser C, Levitt A, Beer S, Kesselring J, Chard S, Weinrich M. Stroke rehabilitation in Switzerland versus the United States: a preliminary comparison. Neurorehabil Neural Repair. 2005;19:139–147. doi: 10.1177/1545968305277088 Crossref.

13. Hitch D, Leech K, Neale S, Malcolm A. Evaluating the implementation of an early supported discharge (ESD) program for stroke survivors: a mixed methods longitudinal case study. PLoS One. 2020;15:e0235055. doi: 10.1371/journal.pone.0235055 Crossref.

14. Jee S, Jeong M, Paik N-J, Kim W-S, Shin Y-I, Ko S-H, Kwon IS, Choi BM, Jung Y, Chang W, et al. Early supported discharge and transitional care management after stroke: a systematic review and meta-analysis. Front Neurol. 2022;13:755316. doi: 10.3389/fneur.2022.755316 Crossref.

15. Lindley RI, Anderson CS, Billot L, et al. Family-led rehabilitation after stroke in India (ATTEND): a randomised controlled trial. Lancet. 2017;390:588–599. doi: 10.1016/S0140-6736(17)31447-2 Crossref.

16. Lawler K. Family-led rehabilitation after stroke may not improve patient outcomes compared to usual care [commentary]. J Physiother. 2018;64:59. doi: 10.1016/j.jphys.2017.09.002 Crossref.

17. Pandian JD, Felix C, Kaur P, Sharma D, Julia L, Toor G, Arora R, Gandhi DBC, Verma SJ, Anderson CS, et al. FAmily-Led RehabiliTaTion aftEr Stroke in INDia: the ATTEND pilot study. Int J Stroke. 2015;10:609–614. doi: 10.1111/ijs.12475 Crossref.

18. Ifejika NL, Awosika OO, Black T, Duncan PW, Harvey RL, Katz DI, Kimberley TJ, Lutz B, O'Neil F, Stein J, et al. Improving access to stroke rehabilitation and recovery: a policy statement from the American Heart Association/American Stroke Association. Stroke. 2025;56:e218–e233. doi: 10.1161/STR.0000000000000493 Crossref. PubMed.

19. Karmarkar AM, Kuo YF, Tahashilder MI, Kumar A, Li C-Y. Variation in post-acute care transitions for medicare beneficiaries with stroke. J Am Med Dir Assoc. 2026;27:105969. doi: 10.1016/j.jamda.2025.105969 Crossref.

20. Reeves MJ, Fritz MC, Hughes AK, et al. Comparing Programs to Support Stroke Survivors and Their Caregivers during the Transition Home from the Hospital or a Rehabilitation Facility—The MISTT Study. Washington, DC: Patient-Centered Outcomes Research Institute (PCORI); July 2020.

21. Pattath P, Odom EC, Tong X, Yin X, Coleman King SM; Paul Coverdell National Acute Stroke Program team. A comparison of acute ischemic stroke patients discharged to inpatient rehabilitation vs a skilled nursing facility: the Paul Coverdell National Acute Stroke Program. Arch Phys Med Rehabil. 2023;104:605–611. doi: 10.1016/j.apmr.2022.11.008 Crossref.

22. Bako AT, Potter TB, Pan AP, Li C-Y, Hay CC, Reeves MJ, Abott R, Vahidy FS. Postacute discharge destination and major adverse cardiovascular events among patients with intracerebral hemorrhage. Stroke. 2025;56:2658–2668. doi: 10.1161/strokeaha.125.050620 Crossref. PubMed.

23. Simmonds KP, Burke J, Kozlowski AJ, Andary M, Luo Z, Reeves MJ. Emulating 3 clinical trials that compare stroke rehabilitation at inpatient rehabilitation facilities with skilled nursing facilities. Arch Phys Med Rehabil. 2022;103:1311–1319. doi: 10.1016/j.apmr.2021.12.029 Crossref. PubMed.

24. Chen CC, Heinemann AW, Granger CV, Linn RT. Functional gains and therapy intensity during subacute rehabilitation: a study of 20 facilities. Arch Phys Med Rehabil. 2002;83:1514–1523. doi: 10.1053/apmr.2002.35107 Crossref.

25. Reistetter TA, Dean JM, Haas AM, Prochaska JD, Jupiter DC, Eschbach K, Kuo Y-F. Development and evaluation of rehabilitation service areas for the United States. BMC Health Serv Res. 2023;23:204. doi: 10.1186/s12913-023-09184-2 Crossref.

26. Deardorff WJ, Burke RE, Makam AN. Navigating postacute care options for patients after hospital discharge: a review. JAMA Intern Med. 2026;186:362–373. doi: 10.1001/jamainternmed.2025.7422 Crossref.

27. Vabson B, Hicks AL, Chernew ME. Medicare Advantage denies 17 percent of initial claims; most denials are reversed, but provider payouts dip 7 percent: article examines Medicare Advantage claim denials. Health Aff (Millwood). 2025;44:702–706. doi: 10.1377/hlthaff.2024.01485 Crossref.

28. Wissoker D, Garrett B. Characteristics, Costs, and Payments for Stays within a Sequence of Post-acute Care. Urban Institute; 2018.

2.2. Rehabilitation Interventions in the Inpatient Acute Hospital Setting

1. Chippala P, Sharma R. Effect of very early mobilisation on functional status in patients with acute stroke: a single-blind, randomized controlled trail. Clin Rehabil. 2016;30:669–675. doi: 10.1177/0269215515596054 Crossref.

2. Liu N, Cadilhac DA, Andrew NE, Zeng L, Li Z, Li J, Li Y, Yu X, Mi B, Li Z, et al. Randomized controlled trial of early rehabilitation after intracerebral hemorrhage stroke: difference in outcomes within 6 months of stroke. Stroke. 2014;45:3502–3507. doi: 10.1161/STROKEAHA.114.005661 Crossref. PubMed.

3. Tong Y, Cheng Z, Rajah GB, Duan H, Cai L, Zhang N, Du H, Geng X, Ding Y. High intensity physical rehabilitation later than 24 h post stroke is beneficial in patients: a pilot randomized controlled trial (RCT) study in mild to moderate ischemic stroke. Front Neurol. 2019;10:113. doi: 10.3389/fneur.2019.00113 Crossref.

4. Wang F, Zhang S, Zhou F, Zhao M, Zhao H. Early physical rehabilitation therapy between 24 and 48 h following acute ischemic stroke onset: a randomized controlled trial. Disabil Rehabil. 2022;44:3967–3972. doi: 10.1080/09638288.2021.1897168 Crossref.

5. Yen HC, Jeng JS, Chen WS, Pan G-S, Chuang Pt Bs W-Y, Lee Y-Y, Teng T. Early mobilization of mild-moderate intracerebral hemorrhage patients in a stroke center: a randomized controlled trial. Neurorehabil Neural Repair. 2020;34:72–81. doi: 10.1177/1545968319893294 Crossref.

6. AVERT Trial Collaboration Group. Efficacy and safety of very early mobilisation within 24 h of stroke onset (AVERT): a randomised controlled trial. Lancet. 2015;386:46–55. doi: 10.1016/S0140-6736(15)60690-0 Crossref. PubMed.

7. Koennecke HC, Belz W, Berfelde D, Endres M, Fitzek S, Hamilton F, Kreitsch P, Mackert B-M, Nabavi DG, Nolte CH, et al; Berlin Stroke Register Investigators. Factors influencing in-hospital mortality and morbidity in patients treated on a stroke unit. Neurology. 2011;77:965–972. doi: 10.1212/WNL.0b013e31822dc795 Crossref. PubMed.

8. Kumar S, Selim MH, Caplan LR. Medical complications after stroke. Lancet Neurol. 2010;9:105–118. doi: 10.1016/S1474-4422(09)70266-2 Crossref. PubMed.

9. Diserens K, Moreira T, Hirt L, Faouzi M, Grujic J, Bieler G, Vuadens P, Michel P. Early mobilization out of bed after ischaemic stroke reduces severe complications but not cerebral blood flow: a randomized controlled pilot trial. Clin Rehabil. 2012;26:451–459. doi: 10.1177/0269215511425541 Crossref. PubMed.

10. Li F, Pendy JT, Ding JN, Peng C, Li X, Shen J, Wang S, Geng X. Exercise rehabilitation immediately following ischemic stroke exacerbates inflammatory injury. Neurol Res. 2017;39:530–537. doi: 10.1080/01616412.2017.1315882 Crossref.

11. Shen J, Huber M, Zhao EY, Peng C, Li F, Li X, Geng X, Ding Y. Early rehabilitation aggravates brain damage after stroke via enhanced activation of nicotinamide adenine dinucleotide phosphate oxidase (NOX). Brain Res. 2016;1648:266–276. doi: 10.1016/j.brainres.2016.08.001 Crossref.

12. Li F, Shi W, Zhao EY, Geng X, Li X, Peng C, Shen J, Wang S, Ding Y. Enhanced apoptosis from early physical exercise rehabilitation following ischemic stroke. J Neurosci Res. 2017;95:1017–1024. doi: 10.1002/jnr.23890 Crossref.

13. Prabhakaran S, Gonzalez NR, Zachrison KS, Adeoye O, Alexandrov AW, Ansari SA, Chapman S, Czap AL, Dumitrascu OM, Ishida K, et al. 2026 Guideline for the Early Management of Patients With Acute Ischemic Stroke: A Guideline From the American Heart Association/American Stroke Association. Stroke. 2026; doi: 10.1161/str.0000000000000513. [E-pub ahead of print] Crossref.

14. Anjos JM, Neto MG, de Araujo Tapparelli Y, Tse G, Biondi-Zoccai G, de Souza Lima Bitar Y, Roever L, Duraes AR. Efficacy and safety of very early mobilization after thrombolysis in acute ischemic stroke: a randomized clinical trial. J Neurol. 2023;270:843–850. doi: 10.1007/s00415-022-11411-5 Crossref.

3. Prevention and Medical Management of Comorbidities

3.1. Prevention of Skin Breakdown and Contractures

1. Alshahrani B, Sim J, Middleton R. Nursing interventions for pressure injury prevention among critically ill patients: A systematic review. J Clin Nurs. 2021;30:2151–2168. doi: 10.1111/jocn.15709 Crossref.

2. Lin F, Wu Z, Song B, Coyer F, Chaboyer W. The effectiveness of multicomponent pressure injury prevention programs in adult intensive care patients: A systematic review. Int J Nurs Stud. 2020;102:103483. doi: 10.1016/j.ijnurstu.2019.103483 Crossref.

3. Reddy M, Gill SS, Rochon PA. Preventing pressure ulcers: a systematic review. JAMA. 2006;296:974–984. doi: 10.1001/jama.296.8.974 Crossref.

4. Brandstater ME, Shutter LA. Rehabilitation interventions during acute care of stroke patients. Top Stroke Rehabil. 2002;9:48–56. doi: 10.1310/YGAX-X5VK-NHVD-HGPA Crossref.

5. Portoghese C, Deppisch M, Sonenblum S, Samson B, Munro C, Capasso V, Call E, Black J, Brienza D. The Role of Shear Stress and Shear Strain in Pressure Injury Development. Adv Skin Wound Care. 2024;37:20–25. doi: 10.1097/ASW.0000000000000075 Crossref.

6. Huang L, Yan Y, Huang Y, Liao Y, Li W, Gu C, Lu X, Li Y, Li C. Summary of best evidence for prevention and control of pressure ulcer on support surfaces. Int Wound J. 2023;20:2276–2285. doi: 10.1111/iwj.14109 Crossref.

7. Warshawsky N, Pascale A, Cox J, Capasso V, Edsberg LE. Utilization of pressure injury prevention interventions in acute care hospitals. Am J Nurs. 2025;125:38–43. doi: 10.1097/AJN.0000000000000109 Crossref.

8. Defloor T, De Bacquer D, Grypdonck MH. The effect of various combinations of turning and pressure reducing devices on the incidence of pressure ulcers. Int J Nurs Stud. 2005;42:37–46. doi: 10.1016/j.ijnurstu.2004.05.013 Crossref.

9. Forni C, Gazineo D, Allegrini E, Bolgeo T, Brugnolli A, Canzan F, Chiari P, Evangelista A, Grugnetti AM, Grugnetti G, et al; Multischiume Group. Effectiveness of a multi-layer silicone-adhesive polyurethane foam dressing as prevention for sacral pressure ulcers in at-risk in-patients: randomized controlled trial. Int J Nurs Stud. 2022;127:104172. doi: 10.1016/j.ijnurstu.2022.104172 Crossref.

10. Sillmon K, Moran C, Shook L, Lawson C, Burfield AH. The use of prophylactic foam dressings for prevention of hospital-acquired pressure injuries: a systematic review. J Wound Ostomy Continence Nurs. 2021;48:211–218. doi: 10.1097/WON.0000000000000762 Crossref.

11. Ayello EA, Zulkowski K, Capezuti E, Jicman WH, Sibbald RG. Educating nurses in the United States about pressure injuries. Adv Skin Wound Care. 2017;30:83–94. doi: 10.1097/01.ASW.0000511507.43366.a1 Crossref.

12. Cesca N, Szczepanski A, Malik W, Cheema M, Allen B, Dutta T, Cameron JI, Gabison S. Facilitators and barriers to pressure injury prevention, management and education: Perspectives from healthcare professionals-A qualitative study. Int Wound J. 2024;21:e14371. doi: 10.1111/iwj.14371 Crossref.

13. Rafiei H, Vanaki Z, Mohammadi E, Hosseinzadeh K. The role of family caregivers in pressure injury prevention guidelines: a scoping review. Home Healthc Now. 2021;39:253–260. doi: 10.1097/NHH.0000000000001000 Crossref.

14. Sahay A, Willis E, Yu S. Pressure injury education for older adults and carers living in community settings: a scoping review. Int Wound J. 2024;21:e14894. doi: 10.1111/iwj.14894 Crossref.

15. Ghasemi E, Khademi-Kalantari K, Khalkhali-Zavieh M, Rezasoltani A, Ghasemi M, Akbarzadeh Baghban A, Ghasemi M. The effect of functional stretching exercises on neural and mechanical properties of the spastic medial gastrocnemius muscle in patients with chronic stroke: a randomized controlled trial. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2018;27:1733–1742. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2018.01.024 Crossref.

16. Pradines M, Ghedira M, Portero R, Masson I, Marciniak C, Hicklin D, Hutin E, Portero P, Gracies J-M, Bayle N. Ultrasound structural changes in triceps surae after a 1-year daily self-stretch program: a prospective randomized controlled trial in chronic hemiparesis. Neurorehabil Neural Repair. 2019;33:245–259. doi: 10.1177/1545968319829455 Crossref.

17. Ada L, Goddard E, McCully J, Stavrinos T, Bampton J. Thirty minutes of positioning reduces the development of shoulder external rotation contracture after stroke: a randomized controlled trial. Arch Phys Med Rehabil. 2005;86:230–234. doi: 10.1016/j.apmr.2004.02.031 Crossref. PubMed.

18. de Jong LD, Nieuwboer A, Aufdemkampe G. Contracture preventive positioning of the hemiplegic arm in subacute stroke patients: a pilot randomized controlled trial. Clin Rehabil. 2006;20:656–667. doi: 10.1191/0269215506cre1007oa Crossref.

19. Robinson W, Smith R, Aung O, Ada L. No difference between wearing a night splint and standing on a tilt table in preventing ankle contracture early after stroke: a randomised trial. Aust J Physiother. 2008;54:33–38. doi: 10.1016/s0004-9514(08)70063-1 Crossref.

20. Basaran A, Emre U, Karadavut KI, Balbaloglu O, Bulmus N. Hand splinting for poststroke spasticity: a randomized controlled trial. Top Stroke Rehabil. 2012;19:329–337. doi: 10.1310/tsr1904-329 Crossref. PubMed.

21. Tyson SF, Kent RM. The effect of upper limb orthotics after stroke: a systematic review. NeuroRehabilitation. 2011;28:29–36. doi: 10.3233/NRE-2011-0629 Crossref. PubMed.

22. Namdari S, Horneff JG, Baldwin K, Keenan MA. Muscle releases to improve passive motion and relieve pain in patients with spastic hemiplegia and elbow flexion contractures. J Shoulder Elbow Surg. 2012;21:1357–1362. doi: 10.1016/j.jse.2011.09.029 Crossref. PubMed.

23. Sackley C, Brittle N, Patel S, Ellins J, Scott M, Wright C, Dewey ME. The prevalence of joint contractures, pressure sores, painful shoulder, other pain, falls, and depression in the year after a severely disabling stroke. Stroke. 2008;39:3329–3334. doi: 10.1161/STROKEAHA.108.518563 Crossref. PubMed.

24. Wong YS, Sung SF, Wu CS, Su Y-H, Lin M-H, Su C-Y, Ong C-T. Prevalence of pressure injuries and bruising in patients with acute ischemic stroke: A prospective observational study. J Clin Neurosci. 2025;139:111465. doi: 10.1016/j.jocn.2025.111465 Crossref.

25. Kwah LK, Harvey LA, Diong JH, Herbert RD. Half of the adults who present to hospital with stroke develop at least one contracture within six months: an observational study. J Physiother. 2012;58:41–47. doi: 10.1016/S1836-9553(12)70071-1 Crossref. PubMed.

26. Miller EL, Murray L, Richards L, Zorowitz RD, Bakas T, Clark P, Billinger SA; American Heart Association Council on Cardiovascular Nursing and the Stroke Council. Comprehensive overview of nursing and interdisciplinary rehabilitation care of the stroke patient: a scientific statement from the American Heart Association. Stroke. 2010;41:2402–2448. doi: 10.1161/STR.0b013e3181e7512b Crossref. PubMed.

27. Rodgers ML, Fox E, Abdelhak T, Franker LM, Johnson BJ, Kirchner-Sullivan C, Livesay SL, Marden FA; American Heart Association Council on Cardiovascular and Stroke Nursing and the Stroke Council. Care of the Patient With Acute Ischemic Stroke (Endovascular/Intensive Care Unit-Postinterventional Therapy): Update to 2009 Comprehensive Nursing Care Scientific Statement: A Scientific Statement From the American Heart Association. Stroke. 2021;52:e198–e210. doi: 10.1161/STR.0000000000000358 Crossref. PubMed.

28. Harvey L, de Jong I, Goehl G, Mardwedel S. Twelve weeks of nightly stretch does not reduce thumb web-space contractures in people with a neurological condition: a randomised controlled trial. Aust J Physiother. 2006;52:251–258. doi: 10.1016/s0004-9514(06)70004-6 Crossref.

29. Hesse S, Mach H, Frohlich S, Behrend S, Werner C, Melzer I. An early botulinum toxin A treatment in subacute stroke patients may prevent a disabling finger flexor stiffness six months later: a randomized controlled trial. Clin Rehabil. 2012;26:237–245. doi: 10.1177/0269215511421355 Crossref. PubMed.

30. Lannin NA, Cusick A, McCluskey A, Herbert RD. Effects of splinting on wrist contracture after stroke: a randomized controlled trial. Stroke. 2007;38:111–116. doi: 10.1161/01.STR.0000251722.77088.12 Crossref. PubMed.

3.2. Venous Thromboembolism (VTE) Prevention

1. Dennis M, Sandercock P, Graham C, Forbes J, Smith J; CLOTS (Clots in Legs Or sTockings after Stroke) Trials Collaboration. The Clots in Legs Or sTockings after Stroke (CLOTS) 3 trial: a randomised controlled trial to determine whether or not intermittent pneumatic compression reduces the risk of post-stroke deep vein thrombosis and to estimate its cost-effectiveness. Health Technol Assess. 2015;19:1–90. doi: 10.3310/hta19760 Crossref.

2. Yogendrakumar V, Lun R, Khan F, Salottolo K, Lacut K, Graham C, Dennis M, Hutton B, Wells PS, Fergusson D, et al. Venous thromboembolism prevention in intracerebral hemorrhage: A systematic review and network meta-analysis. PLoS One. 2020;15:e0234957. doi: 10.1371/journal.pone.0234957 Crossref.

3. Zhang D, Li F, Li X, Du G. Effect of Intermittent Pneumatic Compression on Preventing Deep Vein Thrombosis Among Stroke Patients: A Systematic Review and Meta-Analysis. Worldviews Evid Based Nurs. 2018;15:189–196. doi: 10.1111/wvn.12288 Crossref.

4. Dennis M, Sandercock P, Reid J, Graham C, Murray G, Venables G, Rudd A, Bowler G; CLOTS Trials Collaboration. The effect of graduated compression stockings on long-term outcomes after stroke: the CLOTS trials 1 and 2. Stroke. 2013;44:1075–1079. doi: 10.1161/STROKEAHA.111.680298 Crossref. PubMed.

5. Sachdeva A, Dalton M, Lees T. Graduated compression stockings for prevention of deep vein thrombosis. Cochrane Database Syst Rev. 2018;11:CD001484. doi: 10.1002/14651858.CD001484.pub4 Crossref. PubMed.

6. Wang X, Ouyang M, Yang J, Song L, Yang M, Anderson CS. Anticoagulants for acute ischaemic stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2021;10:CD000024. doi: 10.1002/14651858.CD000024.pub5 Crossref. PubMed.

7. Whiteley WN, Adams HP, Bath PM, Berge E, Sandset PM, Dennis M, Murray GD, Wong KL, Sandercock PAG. Targeted use of heparin, heparinoids, or low-molecular-weight heparin to improve outcome after acute ischaemic stroke: an individual patient data meta-analysis of randomised controlled trials. Lancet Neurol. 2013;12:539–545. doi: 10.1016/S1474-4422(13)70079-6 Crossref. PubMed.

8. Sandercock PA, Leong TS. Low-molecular-weight heparins or heparinoids versus standard unfractionated heparin for acute ischaemic stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2017;4:CD000119. doi: 10.1002/14651858.CD000119.pub4 Crossref.

9. Cochrane A, Chen C, Stephen J, Rønning OM, Anderson CS, Hankey GJ, Al-Shahi Salman R. Antithrombotic treatment after stroke due to intracerebral haemorrhage. Cochrane Database Syst Rev. 2023;1:CD012144. doi: 10.1002/14651858.CD012144.pub3 Crossref.

10. Paciaroni M, Agnelli G, Alberti A, Becattini C, Guercini F, Martini G, Tassi R, Marotta G, Venti M, Acciarresi M, et al. PREvention of VENous Thromboembolism in Hemorrhagic Stroke patients–PREVENTIHS Study: a randomized controlled trial and a systematic review and meta-analysis. Eur Neurol. 2021;83:566–575. doi: 10.1159/000511574 Crossref.

11. Dennis M, Caso V, Kappelle LJ, Pavlovic A, Sandercock P; European Stroke Organisation. European Stroke Organisation (ESO) guidelines for prophylaxis for venous thromboembolism in immobile patients with acute ischaemic stroke. Eur Stroke J. 2016;1:6–19. doi: 10.1177/2396987316628384 Crossref.

12. The CLOTS Trial Collaboration. Effectiveness of thigh-length graduated compression stockings to reduce the risk of deep vein thrombosis after stroke (CLOTS trial 1): a multicentre, randomised controlled trial. Lancet. 2009;373:1958–1965. doi: 10.1016/S0140-6736(09)60941-7 Crossref. PubMed.

3.3. Treatment of Bladder and Bowel Dysfunction

1. Agapiou E, Pyrgelis ES, Mavridis IN, Meliou M, Wimalachandra WSB. Bladder dysfunction following stroke: an updated review on diagnosis and management. Bladder (San Franc). 2024;11:e21200005. doi: 10.14440/bladder.2024.0012 Crossref.

2. Watkins C, Tishkovskaya S, Brown C, Sutton C, Garcia YS, Forshaw D, Prescott G, Thomas L, Roffe C, Booth J, et al. Systematic voiding programme in adults with urinary incontinence following acute stroke: the ICONS-II RCT. Health Technol Assess. 2022;26:1–88. doi: 10.3310/EFTV1270 Crossref.

3. Gould CV, Umscheid CA, Agarwal RK, Kuntz G, Pegues DA; Healthcare Infection Control Practices Advisory Committee. Guideline for prevention of catheter-associated urinary tract infections 2009. Infect Control Hosp Epidemiol. 2010;31:319–326. doi: 10.1086/651091 Crossref. PubMed.

4. Griffiths R, Fernandez R. Strategies for the removal of short-term indwelling urethral catheters in adults. Cochrane Database Syst Rev. 2007;2007:CD004011. doi: 10.1002/14651858.CD004011.pub3 Crossref.

5. Thomas LH, Coupe J, Cross LD, Tan AL, Watkins CL. Interventions for treating urinary incontinence after stroke in adults. Cochrane Database Syst Rev. 2019;2:CD004462. doi: 10.1002/14651858.CD004462.pub4 Crossref.

6. Thomas LH, French B, Sutton CJ, et al. Identifying Continence OptioNs after Stroke (ICONS): an evidence synthesis, case study and exploratory cluster randomised controlled trial of the introduction of a systematic voiding programme for patients with urinary incontinence after stroke in secondary care. Southampton, UK: NIHR Journals Library; 2015.

7. Ali MU, Fong KN, Kannan P, Bello UM, Kranz G. Effects of nonsurgical, minimally or noninvasive therapies for urinary incontinence due to neurogenic bladder: a systematic review and meta-analysis. Ther Adv Chronic Dis. 2022;13:20406223211063059. doi: 10.1177/20406223211063059 Crossref.

8. Anklesaria S, Padiyar R, Solomon JM, Bø K, Pai AR, Rao CR, Umakanth S, Ramachandra P. Physiotherapy interventions for pelvic floor dysfunctions in stroke survivors – a scoping review of literature. Top Stroke Rehabil. 2025;32:744–756. doi: 10.1080/10749357.2025.2463284 Crossref.

10. Manaila AI, Roman NA, Baseanu ICC, Minzatanu D, Tuchel VI, Basalic EB, Miclaus RS. The efficiency of rehabilitation therapy in patients diagnosed with neurogenic bladder: a systematic review. Medicina (Kaunas). 2024;60:1152. doi: 10.3390/medicina60071152 Crossref.

11. Özden F, Golcuk Y, Karaman ON, Özkeskin M. The association between urinary incontinence with pelvic pain and sensory-motor function in older women with stroke. Neurourol Urodyn. 2025;44:165–170. doi: 10.1002/nau.25613 Crossref.

12. Shin DC, Shin SH, Lee MM, Lee KJ, Song CH. Pelvic floor muscle training for urinary incontinence in female stroke patients: a randomized, controlled and blinded trial. Clin Rehabil. 2016;30:259–267. doi: 10.1177/0269215515578695 Crossref.

13. Guo GY, Kang YG. Effectiveness of neuromuscular electrical stimulation therapy in patients with urinary incontinence after stroke: a randomized sham controlled trial. Medicine (Baltimore). 2018;97:e13702. doi: 10.1097/MD.0000000000013702 Crossref.

14. Bastholm SK, Aadal L, Lundquist CB. Electrical stimulation on urinary symptoms following stroke: a systematic review. Eur J Physiother. 2018;21:73–82. doi: 10.1080/21679169.2018.1472634 Crossref.

15. Todd CL, Johnson EE, Stewart F, Wallace SA, Bryant A, Woodward S, Norton C. Conservative, physical and surgical interventions for managing faecal incontinence and constipation in adults with central neurological diseases. Cochrane Database Syst Rev. 2024;10:CD002115. doi: 10.1002/14651858.CD002115.pub6 Crossref.

16. Coggrave M, Norton C, Cody JD. Management of faecal incontinence and constipation in adults with central neurological diseases. Cochrane Database Syst Rev. 2014;2014:CD002115. doi: 10.1002/14651858.CD002115.pub5 Crossref.

17. Thomas LH, French B, Burton CR, Sutton C, Forshaw D, Dickinson H, Leathley MJ, Britt D, Roe B, Cheater FM, et al; ICONS Project Team. Evaluating a systematic voiding programme for patients with urinary incontinence after stroke in secondary care using soft systems analysis and Normalisation Process Theory: findings from the ICONS case study phase. Int J Nurs Stud. 2014;51:1308–1320. doi: 10.1016/j.ijnurstu.2014.02.009 Crossref. PubMed.

18. Arkan G, Beser A, Ozturk V. Experiences related to urinary incontinence of stroke patients: a qualitative descriptive study. J Neurosci Nurs. 2018;50:42–47. doi: 10.1097/JNN.0000000000000336 Crossref.

19. Özden F, Tümtürk I, Özkeskin M, Bakirhan S. The effect of pelvic floor muscle training on urinary incontinence in patients with stroke: a systematic review and meta-analysis. Ir J Med Sci. 2023;192:1481–1495. doi: 10.1007/s11845-022-03083-x Crossref.

20. Cruz E, Miller C, Zhang W, Rogers K, Lee H-J, Wells Y, Cloud GC, Lannin NA. Does non-implanted electrical stimulation reduce post-stroke urinary or fecal incontinence? A systematic review with meta-analysis. Int J Stroke. 2022;17:378–388. doi: 10.1177/17474930211006301 Crossref.

21. Philpott HL, Nandurkar S, Lubel J, Gibson PR. Drug-induced gastrointestinal disorders. Frontline Gastroenterol. 2014;5:49–57. doi: 10.1136/flgastro-2013-100316 Crossref.

22. Trinchieri M, Perletti G, Magri V, Stamatiou K, Montanari E, Trinchieri A. Urinary side effects of psychotropic drugs: a systematic review and metanalysis. Neurourol Urodyn. 2021;40:1333–1348. doi: 10.1002/nau.24695 Crossref.

3.4. Assessment, Prevention, and Treatment of Hemiplegic Shoulder Pain

1. Anwer S, Alghadir A. Incidence, prevalence, and risk factors of hemiplegic shoulder pain: a systematic review. Int J Environ Res Public Health. 2020;17:4962. doi: 10.3390/ijerph17144962 Crossref.

2. Torres-Parada M, Vivas J, Balboa-Barreiro V, Marey-López J. Post-stroke shoulder pain subtypes classifying criteria: towards a more specific assessment and improved physical therapeutic care. Braz J Phys Ther. 2020;24:124–134. doi: 10.1016/j.bjpt.2019.02.010 Crossref.

3. Wu Q, Zhang F, Fei Y, Sima Z, Gong S, Tong Q, Jiao Q, Wu H, Gong J. Development and validation of an early predictive model for hemiplegic shoulder pain: a comparative study of logistic regression, support vector machine, and random forest. Front Neurol. 2025;16:1612222. doi: 10.3389/fneur.2025.1612222 Crossref.

4. Kumar P, Fernando C, Mendoza D, Shah R. Risk and associated factors for hemiplegic shoulder pain in people with stroke: a systematic literature review. Physical Therapy Reviews. 2021;27:191–204. doi: 10.1080/10833196.2021.2019369 Crossref.

5. Huang YC, Chuang CY, Leong CP, Wang L, Chen H-L, Chiang C-W. Effect of comprehensive postural instructions and range of motion exercises via educational videos on motor function and shoulder injury in stroke patients with hemiplegia: a preliminary study. J Manipulative Physiol Ther. 2018;41:665–671. doi: 10.1016/j.jmpt.2018.03.004 Crossref.

6. Praveen Raj JD, Dsouza SA, Sitaram A, Umakanth S. Effectiveness of caregiver education for prevention of shoulder pain in acute stroke survivors: a randomised controlled trial. Disabil CBR Inclusive Dev. 2021;32:66–80. doi: 10.47985/dcidj.378 Crossref.

7. Ada L, Foongchomcheay A, Langhammer B, Preston E, Stanton R, Robinson J, Paul S, Canning C. Lap-tray and triangular sling are no more effective than a hemi-sling in preventing shoulder subluxation in those at risk early after stroke: a randomized trial. Eur J Phys Rehabil Med. 2017;53:41–48. doi: 10.23736/S1973-9087.16.04209-X Crossref.

8. Kim MG, Lee SA, Park EJ, Choi MK, Kim JM, Sohn MK, Jee SJ, Kim YW, Son JE, Lee SJ, et al. Elastic dynamic sling on subluxation of hemiplegic shoulder in patients with subacute stroke: a multicenter randomized controlled trial. Int J Environ Res Public Health. 2022;19:9975. doi: 10.3390/ijerph19169975 Crossref.

9. Nadler M, Pauls M. Shoulder orthoses for the prevention and reduction of hemiplegic shoulder pain and subluxation: systematic review. Clin Rehabil. 2017;31:444–453. doi: 10.1177/0269215516648753 Crossref.

10. Pan R, Zhou M, Cai H, Guo Y, Zhan L, Li M, Yang Z, Zhu L, Zhan J, Chen H. A randomized controlled trial of a modified wheelchair arm-support to reduce shoulder pain in stroke patients. Clin Rehabil. 2018;32:37–47. doi: 10.1177/0269215517714830 Crossref.

11. Chiu YH, Chang KV, Wu WT, Hsu P-C, Özçakar L. Comparative effectiveness of injection therapies for hemiplegic shoulder pain in stroke: a systematic review and network meta-analysis. Pharmaceuticals (Basel). 2021;14:788. doi: 10.3390/ph14080788 Crossref.

12. de Sire A, Moggio L, Demeco A, Fortunato F, Spanò R, Aiello V, Marotta N, Ammendolia A. Efficacy of rehabilitative techniques in reducing hemiplegic shoulder pain in stroke: Systematic review and meta-analysis. Ann Phys Rehabil Med. 2022;65:101602. doi: 10.1016/j.rehab.2021.101602 Crossref.

13. Li Q, Shi H, Jia L, Liang L. Effectiveness of botulinum toxin a injection for hemiplegic shoulder pain: a meta-analysis of randomized controlled trials. Basic Clin Pharmacol Toxicol. 2025;136:e70043. doi: 10.1111/bcpt.70043 Crossref.

14. Xie HM, Guo TT, Sun X, Ge H-X, Chen X-D, Zhao K-J, Zhang L-N. Effectiveness of Botulinum Toxin A in Treatment of Hemiplegic Shoulder Pain: A Systematic Review and Meta-analysis. Arch Phys Med Rehabil. 2021;102:1775–1787. doi: 10.1016/j.apmr.2020.12.010 Crossref.

15. Na D, Park MS, Choi HJ, Yang J, Cho Y-J, Jeon JP. Pulsed Radiofrequency Neuromodulation for Post-Stroke Shoulder Pain in Patients with Hemorrhagic Stroke. J Korean Neurosurg Soc. 2024;67:568–577. doi: 10.3340/jkns.2023.0204 Crossref.

16. Qiu H, Li J, Zhou T, Wang H, Li J. Electrical Stimulation in the Treatment of Hemiplegic Shoulder Pain: A Meta-Analysis of Randomized Controlled Trials. Am J Phys Med Rehabil. 2019;98:280–286. doi: 10.1097/PHM.0000000000001067 Crossref.

17. Wilson RD, Bennett ME, Nguyen VQC, Bock WC, O'Dell MW, Watanabe TK, Amundson RH, Hoyen HA, Chae J. Fully Implantable Peripheral Nerve Stimulation for Hemiplegic Shoulder Pain: A Multi-Site Case Series With Two-Year Follow-Up. Neuromodulation. 2018;21:290–295. doi: 10.1111/ner.12726 Crossref.

18. Wilson RD, Gunzler DD, Bennett ME, Chae J. Peripheral nerve stimulation compared with usual care for pain relief of hemiplegic shoulder pain: a randomized controlled trial. Am J Phys Med Rehabil. 2014;93:17–28. doi: 10.1097/PHM.0000000000000011 Crossref.

19. Dajpratham P, Pongratanakul R, Satidwongpibool T, Kluabwang N, Akkathep P, Claikhem T. Comparative effectiveness of high-intensity laser therapy and ultrasound therapy for hemiplegic shoulder pain in stroke patients: a randomized controlled trial“. Top Stroke Rehabil. 2024;32:52–60. doi: 10.1080/10749357.2024.2359343 Crossref.

20. Deng P, Zhao Z, Zhang S, Xiao T, Li Y. Effect of kinesio taping on hemiplegic shoulder pain: A systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials. Clin Rehabil. 2021;35:317–331. doi: 10.1177/0269215520964950 Crossref.

21. Haghighat S, Khosravi M, Saadatnia M, Hashemijaazi M. Effect of Extracorporeal Shockwave Therapy on Pain Management of Patients with Post-Stroke Hemiplegic Shoulder Pain: A Prospective Randomized Controlled Trial. Adv Biomed Res. 2023;12:216. doi: 10.4103/abr.abr_279_21 Crossref.

22. Hou Y, Zhang T, Liu W, Lu M, Wang Y. The Effectiveness of Ultrasound-Guided Subacromial-Subdeltoid Bursa Combined With Long Head of the Biceps Tendon Sheath Corticosteroid Injection for Hemiplegic Shoulder Pain: A Randomized Controlled Trial. Front Neurol. 2022;13:899037. doi: 10.3389/fneur.2022.899037 Crossref.

23. Korkmaz N, Gurcay E, Demir Y, Tezen O, Korkmaz I, Atar MO, Yaşar E. The effectiveness of high-intensity laser therapy in the treatment of post-stroke patients with hemiplegic shoulder pain: a prospective randomized controlled study. Lasers Med Sci. 2022;37:645–653. doi: 10.1007/s10103-021-03316-y Crossref.

24. Li L, Zheng Y, He C, Zhao Y. Efficacy and safety of kinesiology tape for hemiplegic shoulder pain: A systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials. J Back Musculoskelet Rehabil. 2022;35:35–46. doi: 10.3233/BMR-200323 Crossref.

25. Qin T, Hu T, Dan Y, Qiu C, Chen M, Kong F, Huang S, Zhai Z, Xu Y, Sun T. The effectiveness of low-frequency electrical stimulation in treating hemiplegic shoulder pain: a systematic review and meta-analysis. Front Neurol. 2025;16:1574338. doi: 10.3389/fneur.2025.1574338 Crossref.

26. Tan B, Jia G, Song Y, Jiang W. Effect of kinesiotaping on pain relief and upper limb function in stroke survivors: a systematic review and meta-analysis. Am J Transl Res. 2022;14:3372–3380.

27. Wang YG, Fu YD, Zhou NJ, Yang J-K. Efficacy of suprascapular nerve blocks for management of hemiplegic shoulder pain: a systematic review and meta-analysis. Eur Rev Med Pharmacol Sci. 2021;25:4702–4713. doi: 10.26355/eurrev_202107_26381 Crossref.

28. Zhan J, Wei X, Tao C, Yan X, Zhang P, Chen R, Dong Y, Chen H, Liu J, Lu L. Effectiveness of acupuncture combined with rehabilitation training vs. rehabilitation training alone for post-stroke shoulder pain: A systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials. Front Med (Lausanne). 2022;9:947285. doi: 10.3389/fmed.2022.947285 Crossref.

29. Zhang J, Mao H, Gao F, Li Y, Yang Y. Comparative study of ultrasonic-guided betamethasone local injection and extracorporeal shock wave therapy in post-stroke hemiplegic shoulder pain: a randomized clinical trial. Front Neurol. 2023;14:1158500. doi: 10.3389/fneur.2023.1158500 Crossref.

30. Zhang T, Zhang C. Extracorporeal shock wave therapy for shoulder pain after stroke: A systematic review and meta-analysis. Clin Rehabil. 2023;37:774–790. doi: 10.1177/02692155231152134 Crossref.

31. Zeilig G, Rivel M, Doron D, Defrin R. Does hemiplegic shoulder pain share clinical and sensory characteristics with central neuropathic pain? A comparative study. Eur J Phys Rehabil Med. 2016;52:662–671.

32. Wilson RD, Chae J. Hemiplegic Shoulder Pain. Phys Med Rehabil Clin N Am. 2015;26:641–655. doi: 10.1016/j.pmr.2015.06.007 Crossref.

33. Intercollegiate Stroke Working Party. National Clinical Guideline for Stroke for the UK and Ireland. Intercollegiate Stroke Working Party. Accessed July 29, 2025. https://www.strokeguideline.org

34. Ma Z, Pan H, Bi R, Li Z, Lu W, Wan P. Systematic review of repetitive transcranial magnetic stimulation for post-stroke hemiplegic shoulder pain. Neurol Sci. 2025;46:2007–2017. doi: 10.1007/s10072-024-07961-3 Crossref.

35. Gnasso R, Palermi S, Picone A, Tarantino D, Fusco G, Messina MM, Sirico F. Robotic-Assisted Rehabilitation for Post-Stroke Shoulder Pain: A Systematic Review. Sensors (Basel). 2023;23:8239. doi: 10.3390/s23198239 Crossref.

3.5. Central Post Stroke Pain

1. Edwards SA, Ioannou A, Carin-Levy G, Cowey E, Brady M, Morton S, Sande TA, Mead G, Quinn TJ. Properties of Pain Assessment Tools for Use in People Living With Stroke: Systematic Review. Front Neurol. 2020;11:792. doi: 10.3389/fneur.2020.00792 Crossref.

2. Leijon G, Boivie J. Central post-stroke pain--a controlled trial of amitriptyline and carbamazepine. Pain. 1989;36:27–36. doi: 10.1016/0304-3959(89)90108-5 Crossref.

3. Vestergaard K, Andersen G, Gottrup H, Kristensen BT, Jensen TS. Lamotrigine for central poststroke pain: a randomized controlled trial. Neurology. 2001;56:184–190. doi: 10.1212/wnl.56.2.184 Crossref.

4. Mahesh B, Singh VK, Pathak A, Kumar A, Mishra VN, Joshi D, Chaurasia RN. Efficacy of Duloxetine in Patients with Central Post-stroke Pain: A Randomized Double Blind Placebo Controlled Trial. Pain Med. 2023;24:610–617. doi: 10.1093/pm/pnac182 Crossref.

5. Asadauskas A, Stieger A, Luedi MM, Andereggen L. Advancements in Modern Treatment Approaches for Central Post-Stroke Pain: A Narrative Review. J Clin Med. 2024;13:5377. doi: 10.3390/jcm13185377 Crossref.

6. Kim JS, Bashford G, Murphy KT, Martin A, Dror V, Cheung R. Safety and efficacy of pregabalin in patients with central post-stroke pain. Pain. 2011;152:1018–1023. doi: 10.1016/j.pain.2010.12.023 Crossref. PubMed.

7. Hesami O, Gharagozli K, Beladimoghadam N, Assarzadegan F, Mansouri B, Sistanizad M. The Efficacy of Gabapentin in Patients with Central Post-stroke Pain. Iran J Pharm Res. 2015;14:95–101.

8. Klit H, Finnerup NB, Jensen TS. Central post-stroke pain: clinical characteristics, pathophysiology, and management. Lancet Neurol. 2009;8:857–868. doi: 10.1016/S1474-4422(09)70176-0 Crossref. PubMed.

9. Klit H, Finnerup NB, Andersen G, Jensen TS. Central poststroke pain: a population-based study. Pain. 2011;152:818–824. doi: 10.1016/j.pain.2010.12.030 Crossref. PubMed.

10. Raffaeli W, Minella CE, Magnani F, Sarti D. Population-based study of central post-stroke pain in Rimini district, Italy. J Pain Res. 2013;6:705–711. doi: 10.2147/JPR.S46553 Crossref. PubMed.

11. Jungehulsing GJ, Israel H, Safar N, Taskin B, Nolte CH, Brunecker P, Wernecke K-D, Villringer A. Levetiracetam in patients with central neuropathic post-stroke pain--a randomized, double-blind, placebo-controlled trial. Eur J Neurol. 2013;20:331–337. doi: 10.1111/j.1468-1331.2012.03857.x Crossref.

12. Kalita J, Chandra S, Misra UK. Pregabalin and lamotrigine in central poststroke pain: A pilot study. Neurol India. 2017;65:506–511. doi: 10.4103/neuroindia.NI_45_16 Crossref.

13. Bae SH, Kim GD, Kim KY. Analgesic effect of transcranial direct current stimulation on central post-stroke pain. Tohoku J Exp Med. 2014;234:189–195. doi: 10.1620/tjem.234.189 Crossref.

14. Baik JS, Yang JH, Ko SH, Lee SJ, Shin YI. Exploring the Potential of Transcranial Direct Current Stimulation for Relieving Central Post-Stroke Pain: A Randomized Controlled Pilot Study. Life (Basel). 2023;13:1172. doi: 10.3390/life13051172 Crossref.

15. de Oliveira RA, de Andrade DC, Mendonça M, Barros R, Luvisoto T, Myczkowski ML, Marcolin MA, Teixeira MJ. Repetitive transcranial magnetic stimulation of the left premotor/dorsolateral prefrontal cortex does not have analgesic effect on central poststroke pain. J Pain. 2014;15:1271–1281. doi: 10.1016/j.jpain.2014.09.009 Crossref.

16. Kobayashi M, Fujimaki T, Mihara B, Ohira T. Repetitive transcranial magnetic stimulation once a week induces sustainable long-term relief of central poststroke pain. Neuromodulation. 2015;18:249–254. doi: 10.1111/ner.12301 Crossref.

17. Gurdiel-Álvarez F, Navarro-López V, Varela-Rodríguez S, Juárez-Vela R, Cobos-Rincón A, Sánchez-González JL. Transcranial magnetic stimulation therapy for central post-stroke pain: systematic review and meta-analysis. Front Neurosci. 2024;18:1345128. doi: 10.3389/fnins.2024.1345128 Crossref.

18. Mayor RS, Ferreira NR, Lanzaro C, Castelo-Branco M, Valentim A, Donato H, Lapa T. Noninvasive transcranial brain stimulation in central post-stroke pain: a systematic review. Scand J Pain. 2024;24:1. doi: 10.1515/sjpain-2023-0130 Crossref.

19. Tanei T, Kajita Y, Noda H, Takebayashi S, Nakatsubo D, Maesawa S, Wakabayashi T. Efficacy of motor cortex stimulation for intractable central neuropathic pain: comparison of stimulation parameters between post-stroke pain and other central pain. Neurol Med Chir (Tokyo). 2011;51:8–14. doi: 10.2176/nmc.51.8 Crossref.

20. Hosomi K, Seymour B, Saitoh Y. Modulating the pain network--neurostimulation for central poststroke pain. Nat Rev Neurol. 2015;11:290–299. doi: 10.1038/nrneurol.2015.58 Crossref.

21. Zhang X, Hu Y, Tao W, Zhu H, Xiao D, Li Y. The Effect of Motor Cortex Stimulation on Central Poststroke Pain in a Series of 16 Patients With a Mean Follow-Up of 28 Months. Neuromodulation. 2017;20:492–496. doi: 10.1111/ner.12547 Crossref.

22. Xu XM, Luo H, Rong BB, Zheng X-M, Wang F-T, Zhang S-J, Li Z-X. Nonpharmacological therapies for central poststroke pain: A systematic review. Medicine (Baltim). 2020;99:e22611. doi: 10.1097/MD.0000000000022611 Crossref.

23. Zhang DY, Nowacki A, Nguyen TAK, et al. Deep brain stimulation for central poststroke pain syndrome: international multicenter analysis. Stereotact Funct Neurosurg. 2022;100:26.

24. Mead G. Invasive brain stimulation therapies for central post-stroke pain: a systematic review and narrative synthesis. Int J Stroke. 2023;18:76.

25. Kannan S, Gillespie CS, Hanemaaijer J, Eraifej J, Alalade AF, Green A. Deep brain stimulation and motor cortex stimulation for central post-stroke pain: a systematic review and meta-analysis. Pain Med. 2025;26:269–278. doi: 10.1093/pm/pnaf001 Crossref.

26. Nowacki A, Zhang DY, Sarica C, Elias GJB, Bajaj S, Franzini A, Franzini A, Saryyeva A, Nguyen TAK, Aziz T, et al. Thalamic deep brain stimulation for central poststroke pain syndrome: an international multicenter study. J Neurosurg. 2025;142:1235–1246. doi: 10.3171/2024.8.JNS24742 Crossref.

27. Mohanan AT, Nithya S, Nomier Y, Hassan DA, Jali AM, Qadri M, Machanchery S. Stroke-Induced Central Pain: Overview of the Mechanisms, Management, and Emerging Targets of Central Post-Stroke Pain. Pharmaceuticals (Basel). 2023;16:1103. doi: 10.3390/ph16081103 Crossref.

28. Leijon G, Boivie J, Johansson I. Central post-stroke pain--neurological symptoms and pain characteristics. Pain. 1989;36:13–25. doi: 10.1016/0304-3959(89)90107-3 Crossref.

29. Tamasauskas A, Silva-Passadouro B, Fallon N, Frank B, Laurinaviciute S, Keller S, Marshall A. Management of Central Poststroke Pain: Systematic Review and Meta-analysis. J Pain. 2025;26:104666. doi: 10.1016/j.jpain.2024.104666 Crossref.

30. Kim NY, Lee SC, Kim YW. Effect of Duloxetine for the Treatment of Chronic Central Poststroke Pain. Clin Neuropharmacol. 2019;42:73–76. doi: 10.1097/WNF.0000000000000330 Crossref.

31. Hosomi K, Katayama Y, Sakoda H, Kikumori K, Kuroha M, Ushida T. Usefulness of Mirogabalin in Central Neuropathic Pain After Stroke: Post Hoc Analysis of a Phase 3 Study by Stroke Type and Location. Pain Ther. 2024;13:1151–1171. doi: 10.1007/s40122-024-00616-3 Crossref.

32. Mulla SM, Wang L, Khokhar R, Izhar Z, Agarwal A, Couban R, Buckley DN, Moulin DE, Panju A, Makosso-Kallyth S, et al. Management of Central Poststroke Pain: Systematic Review of Randomized Controlled Trials. Stroke. 2015;46:2853–2860. doi: 10.1161/STROKEAHA.115.010259 Crossref. PubMed.

3.6. Prevention of Falls

1. Goljar N, Globokar D, Puzic N, Kopitar N, Vrabič M, Ivanovski M, Vidmar G. Effectiveness of a fall-risk reduction programme for inpatient rehabilitation after stroke. Disabil Rehabil. 2016;38:1811–1819. doi: 10.3109/09638288.2015.1107771 Crossref.

2. Denissen S, Staring W, Kunkel D, Pickering RM, Lennon S, Geurts AC, Weerdesteyn V, Verheyden GS. Interventions for preventing falls in people after stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2019;10:CD008728. doi: 10.1002/14651858.CD008728.pub3 Crossref.

3. Medina-Rincon A, Perez LM, Bagur-Calafat C, Barrios-Franquesa AM, Amor-Barbosa M, Doménech-García V, Bellosta-López P, Buesa-Estéllez A, Girabent-Farrés M. The effect of brief, repetitive balance training on balance and fall risk in older people with stroke: A randomized controlled trial. Clin Rehabil. 2025;39:447–459. doi: 10.1177/02692155241312067 Crossref.

4. Zhang H, Xu K, Sun Y, Xiao LD, Yan F, Tang S. Exercise for preventing falls in post-stroke patients: A network meta-analysis. Res Nurs Health. 2022;45:525–536. doi: 10.1002/nur.22263 Crossref.

5. Yang F, Lees J, Simpkins C, Butler A. Interventions for preventing falls in people post-stroke: A meta-analysis of randomized controlled trials. Gait Posture. 2021;84:377–388. doi: 10.1016/j.gaitpost.2020.12.034 Crossref.

6. Abdollahi M, Whitton N, Zand R, Dombovy M, Parnianpour M, Khalaf K, Rashedi E. A Systematic Review of Fall Risk Factors in Stroke Survivors: Towards Improved Assessment Platforms and Protocols. Front Bioeng Biotechnol. 2022;10:910698. doi: 10.3389/fbioe.2022.910698 Crossref.

7. Xu T, Clemson L, O’Loughlin K, Lannin NA, Dean C, Koh G. Risk Factors for Falls in Community Stroke Survivors: A Systematic Review and Meta-Analysis. Arch Phys Med Rehabil. 2018;99:563–573.e5. doi: 10.1016/j.apmr.2017.06.032 Crossref.

8. Huang S, Yu X, Lu Y, Qiao J, Wang HL, Jiang L-M, Wu XB, Niu WX. Body weight support-Tai Chi footwork for balance of stroke survivors with fear of falling: A pilot randomized controlled trial. Complement Ther Clin Pract. 2019;37:140–147. doi: 10.1016/j.ctcp.2019.101061 Crossref.

9. Gardner A, McEwen J, Livingston A, Adah F, Benghuzzi H, Huang M. Performance of Tai Chi Exercise Improves the Risk of Falls in Patients Following a Stroke: A Systematic Review. Biomed Sci Instrum. 2021;57:466–477. doi: 10.34107/KSZV7781.10464 Crossref.

10. Pang MYC, Yang L, Ouyang H, Lam FMH, Huang M, Jehu DA. Dual-Task Exercise Reduces Cognitive-Motor Interference in Walking and Falls After Stroke. Stroke. 2018;49:2990–2998. doi: 10.1161/STROKEAHA.118.022157 Crossref. PubMed.

11. Ahmed U, Karimi H, Amir S, Ahmed A. Effects of intensive multiplanar trunk training coupled with dual-task exercises on balance, mobility, and fall risk in patients with stroke: a randomized controlled trial. J Int Med Res. 2021;49:3000605211059413. doi: 10.1177/03000605211059413 Crossref.

12. Aslam M, Ain QU, Fayyaz P, Malik AN. Exer-gaming reduces fall risk and improves mobility after stroke. J Pak Med Assoc. 2021;71:1673–1675. doi: 10.47391/JPMA.875 Crossref.

13. Arshad H, Gul Khattak H, Anwar K, Majeed Y, Malakandi HB. Comparison of exergames versus traditional balance exercise to improve balance and reduce risk of falls in chronic stroke patients. JMS. 2022;30:134–138. doi: 10.52764/jms.22.30.2.7 Crossref.

14. Alemdaroglu E, Ucan H, Topcuoglu AM, Sivas F. In-hospital predictors of falls in community-dwelling individuals after stroke in the first 6 months after a baseline evaluation: a prospective cohort study. Arch Phys Med Rehabil. 2012;93:2244–2250. doi: 10.1016/j.apmr.2012.06.014 Crossref.

15. Goto Y, Otaka Y, Suzuki K, Inoue S, Kondo K, Shimizu E. Incidence and circumstances of falls among community-dwelling ambulatory stroke survivors: A prospective study. Geriatr Gerontol Int. 2019;19:240–244. doi: 10.1111/ggi.13594 Crossref.

16. Mackintosh SF, Hill KD, Dodd KJ, Goldie PA, Culham EG. Balance score and a history of falls in hospital predict recurrent falls in the 6 months following stroke rehabilitation. Arch Phys Med Rehabil. 2006;87:1583–1589. doi: 10.1016/j.apmr.2006.09.004 Crossref.

17. Ashburn A, Hyndman D, Pickering R, Yardley L, Harris S. Predicting people with stroke at risk of falls. Age Ageing. 2008;37:270–276. doi: 10.1093/ageing/afn066 Crossref. PubMed.

18. Blennerhassett JM, Dite W, Ramage ER, Richmond ME. Changes in balance and walking from stroke rehabilitation to the community: a follow-up observational study. Arch Phys Med Rehabil. 2012;93:1782–1787. doi: 10.1016/j.apmr.2012.04.005 Crossref.

19. Lamb SE, Ferrucci L, Volapto S, Fried LP, Guralnik JM; Women's Health and Aging Study. Risk factors for falling in home-dwelling older women with stroke: the Women's Health and Aging Study. Stroke. 2003;34:494–501. Crossref.

20. Sackley C, Brittle N, Patel S, Ellins J, Scott M, Wright C, Dewey ME. The prevalence of joint contractures, pressure sores, painful shoulder, other pain, falls, and depression in the year after a severely disabling stroke. Stroke. 2008;39:3329–3334. doi: 10.1161/STROKEAHA.108.518563 Crossref. PubMed.

21. Tilson JK, Wu SS, Cen SY, Feng Q, Rose DR, Behrman AL, Azen SP, Duncan PW. Characterizing and identifying risk for falls in the LEAPS study: a randomized clinical trial of interventions to improve walking poststroke. Stroke. 2012;43:446–452. doi: 10.1161/STROKEAHA.111.636258 Crossref. PubMed.

22. Pouwels S, Lalmohamed A, Leufkens B, de Boer A, Cooper C, van Staa T, de Vries F. Risk of hip/femur fracture after stroke: a population-based case-control study. Stroke. 2009;40:3281–3285. doi: 10.1161/STROKEAHA.109.554055 Crossref. PubMed.

23. Little VL, Perry LA, Mercado MWV, Kautz SA, Patten C. Gait asymmetry pattern following stroke determines acute response to locomotor task. Gait Posture. 2020;77:300–307. doi: 10.1016/j.gaitpost.2020.02.016 Crossref.

24. Teasell R, McRae M, Foley N, Bhardwaj A. The incidence and consequences of falls in stroke patients during inpatient rehabilitation: factors associated with high risk. Arch Phys Med Rehabil. 2002;83:329–333. doi: 10.1053/apmr.2002.29623 Crossref.

25. Ross MK, Egan E, Zaman M, Aziz B, Dewald T, Mohammed S. Falls in the inpatient rehabilitation facility. Phys Med Rehabil Clin N Am. 2012;23:305–314. doi: 10.1016/j.pmr.2012.02.006 Crossref.

26. Aberg AC, Lundin-Olsson L, Rosendahl E. Implementation of evidence-based prevention of falls in rehabilitation units: a staff's interactive approach. J Rehabil Med. 2009;41:1034–1040. doi: 10.2340/16501977-0452 Crossref.

27. Jain S, Schweighofer N, Finley JM. Aberrant decision-making as a risk factor for falls in aging. Front Aging Neurosci. 2024;16:1384242. doi: 10.3389/fnagi.2024.1384242 Crossref.

28. Marigold DS, Eng JJ, Tokuno CD, Donnelly CA. Contribution of muscle strength and integration of afferent input to postural instability in persons with stroke. Neurorehabil Neural Repair. 2004;18:222–229. doi: 10.1177/1545968304271171 Crossref.

29. Plummer P, Eskes G, Wallace S, Giuffrida C, Fraas M, Campbell G, Clifton K-L, Skidmore ER; American Congress of Rehabilitation Medicine Stroke Networking Group Cognition Task Force. Cognitive-motor interference during functional mobility after stroke: state of the science and implications for future research. Arch Phys Med Rehabil. 2013;94:2565–2574.e6. doi: 10.1016/j.apmr.2013.08.002 Crossref.

30. Hyndman D, Ashburn A. Stops walking when talking as a predictor of falls in people with stroke living in the community. J Neurol Neurosurg Psychiatry. 2004;75:994–997. doi: 10.1136/jnnp.2003.016014 Crossref.

31. Masters RSW, Maxwell JP. The theory of reinvestment. Int Rev Sport Exerc Psychol. 2008;1:160–183. doi: 10.1080/17509840802287218 Crossref.

32. Wulf G, McNevin N, Shea CH. The automaticity of complex motor skill learning as a function of attentional focus. Q J Exp Psychol A. 2001;54:1143–1154. doi: 10.1080/713756012 Crossref.

33. Baek CY, Chang WN, Park BY, Lee KB, Kang KY, Choi MR. Effects of Dual-Task Gait Treadmill Training on Gait Ability, Dual-Task Interference, and Fall Efficacy in People With Stroke: A Randomized Controlled Trial. Phys Ther. 2021;101:pzab067. doi: 10.1093/ptj/pzab067 Crossref.

34. Rohrbach N, Chicklis E, Levac DE. What is the impact of user affect on motor learning in virtual environments after stroke? A scoping review. J Neuroeng Rehabil. 2019;16:79. doi: 10.1186/s12984-019-0546-4 Crossref.

35. Vahlberg B, Lindmark B, Zetterberg L, Hellström K, Cederholm T. Body composition and physical function after progressive resistance and balance training among older adults after stroke: an exploratory randomized controlled trial. Disabil Rehabil. 2017;39:1207–1214. doi: 10.1080/09638288.2016.1191551 Crossref.

3.7. Mental Health Assessment and Treatment of Poststroke Depression and Anxiety, Including Emotional and Behavioral State

1. Dai J, Zhao SS, Zhang SX. Early screening for post-stroke depression and its effect on functional outcomes, quality of life, and mortality: A meta-analysis. World J Psychiatry. 2024;14:1397–1403. doi: 10.5498/wjp.v14.i9.1397 Crossref.

2. MacKenzie HM, Rice D, Teasell R, Macaluso S. Screening Adherence for Depression Post Stroke: Evaluation of Outpatients, a London Experience (SAD PEOPLE). Top Stroke Rehabil. 2019;26:6–17. doi: 10.1080/10749357.2018.1536096 Crossref.

3. Slenders JPL, Van Den Berg-Vos RM, Van Heugten CM, Visser-Meily J, van Eijk RPA, Moonen MAA, Godefrooij S, Kwa VIH; ECO-stroke Study Group. Screening and Care for Emotional and Cognitive Problems After Ischemic Stroke: Results of a Multicenter, Cluster-Randomized Controlled Trial. Neurology. 2025;105:e213774. doi: 10.1212/WNL.0000000000213774 Crossref.

4. Rose AE, Cullen B, Crawford S, Evans JJ. A systematic review of mood and depression measures in people with severe cognitive and communication impairments following acquired brain injury. Clin Rehabil. 2023;37:679–700. doi: 10.1177/02692155221139023 Crossref.

5. Hammond FM, Alexander DN, Cutler AJ, D'Amico S, Doody RS, Sauve W, Zorowitz RD, Davis CS, Shin P, Ledon F, et al. PRISM II: an open-label study to assess effectiveness of dextromethorphan/quinidine for pseudobulbar affect in patients with dementia, stroke or traumatic brain injury. BMC Neurol. 2016;16:89. doi: 10.1186/s12883-016-0609-0 Crossref.

6. Sauvé WM. Recognizing and treating pseudobulbar affect. CNS Spectr. 2016;21:34–44. doi: 10.1017/S1092852916000791 Crossref.

7. Allida SM, Hsieh CF, Cox KL, Patel K, Rouncefield-Swales A, Lightbody CE, House A, Hackett ML. Pharmacological, non-invasive brain stimulation and psychological interventions, and their combination, for treating depression after stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2023;7:CD003437. doi: 10.1002/14651858.CD003437.pub5 Crossref.

8. Almeida OP, Hankey GJ, Ford A, Etherton-Beer C, Flicker L, Hackett M; Assessment of Fluoxetine in Stroke Recovery (AFFINITY) Trial Collaboration. Depression Outcomes Among Patients Treated With Fluoxetine for Stroke Recovery: The AFFINITY Randomized Clinical Trial. JAMA Neurol. 2021;78:1072–1079. doi: 10.1001/jamaneurol.2021.2418 Crossref. PubMed.

9. Feng RF, Ma R, Wang P, Ji X, Zhang Z-X, Li M-M, Jiao J-W, Guo L. Efficacy of escitalopram for poststroke depression: a systematic review and meta-analysis. Sci Rep. 2022;12:3304. doi: 10.1038/s41598-022-05560-w Crossref.

10. Kalbouneh HM, Toubasi AA, Albustanji FH, Obaid YY, Al-Harasis LM. Safety and Efficacy of SSRIs in Improving Poststroke Recovery: A Systematic Review and Meta-Analysis. J Am Heart Assoc. 2022;11:e025868. doi: 10.1161/JAHA.122.025868 Crossref. PubMed.

11. Mead G, Graham C, Lundström E, Hankey GJ, Hackett ML, Billot L, Näsman P, Forbes J, Dennis M. Individual patient data meta-analysis of the effects of fluoxetine on functional outcomes after acute stroke. Int J Stroke. 2024;19:798–808. doi: 10.1177/17474930241242628 Crossref.

12. Yan N, Hu S. The safety and efficacy of escitalopram and sertraline in post-stroke depression: a randomized controlled trial. BMC Psychiatry. 2024;24:365. doi: 10.1186/s12888-024-05833-w Crossref.

13. Knapp P, Campbell Burton CA, Holmes J, Murray J, Gillespie D, Lightbody CE, Watkins CL, Chun HY, Lewis SR. Interventions for treating anxiety after stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2017;5:CD008860. doi: 10.1002/14651858.CD008860.pub3 Crossref. PubMed.

14. Ahrens J, Shao R, Blackport D, Macaluso S, Viana R, Teasell R, Mehta S. Cognitive -behavioral therapy for managing depressive and anxiety symptoms after stroke: a systematic review and meta-analysis. Top Stroke Rehabil. 2023;30:368–383. doi: 10.1080/10749357.2022.2049505 Crossref.

15. Chun HY, Carson AJ, Tsanas A, Dennis MS, Mead GE, Calabria C, Whiteley WN. Telemedicine Cognitive Behavioral Therapy for Anxiety After Stroke: Proof-of-Concept Randomized Controlled Trial. Stroke. 2020;51:2297–2306. doi: 10.1161/STROKEAHA.120.029042 Crossref. PubMed.

16. Kootker JA, Rasquin SM, Lem FC, van Heugten CM, Fasotti L, Geurts ACH. Augmented Cognitive Behavioral Therapy for Poststroke Depressive Symptoms: A Randomized Controlled Trial. Arch Phys Med Rehabil. 2017;98:687–694. doi: 10.1016/j.apmr.2016.10.013 Crossref. PubMed.

17. Shi D, Chong YY, Li Y, Cheng HY. Effectiveness of non-pharmacological interventions for post-stroke depression in stroke survivors: A systematic review with meta-analysis. Clin Rehabil. 2025;39:991–1018. doi: 10.1177/02692155251345126 Crossref.

18. Wang SB, Wang YY, Zhang QE, Wu S-L, Ng CH, Ungvari GS, Chen L, Wang C-X, Jia F-J, Xiang Y-T. Cognitive behavioral therapy for post-stroke depression: A meta-analysis. J Affect Disord. 2018;235:589–596. doi: 10.1016/j.jad.2018.04.011 Crossref.

19. Bakas T, McCarthy MJ, Miller EL. Systematic Review of the Evidence for Stroke Family Caregiver and Dyad Interventions. Stroke. 2022;53:2093–2102. doi: 10.1161/STROKEAHA.121.034090 Crossref. PubMed.

20. Minshall C, Pascoe MC, Thompson DR, Castle DJ, McCabe M, Chau JPC, Jenkins Z, Cameron J, Ski CF. Psychosocial interventions for stroke survivors, carers and survivor-carer dyads: a systematic review and meta-analysis. Top Stroke Rehabil. 2019;26:554–564. doi: 10.1080/10749357.2019.1625173 Crossref.

21. Wan X, Chan DNS, Chau JPC, Zhang Y, Liao Y, Zhu P, Choi KC. Effects of a nurse-led peer support intervention on psychosocial outcomes of stroke survivors: A randomised controlled trial. Int J Nurs Stud. 2024;160:104892. doi: 10.1016/j.ijnurstu.2024.104892 Crossref.

22. Wan X, Chau JPC, Mou H, Liu X. Effects of peer support interventions on physical and psychosocial outcomes among stroke survivors: A systematic review and meta-analysis. Int J Nurs Stud. 2021;121:104001. doi: 10.1016/j.ijnurstu.2021.104001 Crossref.

23. Zhang XY, Sha KH, Ma XY, Li X-M, Zhang M-H. Dyadic psycho-social interventions for stroke survivors and family caregivers: A systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials. J Adv Nurs. 2023;79:3707–3726. doi: 10.1111/jan.15781 Crossref.

24. Wang Z-Y, Deng Y-L, Zhou T-Y, Jiang Z-Y, Liu Y, Liu B-F, Cao Y. The effects of exercise interventions on depressive symptoms in stroke patients: a systematic review and meta-analysis. Front Physiol. 2025;16:1492221. doi: 10.3389/fphys.2025.1492221 Crossref.

25. Zhang Y, Li G, Zheng W, Xu Z, Lv Y, Liu X, Yu L. Effects of Exercise on Post-Stroke Depression: A Systematic Review and Meta-Analysis of Randomized Controlled Trials. Life (Basel). 2025;15:285. doi: 10.3390/life15020285 Crossref.

26. Hordacre B, Comacchio K, Williams L, Hillier S. Repetitive transcranial magnetic stimulation for post-stroke depression: a randomised trial with neurophysiological insight. J Neurol. 2021;268:1474–1484. doi: 10.1007/s00415-020-10315-6 Crossref.

27. Wang Y, Feng H, Wang H. Repetitive transcranial magnetic stimulation for treating post-stroke depression: a systematic review and network meta-analysis. BMC Psychiatry. 2025;25:697. doi: 10.1186/s12888-025-07151-1 Crossref.

28. Rauwenhoff JCC, Bol Y, Peeters F, Smits P, Duits A, Wijenberg M, Blok A, van Heugten CM. Acceptance and commitment therapy for people with depressive and anxiety symptoms following acquired brain injury: Results of the BrainACT randomized controlled trial. J Psychosom Res. 2024;187:111933. doi: 10.1016/j.jpsychores.2024.111933 Crossref.

29. Majumdar S, Morris R. Brief group-based acceptance and commitment therapy for stroke survivors. Br J Clin Psychol. 2019;58:70–90. doi: 10.1111/bjc.12198 Crossref.

30. Wang X, Chen J, Liu YE, Wu Y. The Effect of Acceptance and Commitment Therapy on Psychological Nursing of Acute Cerebral Infarction with Insomnia, Anxiety, and Depression. Comput Math Methods Med. 2022;2022:8538656. doi: 10.1155/2022/8538656 Crossref.

31. Dayuan Z, Lan L, Hui C, Huanjie Li, Deliang L, Yihui D. The effect of music as an intervention for post-stroke depression: A systematic review and meta-analysis. Complement Ther Med. 2022;71:102901. doi: 10.1016/j.ctim.2022.102901 Crossref.

32. Lee Y, Chen B, Fong MWM, Lee J-M, Nicol GE, Lenze EJ, Connor LT, Baum C, Wong AWK. Effectiveness of non-pharmacological interventions for treating post-stroke depressive symptoms: Systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials. Top Stroke Rehabil. 2021;28:289–320. doi: 10.1080/10749357.2020.1803583 Crossref.

33. Liu R, Zhang K, Tong QY, Cui G-W, Ma W, Shen W-D. Acupuncture for post-stroke depression: a systematic review and meta-analysis. BMC Complement Med Ther. 2021;21:109. doi: 10.1186/s12906-021-03277-3 Crossref.

34. Gu J, Huang H, Chen K, Huang G, Huang Y, Xu H. Are they necessary? Preventive therapies for post-stroke depression: A meta-analysis of RCTs. Psychiatry Res. 2020;284:112670. doi: 10.1016/j.psychres.2019.112670 Crossref.

35. Lundstrom E, Isaksson E, Greilert Norin N, Näsman P, Wester P, Mårtensson B, Norrving B, Wallén H, Borg J, Hankey GJ, et al. Effects of Fluoxetine on Outcomes at 12 Months After Acute Stroke: Results From EFFECTS, a Randomized Controlled Trial. Stroke. 2021;52:3082–3087. doi: 10.1161/STROKEAHA.121.034705 Crossref. PubMed.

36. Kim JS, Lee EJ, Chang DI, Park J-H, Ahn SH, Cha J-K, Heo JH, Sohn S-I, Lee B-C, Kim D-E, et al; EMOTION investigators. Efficacy of early administration of escitalopram on depressive and emotional symptoms and neurological dysfunction after stroke: a multicentre, double-blind, randomised, placebo-controlled study. Lancet Psychiatry. 2017;4:33–41. doi: 10.1016/S2215-0366(16)30417-5 Crossref. PubMed.

37. Lomachinsky Torres V, Brooks JD, Donahue MA, Sun S, Hsu J, Price M, Blacker D, Schwamm LH, Newhouse JP, Haneuse S, et al. Benzodiazepine Utilization in Ischemic Stroke Survivors: Analyzing Initial Excess Supply and Longitudinal Trends. Stroke. 2024;55:2694–2702. doi: 10.1161/STROKEAHA.124.047257 Crossref. PubMed.

38. Sankaranarayanan M, Donahue MA, Sun S, Brooks JD, Schwamm LH, Newhouse JP, Hsu J, Blacker D, Haneuse S, Moura LMVR. Benzodiazepine Initiation Effect on Mortality Among Medicare Beneficiaries Post-Acute Ischemic Stroke. Pharmacoepidemiol Drug Saf. 2025;34:e70194. doi: 10.1002/pds.70194 Crossref.

39. Medeiros GC, Roy D, Kontos N, Beach SR. Post-stroke depression: A 2020 updated review. Gen Hosp Psychiatry. 2020;66:70–80. doi: 10.1016/j.genhosppsych.2020.06.011 Crossref.

40. Towfighi A, Ovbiagele B, El Husseini N, Hackett ML, Jorge RE, Kissela BM, Mitchell PH, Skolarus LE, Whooley MA, Williams LS; American Heart Association Stroke Council; Council on Cardiovascular and Stroke Nursing; and Council on Quality of Care and Outcomes Research. Poststroke Depression: A Scientific Statement for Healthcare Professionals From the American Heart Association/American Stroke Association. Stroke. 2017;48:e30–e43. doi: 10.1161/STR.0000000000000113 Crossref. PubMed.

41. Knapp P, Dunn-Roberts A, Sahib N, Cook L, Astin F, Kontou E, Thomas SA. Frequency of anxiety after stroke: An updated systematic review and meta-analysis of observational studies. Int J Stroke. 2020;15:244–255. doi: 10.1177/1747493019896958 Crossref. PubMed.

42. Substance Abuse and Mental Health Services Administration. Key substance use and mental health indicators in the United States: Results from the 2021 National Survey on Drug Use and Health (HHS Publication No. PEP22-07-01-005, NSDUH Series H-57). Accessed September 25, 2025. https://www.samhsa.gov/data/report/2021-nsduh-annual-national-report

43. School HM. National Comorbidity Survey (NCS) Data Table 2: 12-month prevalence DSM-IV/WMH-CIDI disorders by sex and cohort. Accessed September 25, 2025. https://www.hcp.med.harvard.edu/ncs/index.php

44. Ayerbe L, Ayis S, Crichton S, Wolfe CDA, Rudd AG. The long-term outcomes of depression up to 10 years after stroke; the South London Stroke Register. J Neurol Neurosurg Psychiatry. 2014;85:514–521. doi: 10.1136/jnnp-2013-306448 Crossref. PubMed.

45. Jørgensen TS, Wium-Andersen IK, Wium-Andersen MK, Jørgensen MB, Prescott E, Maartensson S, Kragh-Andersen P, Osler M. Incidence of Depression After Stroke, and Associated Risk Factors and Mortality Outcomes, in a Large Cohort of Danish Patients. JAMA Psychiatry. 2016;73:1032–1040. doi: 10.1001/jamapsychiatry.2016.1932 Crossref.

46. Lee E-H, Kim J-W, Kang H-J, Kim S-W, Kim J-T, Park M-S, Cho K-H, Kim J-M. Association between Anxiety and Functional Outcomes in Patients with Stroke: A 1-Year Longitudinal Study. Psychiatry Investig. 2019;16:919–925. doi: 10.30773/pi.2019.0188 Crossref.

47. Schöttke H, Gerke L, Düsing R, Möllmann A. Post-stroke depression and functional impairments - A 3-year prospective study. Compr Psychiatry. 2020;99:152171. doi: 10.1016/j.comppsych.2020.152171 Crossref.

48. Wu Q-E, Zhou A-M, Han Y-P, Liu Y-M, Yang Y, Wang X-M, Shi X. Poststroke depression and risk of recurrent stroke: A meta-analysis of prospective studies. Medicine (Baltim). 2019;98:e17235. doi: 10.1097/MD.0000000000017235 Crossref.

49. Winstein CJ, Stein J, Arena R, Bates B, Cherney LR, Cramer SC, Deruyter F, Eng JJ, Fisher B, Harvey RL, et al; American Heart Association Stroke Council, Council on Cardiovascular and Stroke Nursing, Council on Clinical Cardiology, and Council on Quality of Care and Outcomes Research. Guidelines for Adult Stroke Rehabilitation and Recovery: A Guideline for Healthcare Professionals From the American Heart Association/American Stroke Association. Stroke. 2016;47:e98–e169. doi: 10.1161/STR.0000000000000098 Crossref. PubMed.

50. Liu L, Xu M, Marshall IJ, Wolfe Charles DA, Wang Y, O'Connell MD. Prevalence and natural history of depression after stroke: A systematic review and meta-analysis of observational studies. PLoS Med. 2023;20:e1004200. doi: 10.1371/journal.pmed.1004200 Crossref.

51. Dong L, Williams LS, Brown DL, Case E, Morgenstern LB, Lisabeth LD. Prevalence and Course of Depression During the First Year After Mild to Moderate Stroke. J Am Heart Assoc. 2021;10:e020494. doi: 10.1161/JAHA.120.020494 Crossref. PubMed.

52. Chen X, Zhang H, Xiao G, Lv C. Prevalence of suicidal ideation among stroke survivors: A systematic review and meta-analysis. Top Stroke Rehabil. 2021;28:545–555. doi: 10.1080/10749357.2020.1846933 Crossref.

53. Vyas MV, Wang JZ, Gao MM, Hackam DG. Association Between Stroke and Subsequent Risk of Suicide: A Systematic Review and Meta-Analysis. Stroke. 2021;52:1460–1464. doi: 10.1161/STROKEAHA.120.032692 Crossref. PubMed.

54. Vyas MV, de Oliveira C, Saposnik G, Austin PC, Yu AY, Haldenby O, Fang J, Fischer CE, Lipson D, Quraishi F, et al. Increased risk of suicide after stroke: A population-based matched cohort study. Int J Stroke. 2026;21:485–494. doi: 10.1177/17474930251379165 Crossref.

55. Shiggins C, Ryan B, Dewan F, Bernhardt J, O'Halloran R, Power E, Lindley RI, McGurk G, Rose ML. Inclusion of People With Aphasia in Stroke Trials: A Systematic Search and Review. Arch Phys Med Rehabil. 2024;105:580–592. doi: 10.1016/j.apmr.2023.06.010 Crossref.

56. Morris R, Eccles A, Ryan B, Kneebone II. Prevalence of anxiety in people with aphasia after stroke. Aphasiology. 2017;31:1410–1415. doi: 10.1080/02687038.2017.1304633 Crossref.

57. Døli H, Helland T, Andersen Helland W. Self-reported symptoms of anxiety and depression in chronic stroke patients with and without aphasia. Aphasiology. 2017;31:1392–1409. doi: 10.1080/02687038.2017.1280595 Crossref.

58. Barrows PD, Thomas SA, Van Gordon W. Assessing Self-Reported Mood in Aphasia Following Stroke: Challenges, Innovations and Future Directions. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2021;30:105425. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2020.105425 Crossref.

59. Tjokrowijoto P, Stolwyk R, Ung D, Kneebone I, Kilkenny MF, Kim J, Olaiya MT, Dalli LL, Cadilhac DA, Nelson MR, et al. Receipt of mental health treatment in people living with stroke: associated factors and longterm outcomes. Stroke. 2023;54:1519–1527. doi: 10.1161/STROKEAHA.122.041355 Crossref. PubMed.

60. Dong L, Mezuk B, Williams LS, Lisabeth LD. Trends in Outpatient Treatment for Depression in Survivors of Stroke in the United States, 2004-2017. Neurology. 2022;98:e2258–e2267. doi: 10.1212/WNL.0000000000200286 Crossref.

61. Haddad M, Mark V, Bechtold K. Cerebrovascular accidents. Handbook of rehabilitation psychology. 3rd ed. American Psychological Association. 2019;371–398.

62. Colamonico J, Formella A, Bradley W. Pseudobulbar affect: burden of illness in the USA. Adv Ther. 2012;29:775–798. doi: 10.1007/s12325-012-0043-7 Crossref.

63. Allida S, House A, Hackett ML. Pharmaceutical interventions for emotionalism after stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2022;11:CD003690. doi: 10.1002/14651858.CD003690.pub5 Crossref.

64. Legg LA, Tilney R, Hsieh CF, Wu S, Lundström E, Rudberg A-S, Kutlubaev MA, Dennis M, Soleimani B, Barugh A, et al. Selective serotonin reuptake inhibitors (SSRIs) for stroke recovery. Cochrane Database Syst Rev. 2019;2019:CD009286. doi: 10.1002/14651858.CD009286.pub3 Crossref. PubMed.

65. Legg LA, Rudberg AS, Hua X, Wu S, Hackett ML, Tilney R, Lindgren L, Kutlubaev MA, Hsieh C-F, Barugh AJ, et al. Selective serotonin reuptake inhibitors (SSRIs) for stroke recovery. Cochrane Database Syst Rev. 2021;11:CD009286. doi: 10.1002/14651858.CD009286.pub4 Crossref.

66. Dennis M, Mead G, Forbes J, et al. Effects of fluoxetine on functional outcomes after acute stroke (FOCUS): a pragmatic, double-blind, randomised, controlled trial. Lancet. 2019;393:265–274. doi: 10.1016/S0140-6736(18)32823-X Crossref.

67. Lundström E, Isaksson E, Näsman P, Wester P, Mårtensson B, Norrving B, Wallén H, Borg J, Dennis M, Mead G, et al. Safety and efficacy of fluoxetine on functional recovery after acute stroke (EFFECTS): a randomised, double-blind, placebo-controlled trial. Lancet Neurol. 2020;19:661–669. doi: 10.1016/s1474-4422(20)30219-2 Crossref.

68. Szuhany KL, Simon NM. Anxiety Disorders: A Review. JAMA. 2022;328:2431–2445. doi: 10.1001/jama.2022.22744 Crossref.

69. Driessen E, Hollon SD. Cognitive behavioral therapy for mood disorders: efficacy, moderators and mediators. Psychiatr Clin North Am. 2010;33:537–555. doi: 10.1016/j.psc.2010.04.005 Crossref.

70. Crocker TF, Brown L, Lam N, Wray F, Knapp P, Forster A. Information provision for stroke survivors and their carers. Cochrane Database Syst Rev. 2021;11:CD001919. doi: 10.1002/14651858.CD001919.pub4 Crossref.

71. Sarkhel S, Singh OP, Arora M. Clinical Practice Guidelines for Psychoeducation in Psychiatric Disorders General Principles of Psychoeducation. Indian J Psychiatry. 2020;62:S319–S323. doi: 10.4103/psychiatry.IndianJPsychiatry_780_19 Crossref.

72. Bakas T, Clark PC, Kelly-Hayes M, King RB, Lutz BJ, Miller EL; American Heart Association Council on Cardiovascular and Stroke Nursing and the Stroke Council. Evidence for stroke family caregiver and dyad interventions: a statement for healthcare professionals from the American Heart Association and American Stroke Association. Stroke. 2014;45:2836–2852. doi: 10.1161/STR.0000000000000033 Crossref. PubMed.

73. Bakas T, McCarthy MJ, Miller ET. Update on the State of the Evidence for Stroke Family Caregiver and Dyad Interventions. Stroke. 2017;48:e122–e125. doi: 10.1161/STROKEAHA.117.016052 Crossref. PubMed.

74. Noetel M, Sanders T, Gallardo-Gómez D, Taylor P, Del Pozo Cruz B, van den Hoek D, Smith JJ, Mahoney J, Spathis J, Moresi M, et al. Effect of exercise for depression: systematic review and network meta-analysis of randomised controlled trials. BMJ. 2024;384:e075847. doi: 10.1136/bmj-2023-075847 Crossref.

75. Kim Y, Lai B, Mehta T, Thirumalai M, Padalabalanarayanan S, Rimmer JH, Motl RW. Exercise Training Guidelines for Multiple Sclerosis, Stroke, and Parkinson Disease: Rapid Review and Synthesis. Am J Phys Med Rehabil. 2019;98:613–621. doi: 10.1097/PHM.0000000000001174 Crossref.

76. Brunoni AR, Sampaio-Junior B, Moffa AH, Aparício LV, Gordon P, Klein I, Rios RM, Razza LB, Loo C, Padberg F, et al. Noninvasive brain stimulation in psychiatric disorders: a primer. Braz J Psychiatry. 2019;41:70–81. doi: 10.1590/1516-4446-2017-0018 Crossref.

77. Cuijpers P, Miguel C, Harrer M, Plessen CY, Ciharova M, Papola D, Ebert D, Karyotaki E. Psychological treatment of depression: A systematic overview of a 'Meta-Analytic Research Domain'. J Affect Disord. 2023;335:141–151. doi: 10.1016/j.jad.2023.05.011 Crossref.

78. Han A. Mindfulness- and acceptance-based interventions for stroke survivors: a systematic review and meta-analysis. Rehabilitation Counseling Bulletin. 2021;66:123–135. doi: 10.1177/00343552211043257 Crossref.

79. Beauchamp JES, Sharrief A, Chaoul A, Casameni Montiel T, Love MF, Cron S, Prossin A, Selvaraj S, Dishman D, Savitz SI. Feasibility of a meditation intervention for stroke survivors and informal caregivers: a randomized controlled trial. BMC Psychol. 2023;11:9. doi: 10.1186/s40359-022-01031-z Crossref.

80. Golding K, Kneebone I, Fife-Schaw C. Self-help relaxation for post-stroke anxiety: a randomised, controlled pilot study. Clin Rehabil. 2016;30:174–180. doi: 10.1177/0269215515575746 Crossref.

81. The 2023 American Geriatrics Society Beers Criteria Update Expert Panel. American Geriatrics Society 2023 updated AGS Beers Criteria for potentially inappropriate medication use in older adults. J Am Geriatr Soc. 2023;71:2052–2081. doi: 10.1111/jgs.18372 Crossref.

82. Turner A, Hambridge J, White J, Carter G, Clover K, Nelson L, Hackett M. Depression screening in stroke: a comparison of alternative measures with the structured diagnostic interview for the diagnostic and statistical manual of mental disorders, fourth edition (major depressive episode) as criterion standard. Stroke. 2012;43:1000–1005. doi: 10.1161/STROKEAHA.111.643296 Crossref. PubMed.

83. Beck AT, Steer R, Brown G. Manual for the Beck Depression Inventory II. Psychological Corporation; 1996.

84. Williams LS, Brizendine EJ, Plue L, Bakas T, Tu W, Hendrie H, Kroenke K. Performance of the PHQ-9 as a screening tool for depression after stroke. Stroke. 2005;36:635–638. doi: 10.1161/01.STR.0000155688.18207.33 Crossref. PubMed.

85. Liu F, Gong L, Zhao H, Li Y-L, Yan Z, Mu J. Validity of evaluation scales for post-stroke depression: a systematic review and meta-analysis. BMC Neurol. 2024;24:286. doi: 10.1186/s12883-024-03744-7 Crossref.

86. Kroenke K, Spitzer RL, Williams JB. The Patient Health Questionnaire-2: validity of a two-item depression screener. Med Care. 2003;41:1284–1292. doi: 10.1097/01.MLR.0000093487.78664.3C Crossref. PubMed.

87. Sheikh JI, Yesavage JA. Geriatric Depression Scale (GDS): Recent Evidence and Development of a Shorter Version. Clin Gerontol. 1986;5:165–173. doi: 10.1300/J018v05n01_09 Crossref.

88. Agrell B, Dehlin O. Comparison of six depression rating scales in geriatric stroke patients. Stroke. 1989;20:1190–1194. doi: 10.1161/01.str.20.9.1190 Crossref. PubMed.

89. Hamilton M. A rating scale for depression. J Neurol Neurosurg Psychiatry. 1960;23:56–62. doi: 10.1136/jnnp.23.1.56 Crossref. PubMed.

90. Montgomery SA, Asberg M. A new depression scale designed to be sensitive to change. Br J Psychiatry. 1979;134:382–389. doi: 10.1192/bjp.134.4.382 Crossref.

91. Ayis SA, Ayerbe L, Ashworth M, DA Wolfe C. Evaluation of the Hospital Anxiety and Depression Scale (HADS) in screening stroke patients for symptoms: Item Response Theory (IRT) analysis. J Affect Disord. 2018;228:33–40. doi: 10.1016/j.jad.2017.11.037 Crossref. PubMed.

92. Zigmond AS, Snaith RP. The hospital anxiety and depression scale. Acta Psychiatr Scand. 1983;67:361–370. doi: 10.1111/j.1600-0447.1983.tb09716.x Crossref. PubMed.

93. Linley-Adams B, Morris R, Kneebone I. The Behavioural Outcomes of Anxiety scale (BOA): a preliminary validation in stroke survivors. Br J Clin Psychol. 2014;53:451–467. doi: 10.1111/bjc.12056 Crossref.

94. Stern RA, Arruda JE, Hooper CR, Wolfner GD, Morey CE. Visual analogue mood scales to measure internal mood state in neurologically impaired patients: Description and initial validity evidence. Aphasiology. 1997;11:59–71. doi: 10.1080/02687039708248455 Crossref.

95. Barrows PD, Thomas SA. Assessment of mood in aphasia following stroke: validation of the Dynamic Visual Analogue Mood Scales (D-VAMS). Clin Rehabil. 2018;32:94–102. doi: 10.1177/0269215517714590 Crossref.

96. Sutcliffe LM, Lincoln NB. The assessment of depression in aphasic stroke patients: the development of the Stroke Aphasic Depression Questionnaire. Clin Rehabil. 1998;12:506–513. doi: 10.1191/026921598672167702 Crossref.

3.8. Poststroke Osteoporosis

1. Liu B, Ng CY, La PBD, Wong P, Ebeling PR, Singhal S, Phan T, Trinh A, Milat F. Osteoporosis and fracture risk assessment in adults with ischaemic stroke. Osteoporos Int. 2024;35:1243–1247. doi: 10.1007/s00198-024-07099-0 Crossref.

2. Smith EE, Fang J, Alibhai SM, Cram P, Cheung AM, Casaubon LK, Kapoor E, Austin PC, Kapral MK. Derivation and External Validation of a Scoring System for Predicting Fracture Risk After Ischemic Stroke in a Canadian Cohort. JAMA Neurol. 2019;76:925–931. doi: 10.1001/jamaneurol.2019.1114 Crossref.

3. Alajam RA, Shaphe MA, Qasheesh M, Najmi AAA, M Alshehri M, Raheem Khan A. Assessing the impact of physical activity on bone density, cardiopulmonary function, and metabolic health in stroke survivors. Medicine (Baltim). 2023;102:e36541. doi: 10.1097/MD.0000000000036541 Crossref.

4. Cheon DY, Han KD, Lee JH, Yu K-H, Choi BY, Lee M. Impact of changes in physical activity and incident fracture after acute ischemic stroke. Sci Rep. 2023;13:16715. doi: 10.1038/s41598-023-44031-8 Crossref.

5. Han L, Li SG, Zhai HW, Guo P-F, Chen W. Effects of weight training time on bone mineral density of patients with secondary osteoporosis after hemiplegia. Exp Ther Med. 2017;13:961–965. doi: 10.3892/etm.2017.4078 Crossref.

6. Lee HY, Park JH, Lee H, Kim T-W, Yoo SD. Does Hip Bone Density Differ between Paretic and Non-Paretic Sides in Hemiplegic Stroke Patients? and Its Relationship with Physical Impairment. J Bone Metab. 2020;27:237–246. doi: 10.11005/jbm.2020.27.4.237 Crossref.

7. Chang KV, Wu WT, Huang KC, Han D-S. Segmental body composition transitions in stroke patients: Trunks are different from extremities and strokes are as important as hemiparesis. Clin Nutr. 2020;39:1968–1973. doi: 10.1016/j.clnu.2019.08.024 Crossref.

8. Yamada SM. Changes in bone mineral density in unconscious immobile stroke patients from the acute to chronic phases of brain diseases. Osteoporos Sarcopenia. 2022;8:106–111. doi: 10.1016/j.afos.2022.08.001 Crossref.

9. Li J, Shi L, Sun J. The pathogenesis of post-stroke osteoporosis and the role oxidative stress plays in its development. Front Med (Lausanne). 2023;10:1256978. doi: 10.3389/fmed.2023.1256978 Crossref.

10. Callaly EL, Ni Chroinin D, Hannon N, Sheehan O, Marnane M, Merwick A, Kelly LA, Horgan G, Williams E, Harris D, et al. Falls and fractures 2 years after acute stroke: the North Dublin Population Stroke Study. Age Ageing. 2015;44:882–886. doi: 10.1093/ageing/afv093 Crossref.

11. Lee DH, Joo MC. Change in Bone Mineral Density in Stroke Patients with Osteoporosis or Osteopenia. Int J Environ Res Public Health. 2022;19:8954. doi: 10.3390/ijerph19158954 Crossref.

12. Luan L, Li R, Wang Z, Hou X, Gu W, Wang X, Yan S, Xu D. Stroke increases the risk of hip fracture: a systematic review and meta-analysis. Osteoporos Int. 2016;27:3149–3154. doi: 10.1007/s00198-016-3632-5 Crossref.

13. Karisik A, Dejakum B, Moelgg K, Granna J, Felicetti S, Pechlaner R, Mayer-Suess L, Toell T, Buergi L, Scherer L, et al. Incidence, characteristics, and consequences of fractures after acute ischemic stroke and TIA-A prospective cohort study. Int J Stroke. 2025;20:1141–1149. doi: 10.1177/17474930251345300 Crossref.

14. Knight S, Swance R, Bateman EA, Clemens KK, Papaioannou A, Fleet JL. Post-stroke osteoporosis screening: a scoping review. Cerebrovasc Dis. 2024;54:761–771. doi: 10.1159/000542924 Crossref.

15. Centre for Metabolic Bone Diseases at the University of Sheffield. Fracture Risk Assessment Tool (FRAX). University of Sheffield. Accessed July 5, 2023. https://frax.shef.ac.uk/FRAX/tool.aspx?country=19

16. Ouyang H, Lee TC, Chan FY, Li X, Lai KY, Lam WY, Yung TY, Pang MYC. Non-pharmacological and pharmacological treatments for bone health after stroke: Systematic review with meta-analysis. Ann Phys Rehabil Med. 2024;67:101823. doi: 10.1016/j.rehab.2024.101823 Crossref.

17. Sallehuddin H, Ong T, Md Said S, Ahmad Tarmizi NA, Loh SP, Lim WC, Nadarajah R, Lim HT, Mohd Zambri NH, Ho YY, et al. Non-pharmacological interventions for bone health after stroke: A systematic review. PLoS One. 2022;17:e0263935. doi: 10.1371/journal.pone.0263935 Crossref.

18. Borschmann K. Exercise protects bone after stroke, or does it? A narrative review of the evidence. Stroke Res Treat. 2012;2012:103697. doi: 10.1155/2012/103697 Crossref. PubMed.

19. Borschmann K, Pang MY, Bernhardt J, Iuliano-Burns S. Stepping towards prevention of bone loss after stroke: a systematic review of the skeletal effects of physical activity after stroke. Int J Stroke. 2012;7:330–335. doi: 10.1111/j.1747-4949.2011.00645.x Crossref. PubMed.

20. Eng JJ, Pang MY, Ashe MC. Balance, falls, and bone health: role of exercise in reducing fracture risk after stroke. J Rehabil Res Dev. 2008;45:297–313. doi: 10.1682/jrrd.2007.01.0014 Crossref.

21. Jorgensen L, Jacobsen BK, Wilsgaard T, Magnus JH. Walking after stroke: does it matter? Changes in bone mineral density within the first 12 months after stroke. A longitudinal study. Osteoporos Int. 2000;11:381–387. doi: 10.1007/s001980070103 Crossref.

22. Pang MY, Ashe MC, Eng JJ, McKay HA, Dawson AS. A 19-week exercise program for people with chronic stroke enhances bone geometry at the tibia: a peripheral quantitative computed tomography study. Osteoporos Int. 2006;17:1615–1625. doi: 10.1007/s00198-006-0168-0 Crossref. PubMed.

23. Pang MY, Eng JJ, Dawson AS, McKay HA, Harris JE. A community-based fitness and mobility exercise program for older adults with chronic stroke: a randomized, controlled trial. J Am Geriatr Soc. 2005;53:1667–1674. doi: 10.1111/j.1532-5415.2005.53521.x Crossref. PubMed.

24. Ryan AS, Ivey FM, Prior S, Li G, Hafer-Macko C. Skeletal muscle hypertrophy and muscle myostatin reduction after resistive training in stroke survivors. Stroke. 2011;42:416–420. doi: 10.1161/STROKEAHA.110.602441 Crossref. PubMed.

25. Lee JH, Han KD, Cheon DY, Lee M. Association Between Changes in Smoking Habits and Incident Fracture After Acute Ischemic Stroke. J Am Heart Assoc. 2024;13:e034779. doi: 10.1161/JAHA.124.034779 Crossref. PubMed.

26. Li SKY, Wan MMP, Siu FPL, Chung S, Pang MYC. Relationship Between Nutritional Factors and Hip Bone Density in Individuals with Chronic Stroke. Calcif Tissue Int. 2017;101:259–270. doi: 10.1007/s00223-017-0276-1 Crossref.

27. Si Z, Hu K, Wang C, Jia L, Zhang X, Wang A. The effects of neuromuscular facilitation techniques on osteoporosis of hemiplegia limbs and serum leptin level in patients or rats with cerebral infarction. Brain Inj. 2016;30:474–479. doi: 10.3109/02699052.2016.1140809 Crossref.

28. Lin SM, Yang SH, Liang CC, Huang H-K. Proton pump inhibitor use and the risk of osteoporosis and fracture in stroke patients: a population-based cohort study. Osteoporos Int. 2018;29:153–162. doi: 10.1007/s00198-017-4262-2 Crossref.

29. Jones JS, Kimata R, Almeida OP, Hankey GJ. Risk of Fractures in Stroke Patients Treated With a Selective Serotonin Reuptake Inhibitor: A Systematic Review and Meta-Analysis. Stroke. 2021;52:2802–2808. doi: 10.1161/STROKEAHA.120.032973 Crossref. PubMed.

30. Lau WCY, Cheung CL, Man KKC, Chan EW, Sing CW, Lip GYH, Siu C-W, Lam JKY, Lee ACH, Wong ICK. Association Between Treatment With Apixaban, Dabigatran, Rivaroxaban, or Warfarin and Risk for Osteoporotic Fractures Among Patients With Atrial Fibrillation: A Population-Based Cohort Study. Ann Intern Med. 2020;173:1–9. doi: 10.7326/M19-3671 Crossref.

31. Asghar ZB, Godoy Caballero A, Pathirannehelage S, Williams J, McKay S, Grassby P, de Lusignan S, Niroshan Siriwardena A. Saving bones without risking brain-bisphosphonates and risk of stroke: matched case-control study. Osteoporos Int. 2019;30:1845–1854. doi: 10.1007/s00198-019-05045-z Crossref.

32. Kim DH, Rogers JR, Fulchino LA, Kim CA, Solomon DH, Kim SC. Bisphosphonates and risk of cardiovascular events: a meta-analysis. PLoS One. 2015;10:e0122646. doi: 10.1371/journal.pone.0122646 Crossref. PubMed.

33. Poole KE, Loveridge N, Rose CM, Warburton EA, Reeve J. A single infusion of zoledronate prevents bone loss after stroke. Stroke. 2007;38:1519–1525. doi: 10.1161/STROKEAHA.106.474262 Crossref. PubMed.

34. Vestergaard Kvist A, Faruque J, Vallejo-Yague E, Weiler S, Winter EM, Burden AM. Cardiovascular Safety Profile of Romosozumab: A Pharmacovigilance Analysis of the US Food and Drug Administration Adverse Event Reporting System (FAERS). J Clin Med. 2021;10:1660. doi: 10.3390/jcm10081660 Crossref.

35. U.S. Food and Drug Administration. Evenity product monograph. Accessed July 30, 2025. https://www.accessdata.fda.gov/drugsatfda_docs/label/2019/761062s000lbl.pdf

3.9. Sleep and Poststroke Fatigue

1. Fleming MK, Smejka T, Macey E, Luengo-Fernandez R, Henry AL, Robinson B, Kyle SD, Espie CA, Johansen-Berg H. Improving sleep after stroke: A randomised controlled trial of digital cognitive behavioural therapy for insomnia. J Sleep Res. 2024;33:e13971. doi: 10.1111/jsr.13971 Crossref.

2. Nguyen S, Wong D, McKay A, Rajaratnam SMW, Spitz G, Williams G, Mansfield D, Ponsford JL. Cognitive behavioural therapy for post-stroke fatigue and sleep disturbance: a pilot randomised controlled trial with blind assessment. Neuropsychol Rehabil. 2019;29:723–738. doi: 10.1080/09602011.2017.1326945 Crossref.

3. Pilon L, Frankenmolen NF, van der Zijp J, Kessels RPC, Bertens D. A short add-on sleep intervention in the rehabilitation of individuals with acquired brain injury: A randomized controlled trial. NeuroRehabilitation. 2023;53:323–334. doi: 10.3233/NRE-230139 Crossref.

4. Ymer L, McKay A, Wong D, Frencham K, Grima N, Roper M, Nguyen S, Murray J, Spitz G, Ponsford J. Randomized controlled trial of cognitive behavioral therapy versus health education for sleep disturbance and fatigue following stroke and traumatic brain injury. J Rehabil Med. 2025;57:jrm41302. doi: 10.2340/jrm.v57.41302 Crossref.

5. Connolly LJ, Rajaratnam SMW, Murray JM, Spitz G, Lockley SW, Ponsford JL. Home-based light therapy for fatigue following acquired brain injury: a pilot randomized controlled trial. BMC Neurol. 2021;21:262. doi: 10.1186/s12883-021-02292-8 Crossref.

6. Weeks DL, Crooks E, O’Brien KE, Sprint G, Carter GT, Honn KA. A parallel-group randomized controlled trial of blue light versus red light for improving sleep, fatigue, and cognition following stroke: Pilot results and recommendations for further study. Contemp Clin Trials. 2024;147:107736. doi: 10.1016/j.cct.2024.107736 Crossref.

7. West A, Simonsen SA, Jennum P, Cyril Hansen N, Schønsted M, Zielinski A, Sander B, Iversen HK. An exploratory investigation of the effect of naturalistic light on fatigue and subjective sleep quality in stroke patients admitted for rehabilitation: A randomized controlled trial. NeuroRehabilitation. 2019;45:187–200. doi: 10.3233/NRE-192752 Crossref. PubMed.

8. AFFINITY Trial Collaboration. Safety and efficacy of fluoxetine on functional outcome after acute stroke (AFFINITY): a randomised, double-blind, placebo-controlled trial. Lancet Neurol. 2020;19:651–660. doi: 10.1016/S1474-4422(20)30207-6 Crossref.

9. Hankey GJ, Hackett ML, Almeida OP, Flicker L, Mead GE, Dennis MS, Etherton-Beer C, Ford AH, Billot L, Jan S, et al; AFFINITY Trial Collaboration. Twelve-Month Outcomes of the AFFINITY Trial of Fluoxetine for Functional Recovery After Acute Stroke: AFFINITY Trial Steering Committee on Behalf of the AFFINITY Trial Collaboration. Stroke. 2021;52:2502–2509. doi: 10.1161/STROKEAHA.120.033070 Crossref. PubMed.

10. Legg LA, Rudberg AS, Hua X, Wu S, Hackett ML, Tilney R, Lindgren L, Kutlubaev MA, Hsieh C-F, Barugh AJ, et al. Selective serotonin reuptake inhibitors (SSRIs) for stroke recovery. Cochrane Database Syst Rev. 2021;11:CD009286. doi: 10.1002/14651858.CD009286.pub4 Crossref.

11. Lundstrom E, Isaksson E, Greilert Norin N, Näsman P, Wester P, Mårtensson B, Norrving B, Wallén H, Borg J, Hankey GJ, et al. Effects of Fluoxetine on Outcomes at 12 Months After Acute Stroke: Results From EFFECTS, a Randomized Controlled Trial. Stroke. 2021;52:3082–3087. doi: 10.1161/STROKEAHA.121.034705 Crossref. PubMed.

12. Mead G, Graham C, Lundstrom E, Hankey GJ, Hackett ML, Billot L, Näsman P, Forbes J, Dennis M. Individual patient data meta-analysis of the effects of fluoxetine on functional outcomes after acute stroke. Int J Stroke. 2024;19:798–808. doi: 10.1177/17474930241242628 Crossref.

13. Hasan F, Gordon C, Wu D, Huang H-C, Yuliana LT, Susatia B, Marta OFD, Chiu H-Y. Dynamic Prevalence of Sleep Disorders Following Stroke or Transient Ischemic Attack: Systematic Review and Meta-Analysis. Stroke. 2021;52:655–663. doi: 10.1161/STROKEAHA.120.029847 Crossref. PubMed.

14. Wang YY, Li JX, Liu YF, Bai W, Sun H-L, Si TL, Su Z, Cheung T, Ungvari GS, Ng CH, et al. Prevalence of poor sleep quality among stroke survivors: A meta-analysis and systematic review. Sleep Med Rev. 2025;80:102070. doi: 10.1016/j.smrv.2025.102070 Crossref.

15. Chen W, Shen Y, Song S, Li X. Association of sleep duration and sleep disorders with post-stroke depression and all-cause and cardiovascular disease mortality in US stroke survivors: results from NHANES 2005-2018. Eur J Med Res. 2025;30:2. doi: 10.1186/s40001-024-02227-2 Crossref.

16. English C, Simpson DB, Billinger SA, Churilov L, Coupland KG, Drummond A, Kuppuswamy A, Kutlubaev MA, Lerdal A, Mahmood A, et al. A roadmap for research in post-stroke fatigue: Consensus-based core recommendations from the third Stroke Recovery and Rehabilitation Roundtable. Int J Stroke. 2024;19:133–144. doi: 10.1177/17474930231189135 Crossref.

17. Paudel SK, Rolls K, Green H, Fernandez R. Prevalence and Impact of Poststroke Fatigue on Patient Outcomes in the First 6 Months After Stroke: A Systematic Review and Meta-analysis. J Neurosci Nurs. 2023;55:178–185. doi: 10.1097/JNN.0000000000000716 Crossref.

18. Ymer L, McKay A, Wong D, Frencham K, Grima N, Tran J, Nguyen S, Junge M, Murray J, Spitz G, et al. Cognitive behavioural therapy versus health education for sleep disturbance and fatigue after acquired brain injury: A pilot randomised trial. Ann Phys Rehabil Med. 2021;64:101560–10E230. doi: 10.1016/j.rehab.2021.101560 Crossref.

19. Edinger JD, Arnedt JT, Bertisch SM, Carney CE, Harrington JJ, Lichstein KL, Sateia MJ, Troxel WM, Zhou ES, Kazmi U, et al. Behavioral and psychological treatments for chronic insomnia disorder in adults: an American Academy of Sleep Medicine clinical practice guideline. J Clin Sleep Med. 2021;17:255–262. doi: 10.5664/jcsm.8986 Crossref. PubMed.

20. Mortimer D, Ymer L, McKay A, Wong D, Frencham K, Grima N, Roper M, Nguyen S, Murray J, Spitz G, et al. Cost-effectiveness of cognitive behavioural therapy versus health education for sleep disturbance and fatigue following stroke and traumatic brain injury. J Rehabil Med. 2025;57:jrm42770. doi: 10.2340/jrm.v57.42770 Crossref.

21. Johns MW. A new method for measuring daytime sleepiness: the Epworth sleepiness scale. Sleep. 1991;14:540–545. doi: 10.1093/sleep/14.6.540 Crossref. PubMed.

22. St-Onge MP, Aggarwal B, Fernandez-Mendoza J, Johnson D, Kline CE, Knutson KL, Redeker N, Grandner MA; American Heart Association Council on Lifestyle and Cardiometabolic Health; Council on Cardiovascular and Stroke Nursing; Council on Clinical Cardiology; and Council on Quality of Care and Outcomes Research. Multidimensional Sleep Health: Definitions and Implications for Cardiometabolic Health: A Scientific Statement From the American Heart Association. Circ Cardiovasc Qual Outcomes. 2025;18:e000139. doi: 10.1161/HCQ.0000000000000139 Crossref. PubMed.

23. Morin CM, Belleville G, Belanger L, Ivers H. The Insomnia Severity Index: psychometric indicators to detect insomnia cases and evaluate treatment response. Sleep. 2011;34:601–608. doi: 10.1093/sleep/34.5.601 Crossref.

24. (NICE) NIfHaCE. Evidence reviews for the optimal tool for the assessment of fatigue: stroke rehabilitation in adults (update): evidence review B. Accessed August 18, 2025. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK600101/

25. Wu L, Jin H. A systematic review of post-stroke fatigue measurement scale based on COSMIN guidelines. Front Neurol. 2024;15:1411472. doi: 10.3389/fneur.2024.1411472 Crossref.

26. Tai D, Falck RS, Davis JC, Vint Z, Liu-Ambrose T. Can exercise training promote better sleep and reduced fatigue in people with chronic stroke? A systematic review. J Sleep Res. 2022;31:e13675. doi: 10.1111/jsr.13675 Crossref.

27. Alahmari W, Alhowimel A, Alotaibi M, Almuwais A, Alqabbani S, Alotaibi M. Effects of Physiotherapy Interventions for Poststroke Fatigue: A Systematic Review. Stroke. 2025;56:148–157. doi: 10.1161/STROKEAHA.123.046064 Crossref. PubMed.

28. Liao KC, Christian I, Stewart J, Trudelle-Jackson E, Wang W, Shang T, Goh H-T. Behavioral and Neural correlates of Post-STROKE Fatigue: A randomized controlled trial protocol. PLoS One. 2025;20:e0324591. doi: 10.1371/journal.pone.0324591 Crossref.

29. Jagadish A, Natarajan M, Adhia DB, Kuppuswamy A, Guddattu V, Solomon JM. Effect of high-definition transcranial direct current stimulation among late-subacute and chronic stroke survivors with fatigue: A randomized-controlled crossover trial protocol. MethodsX. 2024;12:102629. doi: 10.1016/j.mex.2024.102629 Crossref.

30. Tang WK, Lu H, Leung TWH, Kim JS, Fong KNK. Study protocol of a double-blind randomized control trial of transcranial direct current stimulation in post-stroke fatigue. Front Neurol. 2023;14:1297429. doi: 10.3389/fneur.2023.1297429 Crossref.

31. Sun X, Dong X, Yuan Q, Yu G, Shuai L, Ma C, Sun W. Effects of transcranial direct current stimulation on patients with post-stroke fatigue: a study protocol for a double-blind randomized controlled trial. Trials. 2022;23:200. doi: 10.1186/s13063-022-06128-9 Crossref.

32. Poulsen MB, Damgaard B, Zerahn B, Overgaard K, Rasmussen RS. Modafinil May Alleviate Poststroke Fatigue: A Randomized, Placebo-Controlled, Double-Blinded Trial. Stroke. 2015;46:3470–3477. doi: 10.1161/STROKEAHA.115.010860 Crossref. PubMed.

33. Bivard A, Lillicrap T, Krishnamurthy V, Holliday E, Attia J, Pagram H, Nilsson M, Parsons M, Levi CR. MIDAS (Modafinil in Debilitating Fatigue After Stroke): A Randomized, Double-Blind, Placebo-Controlled, Cross-Over Trial. Stroke. 2017;48:1293–1298. doi: 10.1161/STROKEAHA.116.016293 Crossref. PubMed.

4. Assessment

4.1. Assessment of Disability and Rehabilitation Needs

1. Burton L, Tyson SF. Screening for cognitive impairment after stroke: A systematic review of psychometric properties and clinical utility. J Rehabil Med. 2015;47:193–203. doi: 10.2340/16501977-1930 Crossref. PubMed.

2. Cohen JW, Ivanova TD, Brouwer B, Miller KJ, Bryant D, Garland SJ. Do Performance Measures of Strength, Balance, and Mobility Predict Quality of Life and Community Reintegration After Stroke? Arch Phys Med Rehabil. 2018;99:713–719. doi: 10.1016/j.apmr.2017.12.007 Crossref.

3. Conradsen I, Henriksen M, Rytter HM. Predictive Validity of Motor Assessment Scale on Poststroke Discharge Destination. Rehabil Res Pract. 2024;2024:2914252. doi: 10.1155/2024/2914252 Crossref.

4. de Ridder IR, Dijkland SA, Scheele M, den Hertog HM, Dirks M, Westendorp WF, Nederkoorn PJ, van de Beek D, Ribbers GM, Steyerberg EW, et al. Development and validation of the Dutch Stroke Score for predicting disability and functional outcome after ischemic stroke: A tool to support efficient discharge planning. Eur Stroke J. 2018;3:165–173. doi: 10.1177/2396987318754591 Crossref.

5. Wurzinger HE, Abzhandadze T, Rafsten L, Sunnerhagen SS. Dependency in activities of daily living during the first year after stroke. Front Neurol. 2021;12:736684. doi: 10.3389/fneur.2021.736684 Crossref.

6. Hanna KL, Hepworth LR, Rowe F. Screening methods for post-stroke visual impairment: a systematic review. Disabil Rehabil. 2017;39:2531–2543. doi: 10.1080/09638288.2016.1231846 Crossref.

7. Herbold J, Elmohsen E, Gutierrez G, Helgesen M, Babyar S. Prediction of Discharge Destination After Inpatient Rehabilitation for Stroke Using Mobility and Self-Care Assessment in Section GG of the Inpatient Rehabilitation Facility - Patient Assessment Instrument. Arch Rehabil Res Clin Transl. 2023;5:100292. doi: 10.1016/j.arrct.2023.100292 Crossref.

8. Huang SW, Chi WC, Chang KH, Yen C-F, Liao H-F, Escorpizo R, Liou T-H. World health organization disability assessment schedule 2.0 as an objective assessment tool for predicting return to work after a stroke. Disabil Rehabil. 2018;40:2592–2597. doi: 10.1080/09638288.2017.1342280 Crossref.

9. Huang YC, Chuang CY, Leong CP, Wang L, Chen H-L, Chiang C-W. Effect of Comprehensive Postural Instructions and Range of Motion Exercises Via Educational Videos on Motor Function and Shoulder Injury in Stroke Patients With Hemiplegia: A Preliminary Study. J Manipulative Physiol Ther. 2018;41:665–671. doi: 10.1016/j.jmpt.2018.03.004 Crossref.

10. Kodumuri N, Edmunds A, Seidel A, Fleming P, Vezzetti A, Mascari R, Kothari R, Lowe J, Sen S. Development and initial validation of a patient-centered stroke outcome measure in young stroke survivors. Eur J Neurol. 2021;28:4069–4077. doi: 10.1111/ene.15052 Crossref.

11. Mangone E, Shahriary E, Bosch P. Role of inpatient rehabilitation facility functional measures to predict community discharge after stroke. PM R. 2025;17:522–528. doi: 10.1002/pmrj.13266 Crossref.

12. Olive-Gadea M, Cano D, Rodrigo-Gisbert M, Muchada M, Montiel E, Baladas M, Sanchez-Gavilan E, Paredes C, Garcia-Tornel A, Rubiera M, et al. Redefining Disability: Patient-Reported Outcome Measures After Minor Stroke and Transient Ischemic Attack. Stroke. 2023;54:144–150. doi: 10.1161/STROKEAHA.122.040409 Crossref. PubMed.

13. Perin C, Bolis M, Limonta M, Meroni R, Ostasiewicz K, Cornaggia CM, Alouche SR, da Silva Matuti G, Cerri CG, Piscitelli D. Differences in Rehabilitation Needs after Stroke: A Similarity Analysis on the ICF Core Set for Stroke. Int J Environ Res Public Health. 2020;17:4291. doi: 10.3390/ijerph17124291 Crossref.

14. Sanchez-Gavilan E, Montiel E, Baladas M, Lallanas S, Aurin E, Watson C, Gutierrez M, Cossio Y, Ribo M, Molina CA, et al. Added value of patient-reported outcome measures (PROMs) after an acute stroke and early predictors of 90 days PROMs. J Patient Rep Outcomes. 2022;6:66. doi: 10.1186/s41687-022-00472-9 Crossref.

15. Stein J, Bettger JP, Sicklick A, Hedeman R, Magdon-Ismail Z, Schwamm LH. Use of a standardized assessment to predict rehabilitation care after acute stroke. Arch Phys Med Rehabil. 2015;96:210–217. doi: 10.1016/j.apmr.2014.07.403 Crossref. PubMed.

16. Tarvonen-Schroder S, Hurme S, Laimi K. The World Health Organization Disability Assessment Schedule (WHODAS 2.0) and the WHO Minimal Generic Set of Domains of Functioning and Health versus Conventional Instruments in subacute stroke. J Rehabil Med. 2019;51:675–682. doi: 10.2340/16501977-2583 Crossref.

17. Wu Q, Tang A, Niu S, Jin A, Liu X, Zeng L, Jiang J, Kue J, Shi Y, Zhu X. Comparison of Three Instruments for Activity Disability in Acute Ischemic Stroke Survivors. Can J Neurol Sci. 2021;48:94–104. doi: 10.1017/cjn.2020.149 Crossref.

18. Zhang T, Liu L, Xie R, Peng Y, Wang H, Chen Z, Wu S, Ni C, Zheng J, Li X, et al. Value of using the international classification of functioning, disability, and health for stroke rehabilitation assessment: A multicenter clinical study. Medicine (Baltim). 2018;97:e12802. doi: 10.1097/MD.0000000000012802 Crossref.

19. Mohapatra S, Jones A. The Orpington Prognostic Scale: a predictive tool for discharge destination and outcomes in stroke survivors admitted to a hyperacute stroke unit. Int J Ther Rehabil. 2015;22:510–516. doi: 10.12968/ijtr.2015.22.11.510 Crossref.

20. Karisik A, Bader V, Moelgg K, Buergi L, Dejakum B, Komarek S, Boehme C, Toell T, Mayer-Suess L, Sollereder S, et al. Intensified post-stroke care improves long-term dysphagia recovery after acute ischemic stroke: Results from the STROKE CARD trial. Eur Stroke J. 2025;10:568–575. doi: 10.1177/23969873241284123 Crossref.

21. Sapuppo D, Bernhardt J, Carvalho LB, Churilov L, Thijs V. Self-evaluation of personal needs by community-living young stroke survivors using an online English language questionnaire. Disabil Rehabil. 2023;45:1830–1835. doi: 10.1080/09638288.2022.2076935 Crossref.

22. Ullberg T, Zia E, Petersson J, Norrving B. Changes in functional outcome over the first year after stroke: an observational study from the Swedish stroke register. Stroke. 2015;46:389–394. doi: 10.1161/STROKEAHA.114.006538 Crossref. PubMed.

23. Ullberg T, Zia E, Petersson J, Norrving B. Perceived Unmet Rehabilitation Needs 1 Year After Stroke: An Observational Study From the Swedish Stroke Register. Stroke. 2016;47:539–541. doi: 10.1161/STROKEAHA.115.011670 Crossref. PubMed.

24. Chen PT, Lee SC, Wu TY, Lee M-L, Hsieh C-L. Test-Retest Reliability and Responsiveness of the Computerized Adaptive Testing System of the Functional Assessment of Stroke. Arch Phys Med Rehabil. 2023;104:1676–1682. doi: 10.1016/j.apmr.2023.06.017 Crossref.

25. Lin GH, Huang YJ, Lee SC, Huang S-L, Hsieh C-L. Development of a Computerized Adaptive Testing System of the Functional Assessment of Stroke. Arch Phys Med Rehabil. 2018;99:676–683. doi: 10.1016/j.apmr.2017.09.116 Crossref.

26. Karisik A, Dejakum B, Moelgg K, Granna J, Felicetti S, Pechlaner R, Mayer-Suess L, Toell T, Buergi L, Scherer L, et al. Incidence, characteristics, and consequences of fractures after acute ischemic stroke and TIA-A prospective cohort study. Int J Stroke. 2025;20:1141–1149. doi: 10.1177/17474930251345300 Crossref.

27. Huang YC, Wang WT, Liou TH, Liao C-D, Lin L-F, Huang S-W. Postural Assessment Scale for Stroke Patients Scores as a predictor of stroke patient ambulation at discharge from the rehabilitation ward. J Rehabil Med. 2016;48:259–264. doi: 10.2340/16501977-2046 Crossref.

28. DiCarlo JA, Jaywant A, Gochyyev P, Bonkhoff AK, Hardstone R, Erler KS, Ranford J, Cloutier A, Ward N, Sloane KL, et al. Distinct Constructs Underlie Patient-Reported and Performance-Rated Outcomes after Stroke. Ann Neurol. 2025;97:242–253. doi: 10.1002/ana.27129 Crossref.

4.2. Assessment of Motor Impairment, Activity, and Mobility

1. Bobos P, Nazari G, Lu Z, MacDermid JC. Measurement Properties of the Hand Grip Strength Assessment: A Systematic Review With Meta-analysis. Arch Phys Med Rehabil. 2020;101:553–565. doi: 10.1016/j.apmr.2019.10.183 Crossref.

2. Karthikbabu S, Chakrapani M. Hand-Held Dynamometer is a Reliable Tool to Measure Trunk Muscle Strength in Chronic Stroke. J Clin Diagn Res. 2017;11:YC09–YC12. doi: 10.7860/JCDR/2017/28105.10672 Crossref.

3. Kristensen OH, Stenager E, Dalgas U. Muscle Strength and Poststroke Hemiplegia: A Systematic Review of Muscle Strength Assessment and Muscle Strength Impairment. Arch Phys Med Rehabil. 2017;98:368–380. doi: 10.1016/j.apmr.2016.05.023 Crossref.

4. Caetano Martins J, Teixeira-Salmela L, Aguiar L, et al. Assessment of the strength of the trunk and upper limb muscles in stroke subjects with portable dynamometry: a literature review. Fisioter Mov. 2015;28:169–186. Crossref.

5. Lien P, Deluzio S, Adeyemo J, Langton-Frost N, Lavezza A, Daley K, Friedel S, Pruski A, French MA, Raghavan P. Development and Implementation of a Standard Assessment Battery Across the Continuum of Care for Patients After Stroke. Am J Phys Med Rehabil. 2023;102:S51–S55. doi: 10.1097/PHM.0000000000002142 Crossref.

6. Kwakkel G, Van Wegen E, Burridge JH, Winstein CJ, van Dokkum L, Alt Murphy M, Levin MF, Krakauer JW. Standardized measurement of quality of upper limb movement after stroke: Consensus-based core recommendations from the Second Stroke Recovery and Rehabilitation Roundtable. Int J Stroke. 2019;14:783–791. doi: 10.1177/1747493019873519 Crossref.

7. Bushnell C, Bettger JP, Cockroft KM, Cramer SC, Edelen MO, Hanley D, Katzan IL, Mattke S, Nilsen DM, Piquado T, et al. Chronic Stroke Outcome Measures for Motor Function Intervention Trials: Expert Panel Recommendations. Circ Cardiovasc Qual Outcomes. 2015;8:S163–S169. doi: 10.1161/CIRCOUTCOMES.115.002098 Crossref. PubMed.

8. de Blas-Zamorano P, Montagut-Martinez P, Perez-Cruzado D, Merchan-Baeza J-A. Fugl-Meyer Assessment for upper extremity in stroke: a pyschometric systematic review. J Hand Ther. 2026;39:22–51. doi: 10.1016/j.jht.2025.04.004 Crossref.

9. Prange-Lasonder GB, Alt Murphy M, Lamers I, Hughes A-M, Buurke JH, Feys P, Keller T, Klamroth-Marganska V, Tarkka IM, Timmermans A, et al. European evidence-based recommendations for clinical assessment of upper limb in neurorehabilitation (CAULIN): data synthesis from systematic reviews, clinical practice guidelines and expert consensus. J Neuroeng Rehabil. 2021;18:162. doi: 10.1186/s12984-021-00951-y Crossref.

10. Pohl J, Held JPO, Verheyden G, Alt Murphy M, Engelter S, Flöel A, Keller T, Kwakkel G, Nef T, Ward N, et al. Consensus-Based Core Set of Outcome Measures for Clinical Motor Rehabilitation After Stroke-A Delphi Study. Front Neurol. 2020;11:875. doi: 10.3389/fneur.2020.00875 Crossref.

11. Van Criekinge T, Heremans C, Burridge J, Deutsch JE, Hammerbeck U, Hollands K, Karthikbabu S, Mehrholz J, Moore JL, Salbach NM, et al. Standardized measurement of balance and mobility post-stroke: Consensus-based core recommendations from the third Stroke Recovery and Rehabilitation Roundtable. Int J Stroke. 2024;19:158–168. doi: 10.1177/17474930231205207 Crossref.

12. Kwakkel G, Lannin NA, Borschmann K, English C, Ali M, Churilov L, Saposnik G, Winstein C, van Wegen EE, Wolf SL, et al. Standardized measurement of sensorimotor recovery in stroke trials: Consensus-based core recommendations from the Stroke Recovery and Rehabilitation Roundtable. Int J Stroke. 2017;12:451–461. doi: 10.1177/1747493017711813 Crossref. PubMed.

13. Cheng DK, Dagenais M, Alsbury-Nealy K, Legasto JM, Scodras S, Aravind G, Takhar P, Nekolaichuk E, Salbach NM. Distance-limited walk tests post-stroke: A systematic review of measurement properties. NeuroRehabilitation. 2021;48:413–439. doi: 10.3233/NRE-210026 Crossref.

14. Dos Santos RB, Fiedler A, Badwal A, Legasto-Mulvale JM, Sibley KM, Olaleye OA, Diermayr G, Salbach NM. Standardized tools for assessing balance and mobility in stroke clinical practice guidelines worldwide: A scoping review. Front Rehabil Sci. 2023;4:1084085. doi: 10.3389/fresc.2023.1084085 Crossref.

15. Hafsteinsdottir TB, Rensink M, Schuurmans M. Clinimetric properties of the Timed Up and Go Test for patients with stroke: a systematic review. Top Stroke Rehabil. 2014;21:197–210. doi: 10.1310/tsr2103-197 Crossref.

16. Salbach NM, O’Brien KK, Brooks D, Irvin E, Martino R, Takhar P, Chan S, Howe J-A. Considerations for the Selection of Time-Limited Walk Tests Poststroke: A Systematic Review of Test Protocols and Measurement Properties. J Neurol Phys Ther. 2017;41:3–17. doi: 10.1097/npt.0000000000000159 Crossref.

17. Yoo YJ, Lim SH. Assessment of Lower Limb Motor Function, Ambulation, and Balance After Stroke. Brain Neurorehabil. 2022;15:e17. doi: 10.12786/bn.2022.15.e17 Crossref.

18. Moore JL, Potter K, Blankshain K, Kaplan SL, OʼDwyer LC, Sullivan JE. A Core Set of Outcome Measures for Adults With Neurologic Conditions Undergoing Rehabilitation: A CLINICAL PRACTICE GUIDELINE. J Neurol Phys Ther. 2018;42:174–220. doi: 10.1097/NPT.0000000000000229 Crossref.

19. Amano S, Umeji A, Uchita A, Hashimoto Y, Takebayashi T, Kanata Y, Uchiyama Y, Domen K. Reliability of remote evaluation for the Fugl-Meyer assessment and the action research arm test in hemiparetic patients after stroke. Top Stroke Rehabil. 2018;25:432–437. doi: 10.1080/10749357.2018.1481569 Crossref.

20. Amano S, Umeji A, Uchita A, Hashimoto Y, Takebayashi T, Takahashi K, Uchiyama Y, Domen K. Clinimetric properties of the action research arm test for the assessment of arm activity in hemiparetic patients after stroke. Top Stroke Rehabil. 2020;27:127–136. doi: 10.1080/10749357.2019.1667656 Crossref.

21. Aloraini SM, Gaverth J, Yeung E, MacKay-Lyons M. Assessment of spasticity after stroke using clinical measures: a systematic review. Disabil Rehabil. 2015;37:2313–2323. doi: 10.3109/09638288.2015.1014933 Crossref.

22. Blanchette AK, Demers M, Woo K, Shah A, Solomon JM, Mullick AA, Levin MF. Current Practices of Physical and Occupational Therapists Regarding Spasticity Assessment and Treatment. Physiother Can. 2017;69:303–312. doi: 10.3138/ptc.2016-54 Crossref.

23. Bezuidenhout L, Joseph C, Einarsson U, Thurston C, Hagströmer M, Moulaee Conradsson D. Accelerometer assessed upper limb activity in people with stroke: a validation study considering ambulatory and non-ambulatory activities. Disabil Rehabil. 2022;44:8463–8470. doi: 10.1080/09638288.2021.2012838 Crossref.

24. Bishop L, Demers M, Rowe J, Zondervan D, Winstein CJ. A Novel, Wearable Inertial Measurement Unit for Stroke Survivors: Validity, Acceptability, and Usability. Arch Phys Med Rehabil. 2024;105:1142–1150. doi: 10.1016/j.apmr.2024.01.020 Crossref.

25. Mathunny JJ, Karthik V, Devaraj A, Jacob J. A scoping review on recent trends in wearable sensors to analyze gait in people with stroke: From sensor placement to validation against gold-standard equipment. Proc Inst Mech Eng H. 2023;237:309–326. doi: 10.1177/09544119221142327 Crossref.

26. Peters J, Abou L, Wong E, Dossou MS, Sosnoff JJ, Rice LA. Smartphone-based gait and balance assessment in survivors of stroke: a systematic review. Disabil Rehabil Assist Technol. 2024;19:177–187. doi: 10.1080/17483107.2022.2072527 Crossref.

27. Silva RSD, Silva STD, Cardoso DCR, Quirino MAF, Silva MHA, Gomes LA, Fernandes JD, Oliveira RANS, Fernandes ABGS, Ribeiro TS. Psychometric properties of wearable technologies to assess post-stroke gait parameters: A systematic review. Gait Posture. 2024;113:543–552. doi: 10.1016/j.gaitpost.2024.08.004 Crossref.

28. Duclos NC, Aguiar LT, Aissaoui R, Faria CDCM, Nadeau S, Duclos C. Activity Monitor Placed at the Nonparetic Ankle Is Accurate in Measuring Step Counts During Community Walking in Poststroke Individuals: A Validation Study. PM R. 2019;11:963–971. doi: 10.1002/pmrj.12080 Crossref.

29. Hamid B, Hejazi Shirmard M, Shafighi Kuzani SM, Pashmdarfard M. Assessing Participation Among Stroke Survivors: A Systematic Review of Patient-Reported Outcome Measures. Occup Ther Int. 2025;2025:4928745. doi: 10.1155/oti/4928745 Crossref.

30. Bambirra C, Rodrigues M, de Morais Faria C, et al. Clinical evaluation of balance in hemiparetic adults: a systematic review. Fisioter Mov. 2015;28:187–200. Crossref.

31. Ambros-Antemate JF, Reyes-Flores A, Argueta-Figueroa L, Ramírez-Ramírez R, Vargas-Treviño M, Gutiérrez-Gutiérrez J, Mayoral EP, Pérez-Campos E, Flores-Mejía LA, Torres-Rosas R. Accuracy of machine learning algorithms for the assessment of upper-limb motor impairments in patients with post-stroke hemiparesis: A systematic review and meta-analysis. Adv Clin Exp Med. 2022;31:1309–1318. doi: 10.17219/acem/152596 Crossref.

32. Chen L, Cheng S, Liang S, Song Y, Chen J, Lei T, Liang Z, Zheng H. Prediction of 6-Mo Poststroke Spasticity in Patients With Acute First-Ever Stroke by Machine Learning. Am J Phys Med Rehabil. 2024;103:1123–1129. doi: 10.1097/PHM.0000000000002495 Crossref.

33. Connell LA, Smith MC, Byblow WD, Stinear CM. Implementing biomarkers to predict motor recovery after stroke. NeuroRehabilitation. 2018;43:41–50. doi: 10.3233/NRE-172395 Crossref.

34. Stinear CM, Byblow WD, Ackerley SJ, Barber PA, Smith M-C. Predicting Recovery Potential for Individual Stroke Patients Increases Rehabilitation Efficiency. Stroke. 2017;48:1011–1019. doi: 10.1161/STROKEAHA.116.015790 Crossref. PubMed.

35. Smith MC, Barber PA, Stinear CM. The TWIST Algorithm Predicts Time to Walking Independently After Stroke. Neurorehabil Neural Repair. 2017;31:955–964. doi: 10.1177/1545968317736820 Crossref. PubMed.

36. Sathian K, Buxbaum LJ, Cohen LG, Krakauer JW, Lang CE, Corbetta M, Fitzpatrick SM. Neurological principles and rehabilitation of action disorders: common clinical deficits. Neurorehabil Neural Repair. 2011;25:21S–32S. doi: 10.1177/1545968311410941 Crossref. PubMed.

37. Lindenberg R, Renga V, Zhu LL, Betzler F, Alsop D, Schlaug G. Structural integrity of corticospinal motor fibers predicts motor impairment in chronic stroke. Neurology. 2010;74:280–287. doi: 10.1212/WNL.0b013e3181ccc6d9 Crossref. PubMed.

38. Pineiro R, Pendlebury ST, Smith S, Flitney D, Blamire AM, Styles P, Matthews PM. Relating MRI changes to motor deficit after ischemic stroke by segmentation of functional motor pathways. Stroke. 2000;31:672–679. doi: 10.1161/01.str.31.3.672 Crossref. PubMed.

39. Stinear CM, Barber PA, Smale PR, Coxon JP, Fleming MK, Byblow WD. Functional potential in chronic stroke patients depends on corticospinal tract integrity. Brain. 2007;130:170–180. doi: 10.1093/brain/awl333 Crossref. PubMed.

40. Beebe JA, Lang CE. Active range of motion predicts upper extremity function 3 months after stroke. Stroke. 2009;40:1772–1779. doi: 10.1161/STROKEAHA.108.536763 Crossref. PubMed.

41. Bland MD, Sturmoski A, Whitson M, Connor LT, Fucetola R, Huskey T, Corbetta M, Lang CE. Prediction of discharge walking ability from initial assessment in a stroke inpatient rehabilitation facility population. Arch Phys Med Rehabil. 2012;93:1441–1447. doi: 10.1016/j.apmr.2012.02.029 Crossref. PubMed.

42. Harris JE, Eng JJ. Paretic upper-limb strength best explains arm activity in people with stroke. Phys Ther. 2007;87:88–97. doi: 10.2522/ptj.20060065 Crossref. PubMed.

43. Kwakkel G, Kollen B, Lindeman E. Understanding the pattern of functional recovery after stroke: facts and theories. Restor Neurol Neurosci. 2004;22:281–299. PubMed.

44. Nijland RH, van Wegen EE, Harmeling-van der Wel BC, Kwakkel G; EPOS Investigators. Presence of finger extension and shoulder abduction within 72 hours after stroke predicts functional recovery: early prediction of functional outcome after stroke: the EPOS cohort study. Stroke. 2010;41:745–750. doi: 10.1161/STROKEAHA.109.572065 Crossref. PubMed.

45. Lang CE, Bland MD, Bailey RR, Schaefer SY, Birkenmeier RL. Assessment of upper extremity impairment, function, and activity after stroke: foundations for clinical decision making. J Hand Ther. 2013;26:104–14;quiz 115. doi: 10.1016/j.jht.2012.06.005 Crossref. PubMed.

46. Baker K, Cano SJ, Playford ED. Outcome measurement in stroke: a scale selection strategy. Stroke. 2011;42:1787–1794. doi: 10.1161/STROKEAHA.110.608505 Crossref. PubMed.

47. Barak S, Duncan PW. Issues in selecting outcome measures to assess functional recovery after stroke. NeuroRx. 2006;3:505–524. doi: 10.1016/j.nurx.2006.07.009 Crossref. PubMed.

48. Duncan PW, Lai SM, Keighley J. Defining post-stroke recovery: implications for design and interpretation of drug trials. Neuropharmacology. 2000;39:835–841. doi: 10.1016/s0028-3908(00)00003-4 Crossref. PubMed.

49. Bland MD, Sturmoski A, Whitson M, Harris H, Connor LT, Fucetola R, Edmiaston J, Huskey T, Carter A, Kramper M, et al. Clinician adherence to a standardized assessment battery across settings and disciplines in a poststroke rehabilitation population. Arch Phys Med Rehabil. 2013;94:1048–1053. doi: 10.1016/j.apmr.2013.02.004 Crossref. PubMed.

50. Brown RW. Why is quality assurance so difficult? A review of issues in quality assurance over the last decade. Intern Med J. 2002;32:331–337. doi: 10.1046/j.1445-5994.2002.00240.x Crossref.

51. Weinert CR, Mann HJ. The science of implementation: changing the practice of critical care. Curr Opin Crit Care. 2008;14:460–465. doi: 10.1097/MCC.0b013e3283079eb5 Crossref. PubMed.

52. Patten C, Lexell J, Brown HE. Weakness and strength training in persons with poststroke hemiplegia: rationale, method, and efficacy. J Rehabil Res Dev. 2004;41:293–312. doi: 10.1682/jrrd.2004.03.0293 Crossref.

53. Bohannon RW. Muscle strength and muscle training after stroke. J Rehabil Med. 2007;39:14–20. doi: 10.2340/16501977-0018 Crossref.

54. Teasell R, Salbach NM, Foley N, Mountain A, Cameron JI, Jong Andrea de, Acerra NE, Bastasi D, Carter SL, Fung J, et al. Canadian Stroke Best Practice Recommendations: Rehabilitation, Recovery, and Community Participation following Stroke. Part One: Rehabilitation and Recovery Following Stroke; 6th Edition Update 2019. Int J Stroke. 2020;15:763–788. doi: 10.1177/1747493019897843 Crossref.

55. Salbach NM, O’Brien K, Brooks D, Irvin E, Martino R, Takhar P, Chan S, Howe J-A. Speed and distance requirements for community ambulation: a systematic review. Arch Phys Med Rehabil. 2014;95:117–128.e11. doi: 10.1016/j.apmr.2013.06.017 Crossref.

56. Kwong PW, Ng SS, Liu TW, Chung RC, Ng GY. Effect of Leg Selection on the Berg Balance Scale Scores of Hemiparetic Stroke Survivors: A Cross-Sectional Study. Arch Phys Med Rehabil. 2016;97:545–551. doi: 10.1016/j.apmr.2015.11.017 Crossref.

57. Khanittanuphong P, Tipchatyotin S. Correlation of the gait speed with the quality of life and the quality of life classified according to speed-based community ambulation in Thai stroke survivors. NeuroRehabilitation. 2017;41:135–141. doi: 10.3233/NRE-171465 Crossref.

58. Studenski S, Perera S, Patel K, Rosano C, Faulkner K, Inzitari M, Brach J, Chandler J, Cawthon P, Connor EB, et al. Gait speed and survival in older adults. JAMA. 2011;305:50–58. doi: 10.1001/jama.2010.1923 Crossref. PubMed.

59. Barnes MP, Johnson GR Eds. Upper Motor Neurone Syndrome and Spasticity: Clinical Management and Neurophysiology. 2nd ed. Cambridge University Press; 2008.

60. O’Dwyer NJ, Ada L. Reflex hyperexcitability and muscle contracture in relation to spastic hypertonia. Curr Opin Neurol. 1996;9:451–455. doi: 10.1097/00019052-199612000-00010 Crossref.

61. Ansari NN, Naghdi S, Moammeri H, Jalaie S. Ashworth Scales are unreliable for the assessment of muscle spasticity. Physiother Theory Pract. 2006;22:119–125. doi: 10.1080/09593980600724188 Crossref.

62. Sprager S, Juric MB. Inertial Sensor-Based Gait Recognition: A Review. Sensors (Basel). 2015;15:22089–22127. doi: 10.3390/s150922089 Crossref.

63. Patel S, Park H, Bonato P, Chan L, Rodgers M. A review of wearable sensors and systems with application in rehabilitation. J Neuroeng Rehabil. 2012;9:21. doi: 10.1186/1743-0003-9-21 Crossref.

64. Porciuncula F, Roto AV, Kumar D, Davis I, Roy S, Walsh CJ, Awad LN. Wearable Movement Sensors for Rehabilitation: A Focused Review of Technological and Clinical Advances. PM R. 2018;10:S220–S232. doi: 10.1016/j.pmrj.2018.06.013 Crossref.

65. Waddell KJ, Birkenmeier RL, Bland MD, Lang CE. An exploratory analysis of the self-reported goals of individuals with chronic upper-extremity paresis following stroke. Disabil Rehabil. 2016;38:853–857. doi: 10.3109/09638288.2015.1062926 Crossref.

66. Lang CE, Barth J, Holleran CL, Konrad JD, Bland MD. Implementation of Wearable Sensing Technology for Movement: Pushing Forward into the Routine Physical Rehabilitation Care Field. Sensors (Basel). 2020;20:5744. doi: 10.3390/s20205744 Crossref.

67. Rowland TJ, Gustafsson L. Assessments of upper limb ability following stroke: A review. British Journal of Occupational Therapy. 2008;71:427–437. doi: 10.1177/030802260807101006 Crossref.

68. Mlinac ME, Feng MC. Assessment of Activities of Daily Living, Self-Care, and Independence. Arch Clin Neuropsychol. 2016;31:506–516. doi: 10.1093/arclin/acw049 Crossref.

69. Schmid AA, Van Puymbroeck M, Altenburger PA, Dierks TA, Miller KK, Damush TM, Williams LS. Balance and balance self-efficacy are associated with activity and participation after stroke: a cross-sectional study in people with chronic stroke. Arch Phys Med Rehabil. 2012;93:1101–1107. doi: 10.1016/j.apmr.2012.01.020 Crossref. PubMed.

70. Podsiadlo D, Richardson S. The timed “up & go”: a test of basic functional mobility for frail elderly persons. Journal of the American Geriatrics Society. 1991;39:142–148. doi: 10.1111/j.1532-5415.1991.tb01616.x Crossref.

71. Weiner DK, Duncan PW, Chandler J, Studenski SA. Functional reach: a marker of physical frailty. J Am Geriatr Soc. 1992;40:203–207. doi: 10.1111/j.1532-5415.1992.tb02068.x Crossref.

72. Stinear C. Prediction of recovery of motor function after stroke. Lancet Neurol. 2010;9:1228–1232. doi: 10.1016/S1474-4422(10)70247-7 Crossref. PubMed.

73. Stinear CM, Barber PA, Petoe M, Anwar S, Byblow WD. The PREP algorithm predicts potential for upper limb recovery after stroke. Brain. 2012;135:2527–2535. doi: 10.1093/brain/aws146 Crossref. PubMed.

74. Hsieh YW, Hsueh IP, Chou YT, Sheu C-F, Hsieh C-L, Kwakkel G. Development and validation of a short form of the Fugl-Meyer motor scale in patients with stroke. Stroke. 2007;38:3052–3054. doi: 10.1161/STROKEAHA.107.490730 Crossref. PubMed.

75. Amano S, Umeji A, Takebayashi T, Takahashi K, Uchiyama Y, Domen K. Clinimetric properties of the shortened Fugl-Meyer Assessment for the assessment of arm motor function in hemiparetic patients after stroke. Top Stroke Rehabil. 2020;27:290–295. doi: 10.1080/10749357.2019.1701176 Crossref.

76. Hsueh IP, Hsu MJ, Sheu CF, Lee S, Hsieh C-L, Lin J-H. Psychometric comparisons of 2 versions of the Fugl-Meyer Motor Scale and 2 versions of the Stroke Rehabilitation Assessment of Movement. Neurorehabil Neural Repair. 2008;22:737–744. doi: 10.1177/1545968308315999 Crossref. PubMed.

4.3. Assessment of Communication Impairment

1. Hardin KY, Kelly JP. The Role of Speech-Language Pathology in an Interdisciplinary Care Model for Persistent Symptomatology of Mild Traumatic Brain Injury. Semin Speech Lang. 2019;40:65–78. doi: 10.1055/s-0038-1676452 Crossref.

2. Imaezue GC, Ajayi D, Davis C. Treatment of aphasia in linguistically diverse populations: current and future directions. Front Psychol. 2025;16:1612413. doi: 10.3389/fpsyg.2025.1612413 Crossref.

3. Merschel M. Speaking more than one language can add layers to stroke recovery. Accessed June 24, 2026. https://www.heart.org/en/news/2025/05/14/speaking-more-than-one-language-can-add-layers-to-stroke-recovery

4. Agis D, Goggins MB, Oishi K, Oishi K, Davis C, Wright A, Kim EH, Sebastian R, Tippett DC, Faria A, et al. Picturing the Size and Site of Stroke With an Expanded National Institutes of Health Stroke Scale. Stroke. 2016;47:1459–1465. doi: 10.1161/STROKEAHA.115.012324 Crossref. PubMed.

5. Bunker LD, Berube SK, Neal V, Kelly L, Kelly C, Meier EL, Hillis AE. Discourse Measures From the Modern Cookie Theft Picture Description Are Sensitive to Mild Communication Deficits Not Captured by the Western Aphasia Battery-Revised Aphasia Quotient. Am J Speech Lang Pathol. 2025;34:1100–1120. doi: 10.1044/2024_AJSLP-24-00322 Crossref.

6. Fromm D, Forbes M, Holland A, Dalton SG, Richardson J, MacWhinney B. Discourse Characteristics in Aphasia Beyond the Western Aphasia Battery Cutoff. Am J Speech Lang Pathol. 2017;26:762–768. doi: 10.1044/2016_AJSLP-16-0071 Crossref.

7. Minga J, Sheppard SM, Johnson M, Hewetson R, Cornwell P, Blake ML. Apragmatism: The renewal of a label for communication disorders associated with right hemisphere brain damage. Int J Lang Commun Disord. 2023;58:651–666. doi: 10.1111/1460-6984.12807 Crossref.

8. Comer A, Northcott S, Behn N, Roper A, Devane N, Hilari K. Experiences and perspectives of UK speech and language therapists on telehealth assessment with people living with post-stroke aphasia. Int J Lang Commun Disord. 2025;60:e70018. doi: 10.1111/1460-6984.70018 Crossref.

9. Weatherill M, Tibus EO, Rodriguez A. Telepractice in aphasia: troubleshooting and planning assessments using the virtual-appropriate decision approach. Perspect ASHA Spec Interest Groups. 2024;9:1235–1244.

10. Minga J, Johnson M, Blake ML, Fromm D, MacWhinney B. Making Sense of Right Hemisphere Discourse Using RHDBank. Top Lang Disord. 2021;41:99–122. doi: 10.1097/tld.0000000000000244 Crossref.

11. World Health Organization (WHO). International Classification of Functioning, Disability and Health: ICF. World Health Organization; 2001.

12. American Speech-Language-Hearing Association (ASHA). Considerations for Speech, Language, and Cognitive Assessment via Telepractice. Accessed July 16, 2025. https://www.asha.org/slp/clinical/considerations-for-speech-language-and-cognitive-assessment-via-telepractice/?srsltid=AfmBOoqTCb-0fa76UBuZ54iVeQbORRgBEuS54nZRa4qIP2zLV_jQY0vh

13. Minga J, Stockbridge MD, Durfee A, Johnson M. Clinical Guidelines for Eliciting Discourse Using the RHDBank Protocol. Am J Speech Lang Pathol. 2022;31:1949–1962. doi: 10.1044/2022_AJSLP-22-00097 Crossref.

14. Gopaul U, Jethani P, Enam N, Amirpour A, Crozier O, Charalambous M, Bayley M. Cognitive Impairment After Stroke: Rehabilitation Strategies and SMART Goal Setting. Arch Phys Med Rehabil. 2025;106:641–647. doi: 10.1016/j.apmr.2024.08.030 Crossref.

15. American Speech-Language and Hearing Association. Scope of practice in speech-language pathology. Published online 2016. www.asha.org/policy

16. American Speech-Language-Hearing Association. Preferred Practice Patterns for the Profession of Speech-Language Pathology. American Speech-Language-Hearing Association; 2004. Accessed June 24, 2026. https://www.asha.org/policy/pp2004-00191/?srsltid=AfmBOoodruZJrNJccI25ad5Q-awzuy_BPTHVxkYyal4rB_UIOVhvshNi

17. World Health Organization (WHO). WHO launches commission to foster social connection. 2023; https://www.who.int/news/item/15-11-2023-who-launches-commission-to-foster-social-connection

18. Stroke Foundation. Living Clinical Guidelines for Stroke Management: Practice Statement. Stroke Foundation; 2023.

19. Swiggett WD, Baron PA, Stief C. A Curriculum and Practice Analysis for the Profession of Speech Language Pathology. American Speech-Language-Hearing Association; 2024.

20. Macwhinney B, Fromm D. TalkBank methods for studying spoken discourse. In: Spoken discourse impairments in the neurogenic populations: A state-of-the-art, contemporary approach. Cham: Springer International Publishing; 2024.

21. Fromm D, Forbes M, Holland A, MacWhinney B. Using AphasiaBank for Discourse Assessment. Semin Speech Lang. 2020;41:10–19. doi: 10.1055/s-0039-3399499 Crossref.

22. Teti SD, Murray LL, Orange JB, Kankam KS, Roberts AC. Telepractice Assessments for Individuals with Aphasia: A Systematic Review. Telemed J E Health. 2025;31:37–49. doi: 10.1089/tmj.2024.0268 Crossref.

4.4. Assessment of Cognition and Perception

1. Bickerton WL, Demeyere N, Francis D, Kumar V, Remoundou M, Balani A, Harris L, Williamson J, Lau JK, Samson D, et al. The BCoS cognitive profile screen: Utility and predictive value for stroke. Neuropsychology. 2015;29:638–648. doi: 10.1037/neu0000160 Crossref.

2. Burton L, Tyson SF. Screening for cognitive impairment after stroke: A systematic review of psychometric properties and clinical utility. J Rehabil Med. 2015;47:193–203. doi: 10.2340/16501977-1930 Crossref. PubMed.

3. Demeyere N, Riddoch MJ, Slavkova ED, Jones K, Reckless I, Mathieson P, Humphreys GW. Domain-specific versus generalized cognitive screening in acute stroke. J Neurol. 2016;263:306–315. doi: 10.1007/s00415-015-7964-4 Crossref. PubMed.

4. Hanna KL, Hepworth LR, Rowe F. Screening methods for post-stroke visual impairment: a systematic review. Disabil Rehabil. 2017;39:2531–2543. doi: 10.1080/09638288.2016.1231846 Crossref.

5. Jaywant A, Toglia J, Gunning FM, O'Dell MW. The diagnostic accuracy of the Montreal Cognitive Assessment in inpatient stroke rehabilitation. Neuropsychol Rehabil. 2019;29:1163–1176. doi: 10.1080/09602011.2017.1372297 Crossref.

6. Shao K, Wang W, Guo SZ, Dong F-M, Yang Y-M, Zhao Z-M, Jia Y-L, Wang J-H. Assessing executive function following the early stage of mild Ischemic stroke with three brief screening tests. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2020;29:104960. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2020.104960 Crossref.

7. Stolwyk RJ, O’Neill MH, McKay AJ, Wong DK. Are cognitive screening tools sensitive and specific enough for use after stroke? A systematic literature review. Stroke. 2014;45:3129–3134. doi: 10.1161/STROKEAHA.114.004232 Crossref. PubMed.

8. Toglia J, Askin G, Gerber LM, Taub MC, Mastrogiovanni AR, O'Dell MW. Association Between 2 Measures of Cognitive Instrumental Activities of Daily Living and Their Relation to the Montreal Cognitive Assessment in Persons With Stroke. Arch Phys Med Rehabil. 2017;98:2280–2287. doi: 10.1016/j.apmr.2017.04.007 Crossref.

9. Van Heugten CM, Walton L, Hentschel U. Can we forget the Mini-Mental State Examination? A systematic review of the validity of cognitive screening instruments within one month after stroke. Clin Rehabil. 2015;29:694–704. doi: 10.1177/0269215514553012 Crossref. PubMed.

10. Wei X, Liu Y, Li J, Zhu Y, Li W, Zhu Y, Hua L, Cao J, Ma Y. MoCA and MMSE for the detection of post-stroke cognitive impairment: a comparative diagnostic test accuracy systematic review and meta‑analysis. J Neurol. 2025;272:407. doi: 10.1007/s00415-025-13146-5 Crossref.

11. Milosevich ET, Moore MJ, Pendlebury ST, Demeyere N. Domain-specific cognitive impairment 6 months after stroke: The value of early cognitive screening. Int J Stroke. 2024;19:331–341. doi: 10.1177/17474930231205787 Crossref.

12. Kusec A, Milosevich E, Williams OA, Chiu EG, Watson P, Carrick C, Drozdowska BA, Dillon A, Jennings T, Anderson B, et al. Long-term psychological outcomes following stroke: the OX-CHRONIC study. BMC Neurol. 2023;23:426. doi: 10.1186/s12883-023-03463-5 Crossref.

13. Munthe-Kaas R, Aam S, Saltvedt I, Wyller TB, Pendlebury ST, Lydersen S, Ihle-Hansen H. Test Accuracy of the Montreal Cognitive Assessment in Screening for Early Poststroke Neurocognitive Disorder: The Nor-COAST Study. Stroke. 2021;52:317–320. doi: 10.1161/STROKEAHA.120.031030 Crossref. PubMed.

14. Burns SP, Dawson DR, Perea JD, Vas A, Pickens ND, Neville M. Development, Reliability, and Validity of the Multiple Errands Test Home Version (MET–Home) in Adults With Stroke. Am J Occup Ther. 2019;73:7303205030p1–7303205030p10. doi: 10.5014/ajot.2019.027755 Crossref.

15. Carroll GL, Radomski M, Halsten J, Meyers A, Rabusch S, Takimoto R, Kreiger R. Front Desk Duty Multitasking Test After Mild Stroke: Preliminary Reliability and Validity. Can J Occup Ther. 2020;87:372–381. doi: 10.1177/0008417420953227 Crossref.

16. van Rijsbergen MW, Mark RE, Kop WJ, de Kort PLM, Sitskoorn MM. The role of objective cognitive dysfunction in subjective cognitive complaints after stroke. Eur J Neurol. 2017;24:475–482. doi: 10.1111/ene.13227 Crossref. PubMed.

17. Ebaid D, Bird LJ, McCambridge LJE, Werden E, Bradshaw J, Cumming T, Tang E, Brodtmann A. Mood and Cognitive Trajectories Over the First Year after Mild Ischemic Stroke. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2022;31:106323. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2022.106323 Crossref.

18. Gangaram-Panday SG, Zhou Y, Gillebert CR. Screening for post-stroke neurocognitive disorders in diverse populations: A systematic review. Clin Neuropsychol. 2024;38:588–611. doi: 10.1080/13854046.2023.2237676 Crossref.

19. Campbell A, Gustafsson L, Gullo H, Summers M, Rosbergen I, Grimley R. Uncharted territory: The feasibility of serial computerised cognitive assessment the first week post-stroke. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2022;31:106614. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2022.106614 Crossref.

20. Chapman JE, Cadilhac DA, Gardner B, Ponsford J, Bhalla R, Stolwyk RJ. Comparing face-to-face and videoconference completion of the Montreal Cognitive Assessment (MoCA) in community-based survivors of stroke. J Telemed Telecare. 2021;27:484–492. doi: 10.1177/1357633X19890788 Crossref.

21. Chapman JE, Gardner B, Ponsford J, Cadilhac DA, Stolwyk RJ. Comparing Performance Across In-person and Videoconference-Based Administrations of Common Neuropsychological Measures in Community-Based Survivors of Stroke. J Int Neuropsychol Soc. 2021;27:697–710. doi: 10.1017/S1355617720001174 Crossref.

22. Zietemann V, Kopczak A, Muller C, Wollenweber FA, Dichgans M. Validation of the Telephone Interview of Cognitive Status and Telephone Montreal Cognitive Assessment Against Detailed Cognitive Testing and Clinical Diagnosis of Mild Cognitive Impairment After Stroke. Stroke. 2017;48:2952–2957. doi: 10.1161/STROKEAHA.117.017519 Crossref. PubMed.

23. Wo Y, Demeyere N, Webb SS. Comparison of the Tele-Oxford Cognitive Screen to a neuropsychological battery in chronic stroke survivors. J Neuropsychol. 2026;20:186–195. doi: 10.1111/jnp.70021 Crossref.

24. Barbay M, Diouf M, Roussel M, Godefroy O; GRECOGVASC study group. Systematic Review and Meta-Analysis of Prevalence in Post-Stroke Neurocognitive Disorders in Hospital-Based Studies. Dement Geriatr Cogn Disord. 2018;46:322–334. doi: 10.1159/000492920 Crossref. PubMed.

25. Graber M, Garnier L, Duloquin G, Mohr S, Guillemin S, Ramaget O, Piver A, Tainturier C, Bret-Legrand C, Delpont B, et al. Association Between Fatigue and Cognitive Impairment at 6 Months in Patients With Ischemic Stroke Treated With Acute Revascularization Therapy. Front Neurol. 2019;10:931. doi: 10.3389/fneur.2019.00931 Crossref. PubMed.

26. Lomachinsky Torres V, Brooks JD, Donahue MA, Sun S, Hsu J, Price M, Blacker D, Schwamm LH, Newhouse JP, Haneuse S, et al. Benzodiazepine Utilization in Ischemic Stroke Survivors: Analyzing Initial Excess Supply and Longitudinal Trends. Stroke. 2024;55:2694–2702. doi: 10.1161/STROKEAHA.124.047257 Crossref. PubMed.

27. Kurra N, Gandrakota N, Ramakrishnan M, Sudireddy K, Boorle NVLD, Jillella D. The Influence of Obstructive Sleep Apnea on Post-Stroke Complications: A Systematic Review and Meta-Analysis. J Clin Med. 2024;13:5646. doi: 10.3390/jcm13185646 Crossref. PubMed.

28. Carrick C, Kusec A, Demeyere N. Post-stroke fatigue severity is associated with executive dysfunction in chronic stroke. Neuropsychol Rehabil. 2025;35:1395–1417. doi: 10.1080/09602011.2024.2414864 Crossref.

29. Pendlebury ST, Rothwell PM; Oxford Vascular Study. Incidence and prevalence of dementia associated with transient ischaemic attack and stroke: analysis of the population-based Oxford Vascular Study. Lancet Neurol. 2019;18:248–258. doi: 10.1016/S1474-4422(18)30442-3 Crossref. PubMed.

30. Graber M, Garnier L, Mohr S, Delpont B, Blanc-Labarre C, Vergely C, Giroud M, Béjot Y. Influence of Pre-Existing Mild Cognitive Impairment and Dementia on Post-Stroke Mortality. The Dijon Stroke Registry. Neuroepidemiology. 2020;54:490–497. doi: 10.1159/000497614 Crossref.

31. Mele F, Cova I, Nicotra A, Maestri G, Salvadori E, Cucumo V, Masserini F, Martelli M, Pomati S, Bertora P, et al. Prestroke Cognitive Impairment: Frequency and Association With Premorbid Neuropsychiatric, Functional, and Neuroimaging Features. Stroke. 2024;55:1869–1876. doi: 10.1161/STROKEAHA.123.045344 Crossref. PubMed.

32. Revet M, Immerzeel J, Voogt L, Paulis W. Patients with neuropsychological disorders short after stroke have worse functional outcome: a systematic review and meta-analysis. Disabil Rehabil. 2021;43:2233–2252. doi: 10.1080/09638288.2019.1693642 Crossref.

33. Saa JP, Tse T, Baum CM, Cumming T, Josman N, Rose M, O'Keefe S, Sewell K, Nguyen V, Carey LM. Cognitive Recovery After Stroke: A Meta-analysis and Metaregression of Intervention and Cohort Studies. Neurorehabil Neural Repair. 2021;35:585–600. doi: 10.1177/15459683211017501 Crossref.

34. Stolwyk RJ, Mihaljcic T, Wong DK, Chapman JE, Rogers JM. Poststroke Cognitive Impairment Negatively Impacts Activity and Participation Outcomes: A Systematic Review and Meta-Analysis. Stroke. 2021;52:748–760. doi: 10.1161/STROKEAHA.120.032215 Crossref. PubMed.

35. Lo JW, Crawford JD, Desmond DW, Bae H-J, Lim J-S, Godefroy O, Roussel M, Kang Y, Jahng S, Köhler S, et al; Stroke and Cognition (STROKOG) Collaboration. Long-Term Cognitive Decline After Stroke: An Individual Participant Data Meta-Analysis. Stroke. 2022;53:1318–1327. doi: 10.1161/STROKEAHA.121.035796 Crossref. PubMed.

36. Sherlock L, Lee SF, Katsanos AH, Cukierman-Yaffe T, Canavan M, Joundi R, Sharma M, Shoamanesh A, Brayne C, Gerstein HC, et al. Cognitive performance following stroke, transient ischaemic attack, myocardial infarction, and hospitalisation: an individual participant data meta-analysis of six randomised controlled trials. Lancet Healthy Longev. 2023;4:e665–e674. doi: 10.1016/S2666-7568(23)00207-6 Crossref. PubMed.

37. Filler J, Georgakis MK, Dichgans M. Risk factors for cognitive impairment and dementia after stroke: a systematic review and meta-analysis. Lancet Healthy Longev. 2024;5:e31–e44. doi: 10.1016/S2666-7568(23)00217-9 Crossref.

38. Mokkink LB, Terwee CB, Patrick DL, Alonso J, Stratford PW, Knol DL, Bouter LM, de Vet HCW. The COSMIN study reached international consensus on taxonomy, terminology, and definitions of measurement properties for health-related patient-reported outcomes. J Clin Epidemiol. 2010;63:737–745. doi: 10.1016/j.jclinepi.2010.02.006 Crossref. PubMed.

39. Intercollegiate Stroke Working Party. National Clinical Guideline for Stroke for the UK and Ireland. Rehabilitation and recovery - Psychological effects of stroke. 2023. Accessed July 29, 2025. www.strokeguideline.org

40. Stroke Foundation. Australian and New Zealand Living Clinical Guidelines for Stroke Management. Chapter 5 of 8: Rehabilitation. Accessed July 31, 2025. https://informme.org.au/en/Guidelines/Clinical-Guidelines-for-Stroke-Management

41. Quinn TJ, Richard E, Teuschl Y, Gattringer T, Hafdi M, O'Brien JT, Merriman N, Gillebert C, Huygelier H, Verdelho A, et al. European Stroke Organisation and European Academy of Neurology joint guidelines on post-stroke cognitive impairment. Eur J Neurol. 2021;28:3883–3920. doi: 10.1111/ene.15068 Crossref. PubMed.

42. Swartz RH, Longman RS, Lindsay MP, Lund R, Ganesh A, Eskes GA, Austin M, Bechard LE, Bhangu J, Bruto VC, et al; Canadian Stroke Best Practice Recommendations Advisory Committee, in collaboration with the Canadian Stroke Consortium, Canadian Neurological Sciences Federation, and CanStroke Recovery Trials Platform. Canadian Stroke Best Practice Recommendations: Vascular cognitive impairment, 7th edition practice guidelines update, 2024. Alzheimers Dement. 2025;21:e14324. doi: 10.1002/alz.14324 Crossref. PubMed.

43. Folstein MF, Folstein SE, McHugh PR. "Mini-mental state". A practical method for grading the cognitive state of patients for the clinician. J Psychiatr Res. 1975;12:189–198. doi: 10.1016/0022-3956(75)90026-6 Crossref.

44. Lopez MN, Charter RA, Mostafavi B, Nibut LP, Smith WE. Psychometric properties of the Folstein Mini-Mental State Examination. Assessment. 2005;12:137–144. doi: 10.1177/1073191105275412 Crossref.

45. Godin J, Keefe J, Andrew MK. Handling missing Mini-Mental State Examination (MMSE) values: Results from a cross-sectional long-term-care study. J Epidemiol. 2017;27:163–171. doi: 10.1016/j.je.2016.05.001 Crossref.

46. Kosgallana A, Cordato D, Chan DKY, Yong J. Use of Cognitive Screening Tools to Detect Cognitive Impairment After an Ischaemic Stroke: a Systematic Review. SN Compr Clin Med. 2019;1:255–262. doi: 10.1007/s42399-018-0035-2 Crossref.

47. Nasreddine ZS, Phillips NA, Bedirian V, Charbonneau S, Whitehead V, Collin I, Cummings JL, Chertkow H. The Montreal Cognitive Assessment, MoCA: a brief screening tool for mild cognitive impairment. J Am Geriatr Soc. 2005;53:695–699. doi: 10.1111/j.1532-5415.2005.53221.x Crossref. PubMed.

48. Demeyere N, Riddoch MJ, Slavkova ED, Bickerton W-L, Humphreys GW. The Oxford Cognitive Screen (OCS): validation of a stroke-specific short cognitive screening tool. Psychol Assess. 2015;27:883–894. doi: 10.1037/pas0000082 Crossref. PubMed.

49. Demeyere N, Haupt M, Webb SS, Strobel L, Milosevich ET, Moore MJ, Wright H, Finke K, Duta MD. Introducing the tablet-based Oxford Cognitive Screen-Plus (OCS-Plus) as an assessment tool for subtle cognitive impairments. Sci Rep. 2021;11:8000. doi: 10.1038/s41598-021-87287-8 Crossref.

50. Mancuso M, Demeyere N, Abbruzzese L, Damora A, Varalta V, Pirrotta F, Antonucci G, Matano A, Caputo M, Caruso MG, et al; Italian OCS Group. Using the Oxford Cognitive Screen to Detect Cognitive Impairment in Stroke Patients: A Comparison with the Mini-Mental State Examination. Front Neurol. 2018;9:101. doi: 10.3389/fneur.2018.00101 Crossref.

4.5. Assessment of Sensory Impairments, Including Touch, Vision, and Hearing

1. Hillier S, Immink M, Thewlis D. Assessing Proprioception: A Systematic Review of Possibilities. Neurorehabil Neural Repair. 2015;29:933–949. doi: 10.1177/1545968315573055 Crossref.

2. Kessner SS, Schlemm E, Cheng B, Bingel U, Fiehler J, Gerloff C, Thomalla G. Somatosensory Deficits After Ischemic Stroke. Stroke. 2019;50:1116–1123. doi: 10.1161/STROKEAHA.118.023750 Crossref. PubMed.

3. Koohi N, Vickers DA, Utoomprurkporn N, Werring DJ, Bamiou D-E. A Hearing Screening Protocol for Stroke Patients: An Exploratory Study. Front Neurol. 2019;10:842. doi: 10.3389/fneur.2019.00842 Crossref.

4. Rowe FJ, Hepworth LR, Howard C, Hanna KL, Currie J. Impact of visual impairment following stroke (IVIS study): a prospective clinical profile of central and peripheral visual deficits, eye movement abnormalities and visual perceptual deficits. Disabil Rehabil. 2022;44:3139–3153. doi: 10.1080/09638288.2020.1859631 Crossref.

5. Schon M, Cruz DM, Tomas R, Sotero F, Alves PN, Canhão P. Assessing Taste and Smell Dysfunction in Acute and Chronic Stroke Patients: Insights From an Adapted Bedside Questionnaire. Eur J Neurol. 2025;32:e70089. doi: 10.1111/ene.70089 Crossref.

6. Courtney-Harris M, Jolly N, Rowe F, Rose K. Validation of a vision-screening tool for use by nurses and other non-eye care health practitioners on stroke survivors. Contemp Nurse. 2022;58:276–284. doi: 10.1080/10376178.2022.2104334 Crossref.

7. Hanna KL, Hepworth LR, Rowe F. Screening methods for post-stroke visual impairment: a systematic review. Disabil Rehabil. 2017;39:2531–2543. doi: 10.1080/09638288.2016.1231846 Crossref.

8. Rowe FJ, Hepworth LR, Hanna KL, Howard C. Visual Impairment Screening Assessment (VISA) tool: pilot validation. BMJ Open. 2018;8:e020562. doi: 10.1136/bmjopen-2017-020562 Crossref.

9. Zandvliet SB, Kwakkel G, Nijland RHM, van Wegen EEH, Meskers CGM. Is Recovery of Somatosensory Impairment Conditional for Upper-Limb Motor Recovery Early After Stroke? Neurorehabil Neural Repair. 2020;34:403–416. doi: 10.1177/1545968320907075 Crossref.

10. Rand D. Proprioception deficits in chronic stroke-Upper extremity function and daily living. PLoS One. 2018;13:e0195043. doi: 10.1371/journal.pone.0195043 Crossref.

11. Rowe FJ, Hepworth LR, Howard C, Hanna KL, Cheyne CP, Currie J. High incidence and prevalence of visual problems after acute stroke: An epidemiology study with implications for service delivery. PLoS One. 2019;14:e0213035. doi: 10.1371/journal.pone.0213035 Crossref.

12. Rowe FJ, Hepworth LR, Howard C, Hanna KL, Currie J. Impact of visual impairment following stroke (IVIS study): a prospective clinical profile of central and peripheral visual deficits, eye movement abnormalities and visual perceptual deficits. Disabil Rehabil. 2022;44:3139–3153. doi: 10.1080/09638288.2020.1859631 Crossref.

13. Jamal K, Penisson A, Rostagno S, Duclos C. Where Are We on Proprioception Assessment Tests Among Poststroke Individuals? A Systematic Review of Psychometric Properties. J Neurol Phys Ther. 2022;46:231–239. doi: 10.1097/NPT.0000000000000405 Crossref.

14. Koohi N, Vickers DA, Lakshmanan R, Chandrashekar H, Werring DJ, Warren JD, Bamiou DE. Hearing Characteristics of Stroke Patients: Prevalence and Characteristics of Hearing Impairment and Auditory Processing Disorders in Stroke Patients. J Am Acad Audiol. 2017;28:491–505. doi: 10.3766/jaaa.15139 Crossref.

15. Bowden JL, Lin GG, McNulty PA. The prevalence and magnitude of impaired cutaneous sensation across the hand in the chronic period post-stroke. PLoS One. 2014;9:e104153. doi: 10.1371/journal.pone.0104153 Crossref.

16. Xu J, Witchalls J, Preston E, Pan L, Zhang G, Waddington G, Adams R, Han J. Proprioception After Unilateral Stroke: Changes in the Affected and Unaffected Lower Limbs Over Time. Physiother Res Int. 2025;30:e70027. doi: 10.1002/pri.70027 Crossref.

17. Hepworth LR, Howard C, Hanna KL, Currie J, Rowe FJ. "Eye" Don't See: An Analysis of Visual Symptom Reporting by Stroke Survivors from a Large Epidemiology Study. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2021;30:105759. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2021.105759 Crossref.

18. Rowe FJ. International Practice in Care Provision for Post-stroke Visual Impairment. Strabismus. 2017;25:112–119. doi: 10.1080/09273972.2017.1349812 Crossref.

19. Wehling E, Naess H, Wollschlaeger D, Hofstad H, Bramerson A, Bende M, Nordin S. Olfactory dysfunction in chronic stroke patients. BMC Neurol. 2015;15:199. doi: 10.1186/s12883-015-0463-5 Crossref.

20. Omori K, Okutani F. Impaired Olfactory Identification of Patients with Cerebrovascular Disease Can Be Revealed by Dual Testing. Chemosens Percept. 2020;13:132–140. doi: 10.1007/s12078-019-09274-8 Crossref.

21. Chilvers MJ, Rajashekar D, Low TA, Scott SH, Dukelow SP. Clinical, Neuroimaging and Robotic Measures Predict Long-Term Proprioceptive Impairments following Stroke. Brain Sci. 2023;13:953. doi: 10.3390/brainsci13060953 Crossref.

22. Wijesundera C, Crewther SG, Wijeratne T, Vingrys AJ. Vision and Visuomotor Performance Following Acute Ischemic Stroke. Front Neurol. 2022;13:757431. doi: 10.3389/fneur.2022.757431 Crossref.

23. Quinn TJ, Livingstone I, Weir A, Shaw R, Breckenridge A, McAlpine C, Tarbert CM. Accuracy and Feasibility of an Android-Based Digital Assessment Tool for Post Stroke Visual Disorders-The StrokeVision App. Front Neurol. 2018;9:146. doi: 10.3389/fneur.2018.00146 Crossref.

24. Roberts PS, Wertheimer J, Ouellette D, Hreha K, et al. Feasibility and clinician perspectives of the visual symptoms and signs screen: a multisite pilot study. Top Geriatr Rehabil. 2024;40:69–76. Crossref.

25. Hepworth LR, Rowe FJ. Programme choice for perimetry in neurological conditions (PoPiN): a systematic review of perimetry options and patterns of visual field loss. BMC Ophthalmol. 2018;18:241. doi: 10.1186/s12886-018-0912-1 Crossref.

26. Gandhi DBC, Sebastian IA, Bhanot K. Rehabilitation of post stroke sensory dysfunction—a scoping review. J Stroke Med. 2021;4:25–33. doi: 10.1177/2516608520984296 Crossref.

27. Meyer S, Karttunen AH, Thijs V, Feys H, Verheyden G. How do somatosensory deficits in the arm and hand relate to upper limb impairment, activity, and participation problems after stroke? A systematic review. Phys Ther. 2014;94:1220–1231. doi: 10.2522/ptj.20130271 Crossref.

28. Paul AP, Nayak K, Sydnor LC, Kalantaryardebily N, Parcetich KM, Miner DG, Wafford QE, Sullivan JE, Gurari N. A scoping review on examination approaches for identifying tactile deficits at the upper extremity in individuals with stroke. J Neuroeng Rehabil. 2024;21:99. doi: 10.1186/s12984-024-01397-8 Crossref.

29. Schön M, Cruz DM, Tomás R, Sotero F, Alves PN, Canhão P. Assessing Taste and Smell Dysfunction in Acute and Chronic Stroke Patients: Insights From an Adapted Bedside Questionnaire. Eur J Neurol. 2025;32:e70089. doi: 10.1111/ene.70089 Crossref.

5. Sensorimotor Impairments and Activities

5.1. Physical Activity

1. Baricich A, Borg MB, Battaglia M, Facciorusso S, Spina S, Invernizzi M, Scotti L, Cosenza L, Picelli A, Santamato A. High-Intensity Exercise Training Impact on Cardiorespiratory Fitness, Gait Ability, and Balance in Stroke Survivors: A Systematic Review and Meta-Analysis. J Clin Med. 2024;13:5498. doi: 10.3390/jcm13185498 Crossref.

2. Kono Y, Yamada S, Yamaguchi J, Hagiwara Y, Iritani N, Ishida S, Araki A, Hasegawa Y, Sakakibara H, Koike Y. Secondary prevention of new vascular events with lifestyle intervention in patients with noncardioembolic mild ischemic stroke: a single-center randomized controlled trial. Cerebrovasc Dis. 2013;36:88–97. doi: 10.1159/000352052 Crossref. PubMed.

3. Liu Y, Jiang M, Pan X, Geng J. Effects of exercise on mobility, balance and gait in patients with the chronic stroke: a systematic review and meta-analysis. Sci Rep. 2025;15:24158. doi: 10.1038/s41598-025-09458-1 Crossref.

4. Nindorera F, Nduwimana I, Thonnard JL, Kossi O. Effectiveness of walking training on balance, motor functions, activity, participation and quality of life in people with chronic stroke: a systematic review with meta-analysis and meta-regression of recent randomized controlled trials. Disabil Rehabil. 2022;44:3760–3771. doi: 10.1080/09638288.2021.1894247 Crossref.

5. Pogrebnoy D, Dennett A. Exercise Programs Delivered According to Guidelines Improve Mobility in People With Stroke: A Systematic Review and Meta-analysis. Arch Phys Med Rehabil. 2020;101:154–165. doi: 10.1016/j.apmr.2019.06.015 Crossref. PubMed.

6. Saunders DH, Sanderson M, Hayes S, Johnson L, Kramer S, Carter DD, Jarvis H, Brazzelli M, Mead GE. Physical fitness training for stroke patients. Cochrane Database Syst Rev. 2020;3:CD003316. doi: 10.1002/14651858.CD003316.pub7 Crossref. PubMed.

7. Turan TN, Nizam A, Lynn MJ, Egan BM, Le N-A, Lopes-Virella MF, Hermayer KL, Harrell J, Derdeyn CP, Fiorella D, et al. Relationship between risk factor control and vascular events in the SAMMPRIS trial. Neurology. 2017;88:379–385. doi: 10.1212/WNL.0000000000003534 Crossref. PubMed.

8. Deijle IA, Jonkers IM, Hooghiemstra AM, Engels G, Twisk JWR, Weinstein HC, Van Schaik SM, Van den Berg-Vos RM. Effects of a 1 year aerobic and strength training on cognitive functioning after transient ischemic attack or minor stroke: A randomized controlled trial. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2024;33:107441. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2023.107441 Crossref.

9. Gjellesvik TI, Becker F, Tjonna AE, Indredavik B, Lundgaard E, Solbakken H, Brurok B, Tørhaug T, Lydersen S, Askim T. Effects of High-Intensity Interval Training After Stroke (The HIIT Stroke Study) on Physical and Cognitive Function: A Multicenter Randomized Controlled Trial. Arch Phys Med Rehabil. 2021;102:1683–1691. doi: 10.1016/j.apmr.2021.05.008 Crossref.

10. Li G, Tao X, Lei B, Hou X, Yang X, Wang L, Zhang S, Lv Y, Wang T, Yu L. Effects of exercise on post-stroke cognitive function: a systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials. Top Stroke Rehabil. 2024;31:645–666. doi: 10.1080/10749357.2024.2356393 Crossref.

11. Li Z, Guo H, Yuan Y, Liu X. The effect of moderate and vigorous aerobic exercise training on the cognitive and walking ability among stroke patients during different periods: A systematic review and meta-analysis. PLoS One. 2024;19:e0298339. doi: 10.1371/journal.pone.0298339 Crossref.

12. Liu-Ambrose T, Best JR, Davis JC, Eng JJ, Lee PE, Jacova C, Boyd LA, Brasher PM, Munkacsy M, Cheung W, et al. Aerobic exercise and vascular cognitive impairment: A randomized controlled trial. Neurology. 2016;87:2082–2090. doi: 10.1212/WNL.0000000000003332 Crossref.

13. Liu-Ambrose T, Falck RS, Dao E, Best JR, Davis JC, Bennett K, Hall PA, Hsiung GR, Middleton LE, Goldsmith CH, et al. Effect of Exercise Training or Complex Mental and Social Activities on Cognitive Function in Adults With Chronic Stroke: A Randomized Clinical Trial. JAMA Netw Open. 2022;5:e2236510. doi: 10.1001/jamanetworkopen.2022.36510 Crossref.

14. Peters S, Lohse KR, Klassen TD, Liu-Ambrose T, Dukelow SP, Bayley MT, Hill MD, Pooyania S, Yao J, Eng JJ. Higher intensity walking improves global cognition during inpatient rehabilitation: a secondary analysis of a randomized control trial. Front Neurol. 2023;14:1023488. doi: 10.3389/fneur.2023.1023488 Crossref.

15. Yang Z, Qin S, Li J, Li C, Lu Y, He P, Liu J, Pei L. The effect of exercise interventions on reducing the risk of depressive and cognitive disorders in post-stroke-a systematic review and meta-analysis. Front Neurol. 2025;16:1564347. doi: 10.3389/fneur.2025.1564347 Crossref.

16. Ashizawa R, Honda H, Take K, Yoshizawa K, Ooba Y, Kameyama Y, Yoshimoto Y. Approaches to Promote Reduction in Sedentary Behavior in Patients With Minor Ischemic Stroke: A Randomized Controlled Trial. Arch Phys Med Rehabil. 2022;103:255–262.e4. doi: 10.1016/j.apmr.2021.08.019 Crossref.

17. Brauer SG, Kuys SS, Ada L, Paratz JD. IMproving Physical ACtivity after stroke via Treadmill training (IMPACT) and self-management: A randomized trial. Int J Stroke. 2022;17:1137–1144. doi: 10.1177/17474930221078121 Crossref.

18. Goncalves S, Le Bourvellec M, Mandigout S, Duclos NC. Impact of Active Physiotherapy on Physical Activity Level in Stroke Survivors: A Systematic Review and Meta-Analysis. Stroke. 2023;54:3097–3106. doi: 10.1161/STROKEAHA.123.043629 Crossref. PubMed.

19. Oliveira SG, Ribeiro JAM, Silva ESM, Uliam NR, Silveira AF, Araújo PN, Camargo AI, Urruchia VRR, Nogueira SL, Russo TL. Interventions to Change Movement Behaviors After Stroke: A Systematic Review and Meta-analysis. Arch Phys Med Rehabil. 2024;105:381–410. doi: 10.1016/j.apmr.2023.07.011 Crossref.

20. Saunders DH, Mead GE, Fitzsimons C, Kelly P, van Wijck F, Verschuren O, Backx K, English C. Interventions for reducing sedentary behaviour in people with stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2021;6:CD012996. doi: 10.1002/14651858.CD012996.pub2 Crossref.

21. Thompson ED, Pohlig RT, McCartney KM, Hornby TG, Kasner SE, Raser-Schramm J, Miller AE, Henderson CE, Wright H, Wright T, et al. Increasing Activity After Stroke: A Randomized Controlled Trial of High-Intensity Walking and Step Activity Intervention. Stroke. 2024;55:5–13. doi: 10.1161/strokeaha.123.044596 Crossref. PubMed.

22. Wang SCY, Kassavou A. Digital Health Behavioural Interventions to Support Physical Activity and Sedentary Behaviour in Adults after Stroke: A Systematic Literature Review with Meta-Analysis of Controlled Trials. Behav Sci (Basel). 2023;13:62. doi: 10.3390/bs13010062 Crossref.

23. Fini NA, Simpson D, Moore SA, Mahendran N, Eng JJ, Borschmann K, Moulaee Conradsson D, Chastin S, Churilov L, English C. How should we measure physical activity after stroke? An international consensus. Int J Stroke. 2023;18:1132–1142. doi: 10.1177/17474930231184108 Crossref.

24. Fini NA, Holland AE, Keating J, Simek J, Bernhardt J. How Physically Active Are People Following Stroke? Systematic Review and Quantitative Synthesis. Phys Ther. 2017;97:707–717. doi: 10.1093/ptj/pzx038 Crossref. PubMed.

25. Billinger SA, Coughenour E, Mackay-Lyons MJ, Ivey FM. Reduced cardiorespiratory fitness after stroke: biological consequences and exercise-induced adaptations. Stroke Res Treat. 2012;2012:959120. doi: 10.1155/2012/959120 Crossref. PubMed.

26. Leifheit EC, Wang Y, Goldstein LB, Lichtman JH. Trends in 1-Year Recurrent Ischemic Stroke in the US Medicare Fee-for-Service Population. Stroke. 2022;53:3338–3347. doi: 10.1161/STROKEAHA.122.039438 Crossref. PubMed.

27. Billinger SA, Arena R, Bernhardt J, Eng JJ, Franklin BA, Johnson CM, MacKay-Lyons M, Macko RF, Mead GE, Roth EJ, et al; American Heart Association Stroke Council. Physical activity and exercise recommendations for stroke survivors: a statement for healthcare professionals from the American Heart Association/American Stroke Association. Stroke. 2014;45:2532–2553. doi: 10.1161/STR.0000000000000022 Crossref. PubMed.

28. MacKay-Lyons M, Billinger SA, Eng JJ, Dromerick A, Giacomantonio N, Hafer-Macko C, Macko R, Nguyen E, Prior P, Suskin N, et al. Aerobic Exercise Recommendations to Optimize Best Practices in Care After Stroke: AEROBICS 2019 Update. Phys Ther. 2020;100:149–156. doi: 10.1093/ptj/pzz153 Crossref. PubMed.

29. Wang C, Redgrave J, Shafizadeh M, Majid A, Kilner K, Ali AN. Aerobic exercise interventions reduce blood pressure in patients after stroke or transient ischaemic attack: a systematic review and meta-analysis. Br J Sports Med. 2019;53:1515–1525. doi: 10.1136/bjsports-2017-098903 Crossref.

30. Deijle IA, Van Schaik SM, Van Wegen EE, Weinstein HC, Kwakkel G, Van den Berg-Vos RM. Lifestyle Interventions to Prevent Cardiovascular Events After Stroke and Transient Ischemic Attack: Systematic Review and Meta-Analysis. Stroke. 2017;48:174–179. doi: 10.1161/STROKEAHA.116.013794 Crossref. PubMed.

31. AVERT Trial Collaboration Group. Efficacy and safety of very early mobilisation within 24 h of stroke onset (AVERT): a randomised controlled trial. Lancet. 2015;386:46–55. doi: 10.1016/S0140-6736(15)60690-0 Crossref. PubMed.

32. Joundi RA, Fang J, Austin PC, Smith EE, Yu AYX, Hachinski V, Sposato LA, Ganesh A, Sharma M, Kapral MK. Magnitude and Time-Course of Dementia Risk in Stroke Survivors: A Population-Wide Matched Cohort Study. Neurology. 2025;104:e213478. doi: 10.1212/WNL.0000000000213478 Crossref.

33. Cheon DY, Han KD, Kim CH, Oh MS, Lee B-C, Kim Y, Lee S-H, Kim C, Lim J-S, Lee M, et al. Association between exercise habit changes and incident dementia after ischemic stroke. Sci Rep. 2023;13:3959. doi: 10.1038/s41598-023-31229-z Crossref.

34. Ye Y, Wu K, Xu F, Li H, Li X, Hu P, Cheng H. Effects of exercise on patients with vascular cognitive impairment based on ACSM recommendations: a systematic review of randomized controlled trials. J Neurol. 2024;272:31. doi: 10.1007/s00415-024-12830-2 Crossref.

35. World Health Organization. Guidelines on physical activity and sedentary behaviour. Geneva: World Health Organization, 2020. Accessed August 25, 2025. https://www.who.int/publications/i/item/9789240015128

36. Fini NA, Bernhardt J, Said CM, Billinger SA. How to Address Physical Activity Participation After Stroke in Research and Clinical Practice. Stroke. 2021;52:e274–e277. doi: 10.1161/STROKEAHA.121.034557 Crossref. PubMed.

37. Wang Y, Nie J, Ferrari G, Rey-Lopez JP, Rezende LFM. Association of Physical Activity Intensity With Mortality: A National Cohort Study of 403 681 US Adults. JAMA Intern Med. 2021;181:203–211. doi: 10.1001/jamainternmed.2020.6331 Crossref. PubMed.

38. Klassen TD, Semrau JA, Dukelow SP, Bayley MT, Hill MD, Eng JJ. Consumer-Based Physical Activity Monitor as a Practical Way to Measure Walking Intensity During Inpatient Stroke Rehabilitation. Stroke. 2017;48:2614–2617. doi: 10.1161/STROKEAHA.117.018175 Crossref. PubMed.

5.2. Limb Apraxia

1. Alashram AR, Annino G, Aldajah S, Raju M, Padua E. Rehabilitation of limb apraxia in patients following stroke: A systematic review. Appl Neuropsychol Adult. 2022;29:1658–1668. doi: 10.1080/23279095.2021.1900188 Crossref.

2. Howe J, Chua W, Sumner E, Drozdowska B, Laverick R, Bevins RL, Jean-Baptiste E, Russell M, Rotshtein P, Wing AM. The efficacy of a task model approach to ADL rehabilitation in stroke apraxia and action disorganisation syndrome: A randomised controlled trial. PLoS One. 2022;17:e0264678. doi: 10.1371/journal.pone.0264678 Crossref.

3. Ji EK, Kwon JS. Effects of limb apraxia intervention in patients with stroke: A meta-analysis of randomized controlled trials. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2023;32:106921. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2022.106921 Crossref.

4. Purcell S, Galvin R, Coughlan A, O'Connor M, O'Neill A, Robinson K. Interventions to improve the occupational performance of people with post stroke upper limb apraxia - A systematic review and meta-analysis. Br J Occup Ther. 2024;87:67–78. doi: 10.1177/03080226231201738 Crossref.

5. Roberts PS, Wertheimer J, Ouellette D, Hreha K, Watters K, Fielder J, Graf MJP, Weden KM, Rizzo JR. Feasibility and clinician perspectives of the visual symptoms and signs screen: a multisite pilot study. Topics Geriatr Rehabil. 2024;40:69–76. doi: 10.1097/tgr.0000000000000424 Crossref.

6. Aguilar-Ferrandiz ME, Toledano-Moreno S, Garcia-Rios MC, Tapia-Haro RM, Barrero-Hernández FJ, Casas-Barragán A, Pérez-Mármol JM. Effectiveness of a Functional Rehabilitation Program for Upper Limb Apraxia in Poststroke Patients: A Randomized Controlled Trial. Arch Phys Med Rehabil. 2021;102:940–950. doi: 10.1016/j.apmr.2020.12.015 Crossref.

7. De Luca R, Gangemi A, Maggio MG, Bonanno M, Calderone A, Mazzurco Masi VM, Rifici C, Cappadona I, Pagano M, Cardile D, et al. Effects of Virtual Rehabilitation Training on Post-Stroke Executive and Praxis Skills and Depression Symptoms: A Quasi-Randomised Clinical Trial. Diagnostics (Basel). 2024;14:1892. doi: 10.3390/diagnostics14171892 Crossref.

8. Dovern A, Fink GR, Weiss PH. Diagnosis and treatment of upper limb apraxia. J Neurol. 2012;259:1269–1283. doi: 10.1007/s00415-011-6336-y Crossref. PubMed.

9. Wang J, Wei J, Chen M, Gao L, Liao X. Validation of Chinese version of the familiar tools use test for assessing limb apraxia in stroke patients. Front Neurol. 2025;16:1578179. doi: 10.3389/fneur.2025.1578179 Crossref.

10. Stoll SEM, Finkel L, Buchmann I, Hassa T, Spiteri S, Liepert J, Randerath J. 100 years after Liepmann-Lesion correlates of diminished selection and application of familiar versus novel tools. Cortex. 2022;146:1–23. doi: 10.1016/j.cortex.2021.10.002 Crossref.

11. Blijlevens H, Hocking C, Paddy A. Rehabilitation of adults with dyspraxia: health professionals learning from patients. Disabil Rehabil. 2009;31:466–475. doi: 10.1080/09638280802131093 Crossref. PubMed.

12. Sanchez-Bermejo L, Milla-Ortega PJ, Perez-Marmol JM. Upper Limb Apraxia Is Related to Role Participation Among Patients With Mild to Moderate Stroke. Am J Occup Ther. 2025;79:7904205170. doi: 10.5014/ajot.2025.050865 Crossref.

13. Metaireau M, Osiurak F, Seye A, Lesourd M. The neural correlates of limb apraxia: An anatomical likelihood estimation meta-analysis of lesion-symptom mapping studies in brain-damaged patients. Neurosci Biobehav Rev. 2024;162:105720. doi: 10.1016/j.neubiorev.2024.105720 Crossref.

14. Bolognini N, Convento S, Banco E, Mattioli F, Tesio L, Vallar G. Improving ideomotor limb apraxia by electrical stimulation of the left posterior parietal cortex. Brain. 2015;138:428–439. doi: 10.1093/brain/awu343 Crossref.

15. Pastore-Wapp M, Gyurko DM, Vanbellingen T, Lehnick D, Cazzoli D, Pflugshaupt T, Pflugi S, Nyffeler T, Walther S, Bohlhalter S. Improved gesturing in left-hemispheric stroke by right inferior parietal theta burst stimulation. Front Neurosci. 2022;16:998729. doi: 10.3389/fnins.2022.998729 Crossref.

5.3. Management of Spasticity

1. Abo M, Shigematsu T, Hara H, Matsuda Y, Nimura A, Yamashita Y, Takahashi K. Efficacy and Safety of OnabotulinumtoxinA 400 Units in Patients with Post-Stroke Upper Limb Spasticity: Final Report of a Randomized, Double-Blind, Placebo-Controlled Trial with an Open-Label Extension Phase. Toxins (Basel). 2020;12:127. doi: 10.3390/toxins12020127 Crossref.

2. Elovic EP, Munin MC, Kaňovský P, Hanschmann A, Hiersemenzel R, Marciniak C. Randomized, placebo-controlled trial of incobotulinumtoxina for upper-limb post-stroke spasticity. Muscle Nerve. 2016;53:415–421. doi: 10.1002/mus.24776 Crossref.

3. Gracies JM, Brashear A, Jech R, McAllister P, Banach M, Valkovic P, Walker H, Marciniak C, Deltombe T, Skoromets A, et al; International AbobotulinumtoxinA Adult Upper Limb Spasticity Study Group. Safety and efficacy of abobotulinumtoxinA for hemiparesis in adults with upper limb spasticity after stroke or traumatic brain injury: a double-blind randomised controlled trial. Lancet Neurol. 2015;14:992–1001. doi: 10.1016/S1474-4422(15)00216-1 Crossref.

4. Masakado Y, Abo M, Kondo K, Saeki S, Saitoh E, Dekundy A, Hanschmann A, Kaji R; J-PURE Study Group. Efficacy and safety of incobotulinumtoxinA in post-stroke upper-limb spasticity in Japanese subjects: results from a randomized, double-blind, placebo-controlled study (J-PURE). J Neurol. 2020;267:2029–2041. doi: 10.1007/s00415-020-09777-5 Crossref.

5. Sun LC, Chen R, Fu C, Chen Y, Wu Q, Chen RP, Lin XJ, Luo S. Efficacy and Safety of Botulinum Toxin Type A for Limb Spasticity after Stroke: A Meta-Analysis of Randomized Controlled Trials. Biomed Res Int. 2019;2019:8329306. doi: 10.1155/2019/8329306 Crossref.

6. Gracies JM, Esquenazi A, Brashear A, Banach M, Kocer S, Jech R, Khatkova S, Benetin J, Vecchio M, McAllister P, et al; International AbobotulinumtoxinA Adult Lower Limb Spasticity Study Group. Efficacy and safety of abobotulinumtoxinA in spastic lower limb: Randomized trial and extension. Neurology. 2017;89:2245–2253. doi: 10.1212/WNL.0000000000004687 Crossref.

7. Patel AT, Ward AB, Geis C, Jost WH, Liu C, Dimitrova R. Impact of early intervention with onabotulinumtoxinA treatment in adult patients with post-stroke lower limb spasticity: results from the double-blind, placebo-controlled, phase 3 REFLEX study. J Neural Transm (Vienna). 2020;127:1619–1629. doi: 10.1007/s00702-020-02251-6 Crossref.

8. Wein T, Esquenazi A, Jost WH, Ward AB, Pan G, Dimitrova R. OnabotulinumtoxinA for the Treatment of Poststroke Distal Lower Limb Spasticity: A Randomized Trial. PM R. 2018;10:693–703. doi: 10.1016/j.pmrj.2017.12.006 Crossref.

9. Asimakidou E, Sidiropoulos C. A Bayesian Network Meta-Analysis and Systematic Review of Guidance Techniques in Botulinum Toxin Injections and Their Hierarchy in the Treatment of Limb Spasticity. Toxins (Basel). 2023;15:256. doi: 10.3390/toxins15040256 Crossref.

10. Grigoriu AI, Dinomais M, Rémy-Néris O, Brochard S. Impact of Injection-Guiding Techniques on the Effectiveness of Botulinum Toxin for the Treatment of Focal Spasticity and Dystonia: A Systematic Review. Arch Phys Med Rehabil. 2015;96:2067–2078. doi: 10.1016/j.apmr.2015.05.002 Crossref.

11. United Kingdom Tizanidine Trial Group. A double-blind, placebo-controlled trial of tizanidine in the treatment of spasticity caused by multiple sclerosis. Neurology. 1994;44:S70–S78.

12. Ertzgaard P, Campo C, Calabrese A. Efficacy and safety of oral baclofen in the management of spasticity: A rationale for intrathecal baclofen. J Rehabil Med. 2017;49:193–203. doi: 10.2340/16501977-2211 Crossref.

13. Gelber DA, Good DC, Dromerick A, Sergay S, Richardson M. Open-label dose-titration safety and efficacy study of tizanidine hydrochloride in the treatment of spasticity associated with chronic stroke. Stroke. 2001;32:1841–1846. doi: 10.1161/01.str.32.8.1841 Crossref. PubMed.

14. Meythaler JM, Guin-Renfroe S, Johnson A, Brunner RM. Prospective assessment of tizanidine for spasticity due to acquired brain injury. Arch Phys Med Rehabil. 2001;82:1155–1163. doi: 10.1053/apmr.2001.25141 Crossref. PubMed.

15. Creamer M, Cloud G, Kossmehl P, Yochelson M, Francisco GE, Ward AB, Wissel J, Zampolini M, Abouihia A, Berthuy N, et al. Intrathecal baclofen therapy versus conventional medical management for severe poststroke spasticity: results from a multicentre, randomised, controlled, open-label trial (SISTERS). J Neurol Neurosurg Psychiatry. 2018;89:642–650. doi: 10.1136/jnnp-2017-317021 Crossref. PubMed.

16. Creamer M, Cloud G, Kossmehl P, Yochelson M, Francisco GE, Ward AB, Wissel J, Zampolini M, Abouihia A, Calabrese A, et al. Effect of Intrathecal Baclofen on Pain and Quality of Life in Poststroke Spasticity. Stroke. 2018;49:2129–2137. doi: 10.1161/STROKEAHA.118.022255 Crossref. PubMed.

17. Jacobs NW, Maas EM, Brusse-Keizer M, Rietman HJS. Effectiveness and safety of cervical catheter tip placement in intrathecal baclofen treatment of spasticity: A systematic review. J Rehabil Med. 2021;53:jrm00215. doi: 10.2340/16501977-2857 Crossref.

18. Alashram AR, Padua E, Romagnoli C, Annino G. Effectiveness of focal muscle vibration on hemiplegic upper extremity spasticity in individuals with stroke: A systematic review. NeuroRehabilitation. 2019;45:471–481. doi: 10.3233/NRE-192863 Crossref.

19. Avvantaggiato C, Casale R, Cinone N, Facciorusso S, Turitto A, Stuppiello L, Picelli A, Ranieri M, Intiso D, Fiore P, et al. Localized muscle vibration in the treatment of motor impairment and spasticity in post-stroke patients: a systematic review. Eur J Phys Rehabil Med. 2021;57:44–60. doi: 10.23736/S1973-9087.20.06390-X Crossref.

20. Stein C, Fritsch CG, Robinson C, Sbruzzi G, Plentz RDM. Effects of Electrical Stimulation in Spastic Muscles After Stroke: Systematic Review and Meta-Analysis of Randomized Controlled Trials. Stroke. 2015;46:2197–2205. doi: 10.1161/STROKEAHA.115.009633 Crossref.

21. Zeng D, Lei W, Kong Y, Ma F, Zhao K, Ye X, Tan T. Effects of vibration therapy for post-stroke spasticity: a systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials. Biomed Eng Online. 2023;22:121. doi: 10.1186/s12938-023-01176-x Crossref.

22. Kerr L, Jewell VD, Jensen L. Stretching and Splinting Interventions for Poststroke Spasticity, Hand Function, and Functional Tasks: A Systematic Review. Am J Occup Ther. 2020;74:7405205050p1–7405205050p15. doi: 10.5014/ajot.2020.029454 Crossref.

23. Li S, Francisco GE, Rymer WZ. A New Definition of Poststroke Spasticity and the Interference of Spasticity With Motor Recovery From Acute to Chronic Stages. Neurorehabil Neural Repair. 2021;35:601–610. doi: 10.1177/15459683211011214 Crossref.

24. Opheim A, Danielsson A, Alt Murphy M, Persson HC, Sunnerhagen KS. Upper-limb spasticity during the first year after stroke: stroke arm longitudinal study at the University of Gothenburg. Am J Phys Med Rehabil. 2014;93:884–896. doi: 10.1097/PHM.0000000000000157 Crossref.

25. Zeng H, Chen J, Guo Y, Tan S. Prevalence and Risk Factors for Spasticity After Stroke: A Systematic Review and Meta-Analysis. Front Neurol. 2020;11:616097. doi: 10.3389/fneur.2020.616097 Crossref. PubMed.

26. Lance JL. Symposium synopsis. In: Feldman RG, Young RR, Koella WP, eds. Spasticity: Disordered Motor Control. Year Book Medical Publishers; 1980:485–494.

27. Liao LY, Xu PD, Fang XQ, Wang Q-H, Tao Y, Cheng H, Gao C-Y. Prevalence and clinical predictors of spasticity after intracerebral hemorrhage. Brain Behav. 2023;13:e2906. doi: 10.1002/brb3.2906 Crossref.

28. Zhu C, Li L, Qiu L, Ji G. Risk factors for post-stroke spasticity: a retrospective study. Front Neurol. 2024;15:1478206. doi: 10.3389/fneur.2024.1478206 Crossref.

29. McPherson LM, Dewald JPA. Abnormal synergies and associated reactions post-hemiparetic stroke reflect muscle activation patterns of brainstem motor pathways. Front Neurol. 2022;13:934670. doi: 10.3389/fneur.2022.934670 Crossref.

30. Lannin NA, Ada L, English C, Ratcliffe J, Faux SG, Palit M, Gonzalez S, Olver J, Cameron I, Crotty M; InTENSE Trial Group. Effect of Additional Rehabilitation After Botulinum Toxin-A on Upper Limb Activity in Chronic Stroke: The InTENSE Trial. Stroke. 2020;51:556–562. doi: 10.1161/STROKEAHA.119.027602 Crossref.

31. Marciniak C, McAllister P, Walker H, Brashear A, Edgley S, Deltombe T, Khatkova S, Banach M, Gul F, Vilain C, et al; International AbobotulinumtoxinA Adult Upper Limb Spasticity Study Group. Efficacy and Safety of AbobotulinumtoxinA (Dysport) for the Treatment of Hemiparesis in Adults With Upper Limb Spasticity Previously Treated With Botulinum Toxin: Subanalysis From a Phase 3 Randomized Controlled Trial. PM R. 2017;9:1181–1190. doi: 10.1016/j.pmrj.2017.06.007 Crossref.

32. Marciniak C, Munin MC, Brashear A, Rubin BS, Patel AT, Slawek J, Hanschmann A, Hiersemenzel R, Elovic EP. IncobotulinumtoxinA Treatment in Upper-Limb Poststroke Spasticity in the Open-Label Extension Period of PURE: Efficacy in Passive Function, Caregiver Burden, and Quality of Life. PM R. 2020;12:491–499. doi: 10.1002/pmrj.12265 Crossref.

33. O’Dell MW, Brashear A, Jech R, Lejeune T, Marque P, Bensmail D, Ayyoub Z, Simpson DM, Volteau M, Vilain C, et al. Dose-Dependent Effects of AbobotulinumtoxinA (Dysport) on Spasticity and Active Movements in Adults With Upper Limb Spasticity: Secondary Analysis of a Phase 3 Study. PM R. 2018;10:1–10. doi: 10.1016/j.pmrj.2017.06.008 Crossref.

34. Wissel J, Bensmail D, Ferreira JJ, Molteni F, Satkunam L, Moraleda S, Rekand T, McGuire J, Scheschonka A, Flatau-Baqué B, et al; TOWER study investigators. Safety and efficacy of incobotulinumtoxinA doses up to 800 U in limb spasticity: The TOWER study. Neurology. 2017;88:1321–1328. doi: 10.1212/WNL.0000000000003789 Crossref.

35. Errea Rodríguez M, Fernández M, Del Llano J, Nuño-Solinís R. Systematic review and cost-effectiveness analysis of the treatment of post-stroke spasticity with abobotulinumtoxinA compared to physiotherapy. Farm Hosp. 2023;47:201–209. doi: 10.1016/j.farma.2023.04.006 Crossref.

36. Ward AB, Wissel J, Borg J, Ertzgaard P, Herrmann C, Kulkarni J, Lindgren K, Reuter I, Sakel M, Säterö P, et al; BEST Study Group. Functional goal achievement in post-stroke spasticity patients: the BOTOX® Economic Spasticity Trial (BEST). J Rehabil Med. 2014;46:504–513. doi: 10.2340/16501977-1817 Crossref.

37. Lindsay C, Ispoglou S, Helliwell B, Hicklin D, Sturman S, Pandyan A. Can the early use of botulinum toxin in post stroke spasticity reduce contracture development? A randomised controlled trial. Clin Rehabil. 2021;35:399–409. doi: 10.1177/0269215520963855 Crossref.

38. Cabanas-Valdés R, Serra-Llobet P, Rodriguez-Rubio PR, López-de-Celis C, Llauró-Fores M, Calvo-Sanz J. The effectiveness of extracorporeal shock wave therapy for improving upper limb spasticity and functionality in stroke patients: a systematic review and meta-analysis. Clin Rehabil. 2020;34:1141–1156. doi: 10.1177/0269215520932196 Crossref.

39. Fan T, Chen R, Wei M, Zhou X, Zheng P, Zhou J, He P, Zhan X, Xie J, Li R, et al. Effects of radial extracorporeal shock wave therapy on flexor spasticity of the upper limb in post-stroke patients: A randomized controlled trial. Clin Rehabil. 2024;38:1200–1213. doi: 10.1177/02692155241258740 Crossref.

40. Liu W, Zhang S. Extracorporeal Shock Wave Therapy for Limb Dysfunction After Stroke: A Systematic Review and Meta-analysis. Am J Phys Med Rehabil. 2025;104:654–662. doi: 10.1097/PHM.0000000000002694 Crossref.

41. Chen Y, Wei QC, Zhang MZ, Xie Y-J, Liao L-Y, Tan H-X, Guo Q-F, Gao Q. Cerebellar Intermittent Theta-Burst Stimulation Reduces Upper Limb Spasticity After Subacute Stroke: A Randomized Controlled Trial. Front Neural Circuits. 2021;15:655502. doi: 10.3389/fncir.2021.655502 Crossref.

42. Elsner B, Kugler J, Pohl M, Mehrholz J. Transcranial direct current stimulation for improving spasticity after stroke: A systematic review with meta-analysis. J Rehabil Med. 2016;48:565–570. doi: 10.2340/16501977-2097 Crossref.

43. Gottlieb A, Boltzmann M, Schmidt SB, Gutenbrunner C, Krauss JK, Stangel M, Höglinger GU, Wallesch C-W, Rollnik JD. Treatment of upper limb spasticity with inhibitory repetitive transcranial magnetic stimulation: A randomized placebo-controlled trial. NeuroRehabilitation. 2021;49:425–434. doi: 10.3233/NRE-210088 Crossref.

44. Huang J, Qu Y, Liu L, Zhao K, Zhao Z. Efficacy and safety of transcranial direct current stimulation for post-stroke spasticity: A meta-analysis of randomised controlled trials. Clin Rehabil. 2022;36:158–171. doi: 10.1177/02692155211038097 Crossref.

45. Kuzu O, Adiguzel E, Kesikburun S, Yaşar E, Yilmaz B. The Effect of Sham Controlled Continuous Theta Burst Stimulation and Low Frequency Repetitive Transcranial Magnetic Stimulation on Upper Extremity Spasticity and Functional Recovery in Chronic Ischemic Stroke Patients. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2021;30:105795. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2021.105795 Crossref.

46. McIntyre A, Mirkowski M, Thompson S, Burhan AM, Miller T, Teasell R. A Systematic Review and Meta-Analysis on the Use of Repetitive Transcranial Magnetic Stimulation for Spasticity Poststroke. PM R. 2018;10:293–302. doi: 10.1016/j.pmrj.2017.10.001 Crossref.

47. Wang Z, Liu Q, Li D, Wei L, Chu E, Bao Y, Liu Z, Jin L, Chen X, Zhao K. Clinical efficacy observation of repetitive magnetic stimulation for treating upper limb spasticity after stroke. Sci Rep. 2025;15:17722. doi: 10.1038/s41598-025-02443-8 Crossref.

48. Andringa A, Meskers C, van de Port I, Zandvliet S, Scholte L, de Groot J, Kwakkel G, van Wegen E. Quantifying neural and non-neural components of wrist hyper-resistance after stroke: Comparing two instrumented assessment methods. Med Eng Phys. 2021;98:57–64. doi: 10.1016/j.medengphy.2021.10.009 Crossref.

49. Schillebeeckx F, Hanssen B, De Beukelaer N, Craenen K, Verheyden G, Peers K, Desloovere K. Validity of spasticity related parameters obtained from manual clinical instrumented assessment in stroke patients. Sci Rep. 2026;16:8368. doi: 10.1038/s41598-026-38551-2 Crossref.

5.4. Balance and Ataxia

1. Tyson SF, Kent RM. Effects of an ankle-foot orthosis on balance and walking after stroke: a systematic review and pooled meta-analysis. Arch Phys Med Rehabil. 2013;94:1377–1385. doi: 10.1016/j.apmr.2012.12.025 Crossref. PubMed.

2. Richards L, Senesac C, McGuirk T, Woodbury M, Howland D, Davis S, Patterson T. Response to intensive upper extremity therapy by individuals with ataxia from stroke. Top Stroke Rehabil. 2008;15:262–271. doi: 10.1310/tsr1503-262 Crossref. PubMed.

3. Stoykov ME, Stojakovich M, Stevens JA. Beneficial effects of postural intervention on prehensile action for an individual with ataxia resulting from brainstem stroke. NeuroRehabilitation. 2005;20:85–89. PubMed.

4. Lyu D, Lyu X, Zhang Y, Ren Y, Yang F, Zhou L, Zou Y, Li Z. Tai Chi for Stroke Rehabilitation: A Systematic Review and Meta-Analysis of Randomized Controlled Trials. Front Physiol. 2018;9:983. doi: 10.3389/fphys.2018.00983 Crossref.

5. Taylor-Piliae RE, Hoke TM, Hepworth JT, Latt LD, Najafi B, Coull BM. Effect of Tai Chi on physical function, fall rates and quality of life among older stroke survivors. Arch Phys Med Rehabil. 2014;95:816–824. doi: 10.1016/j.apmr.2014.01.001 Crossref. PubMed.

6. Wu S, Chen J, Wang S, Jiang M, Wang X, Wen Y. Effect of Tai Chi Exercise on Balance Function of Stroke Patients: A Meta-Analysis. Med Sci Monit Basic Res. 2018;24:210–215. doi: 10.12659/MSMBR.911951 Crossref.

7. Zhang L, Zhang L, Yu X, Zhou H, Ding Y, Wang J. Effect of Tai Chi Yunshou training on the balance and motor functions of stroke patients: a systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials. Front Neurol. 2023;14:1178234. doi: 10.3389/fneur.2023.1178234 Crossref.

8. Ferreira V, Carvas N, Artilheiro MC, Pompeu JE, Hassan SA, Kasawara KT. Interactive Video Gaming Improves Functional Balance in Poststroke Individuals: Meta-Analysis of Randomized Controlled Trials. Eval Health Prof. 2020;43:23–32. doi: 10.1177/0163278718784998 Crossref.

9. Garay-Sanchez A, Suarez-Serrano C, Ferrando-Margeli M, Jimenez-Rejano JJ, Marcén-Román Y. Effects of Immersive and Non-Immersive Virtual Reality on the Static and Dynamic Balance of Stroke Patients: A Systematic Review and Meta-Analysis. J Clin Med. 2021;10:4473. doi: 10.3390/jcm10194473 Crossref.

10. Ghazavi Dozin SM, Mohammad Rahimi N, Aminzadeh R. Wii Fit-Based Biofeedback Rehabilitation Among Post-Stroke Patients: A Systematic Review and Meta-Analysis of Randomized Controlled Trial. Biol Res Nurs. 2024;26:5–20. doi: 10.1177/10998004231180316 Crossref.

11. Gamble K, Chiu A, Peiris C. Core Stability Exercises in Addition to Usual Care Physiotherapy Improve Stability and Balance After Stroke: A Systematic Review and Meta-analysis. Arch Phys Med Rehabil. 2021;102:762–775. doi: 10.1016/j.apmr.2020.09.388 Crossref.

12. Ravichandran H, Sharma HR, Haile TG, Gelaw AY, Gebremeskel BF, Janakiraman B. Effects of trunk exercise with physioball to improve trunk balance among subjects with stroke: a systematic review and meta-analysis. J Exerc Rehabil. 2020;16:313–324. doi: 10.12965/jer.2040292.146 Crossref.

13. Van Criekinge T, Truijen S, Schroder J, Maebe Z, Blanckaert K, van der Waal C, Vink M, Saeys W. The effectiveness of trunk training on trunk control, sitting and standing balance and mobility post-stroke: a systematic review and meta-analysis. Clin Rehabil. 2019;33:992–1002. doi: 10.1177/0269215519830159 Crossref.

14. Yamashita H, Yamaoka T, Shimomura R, Ichimura S, Murata Y, Itoh A, Mima T, Koganemaru S. Therapeutic Intervention for Trunk Control Impairments in Central Nervous System Disorders: A Comprehensive Review of Methods and Efficacy. Prog Rehabil Med. 2025;10:20250002. doi: 10.2490/prm.20250002 Crossref.

15. Saunders DH, Carstairs SA, Cheyne JD, Fileman M, Morris J, Morton S, Wylie G, Mead GE. Combined cardiorespiratory and resistance training for people with stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2025;9:CD016002. doi: 10.1002/14651858.CD016002 Crossref.

16. Davenport RJ, Dennis MS, Wellwood I, Warlow CP. Complications after acute stroke. Stroke. 1996;27:415–420. doi: 10.1161/01.str.27.3.415 Crossref. PubMed.

17. Forster A, Young J. Incidence and consequences of falls due to stroke: a systematic inquiry. BMJ. 1995;311:83–86. doi: 10.1136/bmj.311.6997.83 Crossref. PubMed.

18. Weerdesteyn V, de Niet M, van Duijnhoven HJ, Geurts ACH. Falls in individuals with stroke. J Rehabil Res Dev. 2008;45:1195–1213. Crossref. PubMed.

19. Yiu J, Miller WC, Eng JJ, Liu Y. Longitudinal analysis of balance confidence in individuals with stroke using a multilevel model for change. Neurorehabil Neural Repair. 2012;26:999–1006. doi: 10.1177/1545968312437941 Crossref. PubMed.

20. Eng JJ, Pang MY, Ashe MC. Balance, falls, and bone health: role of exercise in reducing fracture risk after stroke. J Rehabil Res Dev. 2008;45:297–313. doi: 10.1682/jrrd.2007.01.0014 Crossref.

21. Tilson JK, Wu SS, Cen SY, Feng Q, Rose DR, Behrman AL, Azen SP, Duncan PW. Characterizing and identifying risk for falls in the LEAPS study: a randomized clinical trial of interventions to improve walking poststroke. Stroke. 2012;43:446–452. doi: 10.1161/STROKEAHA.111.636258 Crossref. PubMed.

22. Roelofs JMB, Zandvliet SB, Schut IM, Huisinga ACM, Schouten AC, Hendricks HT, de Kam D, Aerden LAM, Bussmann JBJ, Geurts ACH, et al. Mild Stroke, Serious Problems: Limitations in Balance and Gait Capacity and the Impact on Fall Rate, and Physical Activity. Neurorehabil Neural Repair. 2023;37:786–798. doi: 10.1177/15459683231207360 Crossref.

23. Campbell GB, Matthews JT. An integrative review of factors associated with falls during post-stroke rehabilitation. J Nurs Scholarsh. 2010;42:395–404. doi: 10.1111/j.1547-5069.2010.01369.x Crossref. PubMed.

24. Moore JL, Potter K, Blankshain K, Kaplan SL, OʼDwyer LC, Sullivan JE. A Core Set of Outcome Measures for Adults With Neurologic Conditions Undergoing Rehabilitation: A CLINICAL PRACTICE GUIDELINE. J Neurol Phys Ther. 2018;42:174–220. doi: 10.1097/NPT.0000000000000229 Crossref.

25. Pollock C, Eng J, Garland S. Clinical measurement of walking balance in people post stroke: a systematic review. Clin Rehabil. 2011;25:693–708. doi: 10.1177/0269215510397394 Crossref. PubMed.

26. Bastian AJ, Martin TA, Keating JG, Thach WT. Cerebellar ataxia: abnormal control of interaction torques across multiple joints. J Neurophysiol. 1996;76:492–509. doi: 10.1152/jn.1996.76.1.492 Crossref.

27. Chua KS, Kong KH. Functional outcome in brain stem stroke patients after rehabilitation. Arch Phys Med Rehabil. 1996;77:194–197. doi: 10.1016/s0003-9993(96)90167-7 Crossref.

28. Teasell R, Foley N, Doherty T, Finestone H. Clinical characteristics of patients with brainstem strokes admitted to a rehabilitation unit. Arch Phys Med Rehabil. 2002;83:1013–1016. doi: 10.1053/apmr.2002.33102 Crossref.

29. Zimmet AM, Cowan NJ, Bastian AJ. Patients with Cerebellar Ataxia Do Not Benefit from Limb Weights. Cerebellum. 2019;18:128–136. doi: 10.1007/s12311-018-0962-1 Crossref.

30. Yang GY, Wang LQ, Ren J, Zhang Y, Li M-L, Zhu Y-T, Luo J, Cheng Y-J, Li W-Y, Wayne PM, et al. Evidence base of clinical studies on Tai Chi: a bibliometric analysis. PLoS One. 2015;10:e0120655. doi: 10.1371/journal.pone.0120655 Crossref.

31. Hart J, Kanner H, Gilboa-Mayo R, Haroeh-Peer O, Rozenthul-Sorokin N, Eldar R. Tai Chi Chuan practice in community-dwelling persons after stroke. Int J Rehabil Res. 2004;27:303–304. doi: 10.1097/00004356-200412000-00008 Crossref.

32. Taylor-Piliae RE, Haskell WL. Tai Chi exercise and stroke rehabilitation. Top Stroke Rehabil. 2007;14:9–22. doi: 10.1310/tsr1404-9 Crossref.

33. Fung J, Richards CL, Malouin F, McFadyen BJ, Lamontagne A. A treadmill and motion coupled virtual reality system for gait training post-stroke. Cyberpsychol Behav. 2006;9:157–162. doi: 10.1089/cpb.2006.9.157 Crossref.

34. Imam B, Jarus T. Virtual reality rehabilitation from social cognitive and motor learning theoretical perspectives in stroke population. Rehabil Res Pract. 2014;2014:594540. doi: 10.1155/2014/594540 Crossref.

35. Saposnik G, Levin M; Outcome Research Canada (SORCan) Working Group. Virtual reality in stroke rehabilitation: a meta-analysis and implications for clinicians. Stroke. 2011;42:1380–1386. doi: 10.1161/STROKEAHA.110.605451 Crossref. PubMed.

36. You SH, Jang SH, Kim YH, Hallett M, Ahn SH, Kwon Y-H, Kim JH, Lee MY. Virtual reality-induced cortical reorganization and associated locomotor recovery in chronic stroke: an experimenter-blind randomized study. Stroke. 2005;36:1166–1171. doi: 10.1161/01.STR.0000162715.43417.91 Crossref.

37. Modrono C, Navarrete G, Rodriguez-Hernandez AF, González-Mora JL. Activation of the human mirror neuron system during the observation of the manipulation of virtual tools in the absence of a visible effector limb. Neurosci Lett. 2013;555:220–224. doi: 10.1016/j.neulet.2013.09.044 Crossref.

38. Levin MF, Demers M. Motor learning in neurological rehabilitation. Disabil Rehabil. 2021;43:3445–3453. doi: 10.1080/09638288.2020.1752317 Crossref.

39. Soares M, Santos J, Costa F, Melo L. Wii rehabilitation and neurological physiotherapy: A systematic review. RNC. 2015;23:81–88. doi: 10.4181/rnc.2015.23.01.982.8p Crossref.

40. Karssemeijer EGA, Bossers WJR, Aaronson JA, Sanders LMJ, Kessels RPC, Olde Rikkert MGM. Exergaming as a Physical Exercise Strategy Reduces Frailty in People With Dementia: A Randomized Controlled Trial. J Am Med Dir Assoc. 2019;20:1502–1508.e1. doi: 10.1016/j.jamda.2019.06.026 Crossref.

41. Burdea G. Virtual Rehabilitation - Benefits and Challenges. Yearb Med Inform. 2003;12:170–176. doi: 10.1055/s-0038-1638156 Crossref.

42. Demers M, Fung K, Subramanian SK, Lemay M, Robert MT. Integration of Motor Learning Principles Into Virtual Reality Interventions for Individuals With Cerebral Palsy: Systematic Review. JMIR Serious Games. 2021;9:e23822. doi: 10.2196/23822 Crossref.

43. Dickstein R, Shefi S, Marcovitz E, Villa Y. Anticipatory postural adjustment in selected trunk muscles in post stroke hemiparetic patients. Arch Phys Med Rehabil. 2004;85:261–267. doi: 10.1016/j.apmr.2003.05.011 Crossref.

44. Verheyden G, Vereeck L, Truijen S, Troch M, Herregodts I, Lafosse C, Nieuwboer A, De Weerdt W. Trunk performance after stroke and the relationship with balance, gait and functional ability. Clin Rehabil. 2006;20:451–458. doi: 10.1191/0269215505cr955oa Crossref.

45. Di Monaco M, Trucco M, Di Monaco R, Tappero R, Cavanna A. The relationship between initial trunk control or postural balance and inpatient rehabilitation outcome after stroke: a prospective comparative study. Clin Rehabil. 2010;24:543–554. doi: 10.1177/0269215509353265 Crossref. PubMed.

46. Karatas M, Cetin N, Bayramoglu M, Dilek A. Trunk muscle strength in relation to balance and functional disability in unihemispheric stroke patients. Am J Phys Med Rehabil. 2004;83:81–87. doi: 10.1097/01.PHM.0000107486.99756.C7 Crossref.

47. Ashburn A, Hyndman D, Pickering R, Yardley L, Harris S. Predicting people with stroke at risk of falls. Age Ageing. 2008;37:270–276. doi: 10.1093/ageing/afn066 Crossref. PubMed.

48. Carod-Artal J, Egido JA, Gonzalez JL, Varela de Seijas E. Quality of life among stroke survivors evaluated 1 year after stroke: experience of a stroke unit. Stroke. 2000;31:2995–3000. doi: 10.1161/01.str.31.12.2995 Crossref. PubMed.

49. Franchignoni FP, Tesio L, Ricupero C, Martino MT. Trunk control test as an early predictor of stroke rehabilitation outcome. Stroke. 1997;28:1382–1385. doi: 10.1161/01.str.28.7.1382 Crossref. PubMed.

50. Akuthota V, Nadler SF. Core strengthening. Arch Phys Med Rehabil. 2004;85:S86–S92. doi: 10.1053/j.apmr.2003.12.005 Crossref.

51. Granacher U, Gollhofer A, Hortobagyi T, Kressig RW, Muehlbauer T. The importance of trunk muscle strength for balance, functional performance, and fall prevention in seniors: a systematic review. Sports Med. 2013;43:627–641. doi: 10.1007/s40279-013-0041-1 Crossref.

5.5. Gait and Mobility

1. Duncan PW, Sullivan KJ, Behrman AL, Azen SP, Wu SS, Nadeau SE, Dobkin BH, Rose DK, Tilson JK, Cen S, et al; LEAPS Investigative Team. Body-weight-supported treadmill rehabilitation after stroke. N Engl J Med. 2011;364:2026–2036. doi: 10.1056/NEJMoa1010790 Crossref. PubMed.

2. Hornby TG, Henderson CE, Plawecki A, Lucas E, Lotter J, Holthus M, Brazg G, Fahey M, Woodward J, Ardestani M, et al. Contributions of Stepping Intensity and Variability to Mobility in Individuals Poststroke. Stroke. 2019;50:2492–2499. doi: 10.1161/STROKEAHA.119.026254 Crossref. PubMed.

3. Peters S, Hung SH, Bayley MT, Best KL, Connell LA, Donkers SJ, Dukelow SP, Ezeugwu VE, Milot MH, Sakakibara BM, et al. Safety and effectiveness of the Walk ‘n Watch structured, progressive exercise protocol delivered by physical therapists for inpatient stroke rehabilitation in Canada: a phase 3, multisite, pragmatic, stepped-wedge, cluster-randomised controlled trial. Lancet Neurol. 2025;24:643–655. doi: 10.1016/S1474-4422(25)00201-7 Crossref.

4. Pogrebnoy D, Dennett A. Exercise Programs Delivered According to Guidelines Improve Mobility in People With Stroke: A Systematic Review and Meta-analysis. Arch Phys Med Rehabil. 2020;101:154–165. doi: 10.1016/j.apmr.2019.06.015 Crossref. PubMed.

5. Srivastava A, Taly AB, Gupta A, Kumar S, Murali T. Bodyweight-supported treadmill training for retraining gait among chronic stroke survivors: A randomized controlled study. Ann Phys Rehabil Med. 2016;59:235–241. doi: 10.1016/j.rehab.2016.01.014 Crossref.

6. Tollar J, Nagy F, Csutoras B, Prontvai N, Nagy Z, Török K, Blényesi E, Vajda Z, Farkas D, Tóth BE, et al. High Frequency and Intensity Rehabilitation in 641 Subacute Ischemic Stroke Patients. Arch Phys Med Rehabil. 2021;102:9–18. doi: 10.1016/j.apmr.2020.07.012 Crossref.

7. Boyne P, Welge J, Kissela B, Dunning K. Factors Influencing the Efficacy of Aerobic Exercise for Improving Fitness and Walking Capacity After Stroke: A Meta-Analysis With Meta-Regression. Arch Phys Med Rehabil. 2017;98:581–595. doi: 10.1016/j.apmr.2016.08.484 Crossref. PubMed.

8. Iqbal M, Arsh A, Hammad SM, Haq IU, Darain H. Comparison of dual task specific training and conventional physical therapy in ambulation of hemiplegic stroke patients: A randomized controlled trial. J Pak Med Assoc. 2020;70:7–10. doi: 10.47391/JPMA.10443 Crossref.

9. Boyne P, Billinger SA, Reisman DS, Awosika OO, Buckley S, Burson J, Carl D, DeLange M, Doren S, Earnest M, et al. Optimal Intensity and Duration of Walking Rehabilitation in Patients With Chronic Stroke: A Randomized Clinical Trial. JAMA Neurol. 2023;80:342–351. doi: 10.1001/jamaneurol.2023.0033 Crossref.

10. Gjellesvik TI, Becker F, Tjonna AE, Indredavik B, Lundgaard E, Solbakken H, Brurok B, Tørhaug T, Lydersen S, Askim T. Effects of High-Intensity Interval Training After Stroke (The HIIT Stroke Study) on Physical and Cognitive Function: A Multicenter Randomized Controlled Trial. Arch Phys Med Rehabil. 2021;102:1683–1691. doi: 10.1016/j.apmr.2021.05.008 Crossref.

11. Liu Y, Jiang M, Pan X, Geng J. Effects of exercise on mobility, balance and gait in patients with the chronic stroke: a systematic review and meta-analysis. Sci Rep. 2025;15:24158. doi: 10.1038/s41598-025-09458-1 Crossref.

12. Moncion K, Rodrigues L, De Las Heras B, Noguchi KS, Wiley E, Eng JJ, MacKay-Lyons M, Sweet SN, Thiel A, Fung J, et al. Cardiorespiratory Fitness Benefits of High-Intensity Interval Training After Stroke: A Randomized Controlled Trial. Stroke. 2024;55:2202–2211. doi: 10.1161/STROKEAHA.124.046564 Crossref. PubMed.

13. Wist S, Clivaz J, Sattelmayer M. Muscle strengthening for hemiparesis after stroke: A meta-analysis. Ann Phys Rehabil Med. 2016;59:114–124. doi: 10.1016/j.rehab.2016.02.001 Crossref. PubMed.

14. Pereira TA, de Oliveira MPB, Serrao P, Tsen C, Barbieri Coutinho N, Vinícius Letieri R, Teresa Silva Santos A, Maria Dos Reis A. Effect of lower limb resistance training on ICF components in chronic stroke: a systematic review and meta-analysis of RCTs. Ann Phys Rehabil Med. 2023;66:101766. doi: 10.1016/j.rehab.2023.101766 Crossref.

15. Shao C, Wang Y, Gou H, Xiao H, Chen T. Strength Training of the Nonhemiplegic Side Promotes Motor Function Recovery in Patients With Stroke: A Randomized Controlled Trial. Arch Phys Med Rehabil. 2023;104:188–194. doi: 10.1016/j.apmr.2022.09.012 Crossref.

16. Wang L, Peng JL, Xiang W, Huang Y-J, Chen A-L. Effects of rhythmic auditory stimulation on motor function and balance ability in stroke: A systematic review and meta-analysis of clinical randomized controlled studies. Front Neurosci. 2022;16:1043575. doi: 10.3389/fnins.2022.1043575 Crossref.

17. Yoo GE, Kim SJ. Rhythmic Auditory Cueing in Motor Rehabilitation for Stroke Patients: Systematic Review and Meta-Analysis. J Music Ther. 2016;53:149–177. doi: 10.1093/jmt/thw003 Crossref. PubMed.

18. Aloraini SM. Effects of constraint-induced movement therapy for the lower extremity among individuals post-stroke: A randomized controlled clinical trial. NeuroRehabilitation. 2022;51:421–431. doi: 10.3233/NRE-220139 Crossref.

19. Reddy RS, Gular K, Dixit S, Kandakurti PK, Tedla JS, Gautam AP, Sangadala DR. Impact of Constraint-Induced Movement Therapy (CIMT) on Functional Ambulation in Stroke Patients-A Systematic Review and Meta-Analysis. Int J Environ Res Public Health. 2022;19:12809. doi: 10.3390/ijerph191912809 Crossref.

20. Zhou M, Tu Y, Cui J, Gao P, Yi T, Wang J, Hao Q, Li H, Zhu T. Effect of constraint-induced movement therapy on lower extremity motor dysfunction in post-stroke patients: A systematic review and meta-analysis. Front Neurol. 2022;13:1028206. doi: 10.3389/fneur.2022.1028206 Crossref.

21. Louie DR, Lim SB, Eng JJ. The Efficacy of Lower Extremity Mirror Therapy for Improving Balance, Gait, and Motor Function Poststroke: A Systematic Review and Meta-Analysis. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2019;28:107–120. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2018.09.017 Crossref.

22. Zhao LJ, Jiang LH, Zhang H, Li Y, Sun P, Liu Y, Qi R. Effects of Motor Imagery Training for Lower Limb Dysfunction in Patients With Stroke: A Systematic Review and Meta-analysis of Randomized Controlled Trials. Am J Phys Med Rehabil. 2023;102:409–418. doi: 10.1097/PHM.0000000000002107 Crossref.

23. Cannell J, Jovic E, Rathjen A, Lane K, Tyson AM, Callisaya ML, Smith ST, Ahuja KD, Bird M-L. The efficacy of interactive, motion capture-based rehabilitation on functional outcomes in an inpatient stroke population: a randomized controlled trial. Clin Rehabil. 2018;32:191–200. doi: 10.1177/0269215517720790 Crossref.

24. Gibbons EM, Thomson AN, de Noronha M, Joseph S. Are virtual reality technologies effective in improving lower limb outcomes for patients following stroke - a systematic review with meta-analysis. Top Stroke Rehabil. 2016;23:440–457. doi: 10.1080/10749357.2016.1183349 Crossref.

25. Sultan N, Khushnood K, Qureshi S, Altaf S, Khan MK, Malik AN, Mehmood R, Awan MMA. Effects of Virtual Reality Training Using Xbox Kinect on Balance, Postural Control, and Functional Independence in Subjects with Stroke. Games Health J. 2023;12:440–444. doi: 10.1089/g4h.2022.0193 Crossref.

26. Balinski M, Madhavan S. "Magic" Number of Treadmill Sessions Needed to Achieve Meaningful Change in Gait Speed After Stroke: A Systematic Review. Am J Phys Med Rehabil. 2022;101:826–835. doi: 10.1097/PHM.0000000000001920 Crossref.

27. Klassen TD, Dukelow SP, Bayley MT, Benavente O, Hill MD, Krassioukov A, Liu-Ambrose T, Pooyania S, Poulin MJ, Schneeberg A, et al. Higher Doses Improve Walking Recovery During Stroke Inpatient Rehabilitation. Stroke. 2020;51:2639–2648. doi: 10.1161/STROKEAHA.120.029245 Crossref. PubMed.

28. Chen S, Gao J, Zhou Y, Zheng B, Liu Y, Cao M, Huang H, Su X, Chen J. Implications of neuromuscular electrical stimulation on gait ability, balance and kinematic parameters after stroke: a systematic review and meta-analysis. J Neuroeng Rehabil. 2024;21:164. doi: 10.1186/s12984-024-01462-2 Crossref.

29. Galvao WR, Castro Silva LK, Formiga MF, Thé GAP, Faria Christina Danielli Coelho de Morais, Viana RT, Lima LAO. Cycling using functional electrical stimulation therapy to improve motor function and activity in post-stroke individuals in early subacute phase: a systematic review with meta-analysis. Biomed Eng Online. 2024;23:1. doi: 10.1186/s12938-023-01195-8 Crossref.

30. Jaqueline da Cunha M, Rech KD, Salazar AP, Pagnussat AS. Functional electrical stimulation of the peroneal nerve improves post-stroke gait speed when combined with physiotherapy. A systematic review and meta-analysis. Ann Phys Rehabil Med. 2021;64:101388. doi: 10.1016/j.rehab.2020.03.012 Crossref.

31. Prenton S, Hollands KL, Kenney LPJ, Onmanee P. Functional electrical stimulation and ankle foot orthoses provide equivalent therapeutic effects on foot drop: A meta-analysis providing direction for future research. J Rehabil Med. 2018;50:129–139. doi: 10.2340/16501977-2289 Crossref.

32. Iliescu AM, McIntyre A, Wiener J, Iruthayarajah J, Lee A, Caughlin S, Teasell R. Evaluating the effectiveness of aquatic therapy on mobility, balance, and level of functional independence in stroke rehabilitation: a systematic review and meta-analysis. Clin Rehabil. 2020;34:56–68. doi: 10.1177/0269215519880955 Crossref.

33. Nascimento LR, Flores LC, de Menezes KKP, Teixeira-Salmela LF. Water-based exercises for improving walking speed, balance, and strength after stroke: a systematic review with meta-analyses of randomized trials. Physiotherapy. 2020;107:100–110. doi: 10.1016/j.physio.2019.10.002 Crossref.

34. Chen P, Jin X, Yu D, Chen X, Lin Y, Wu F, Shao B. Efficacy of acupuncture on lower limb motor dysfunction following stroke: A systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials. PLoS One. 2025;20:e0312918. doi: 10.1371/journal.pone.0312918 Crossref.

35. Sun Z, Sun H, Yu K, Zhu Z, Lin Y, Sun K, Zhang J. A systematic review and meta-analysis of acupuncture's impact on hemiplegic gait recovery after stroke. Complement Ther Med. 2025;91:103181. doi: 10.1016/j.ctim.2025.103181 Crossref.

36. Kwong PW, Ng GY, Chung RC, Ng SS. Transcutaneous electrical nerve stimulation improves walking capacity and reduces spasticity in stroke survivors: a systematic review and meta-analysis. Clin Rehabil. 2018;32:1203–1219. doi: 10.1177/0269215517745349 Crossref.

37. Druzbicki M, Przysada G, Guzik A, Brzozowska-Magoń A, Kołodziej K, Wolan-Nieroda A, Majewska J, Kwolek A. The Efficacy of Gait Training Using a Body Weight Support Treadmill and Visual Biofeedback in Patients with Subacute Stroke: A Randomized Controlled Trial. Biomed Res Int. 2018;2018:3812602. doi: 10.1155/2018/3812602 Crossref.

38. Park KD, Song MK. Intrathecal Baclofen Injection Efficacy for Spasticity Management in Patients With Stroke: A Meta-Analysis. Brain Neurorehabil. 2024;17:e3. doi: 10.12786/bn.2024.17.e3 Crossref.

39. Varvarousis DN, Martzivanou C, Dimopoulos D, Dimakopoulos G, Vasileiadis GI, Ploumis A. The effectiveness of botulinum toxin on spasticity and gait of hemiplegic patients after stroke: A systematic review and meta-analysis. Toxicon. 2021;203:74–84. doi: 10.1016/j.toxicon.2021.09.020 Crossref.

40. Wu T, Li JH, Song HX, Dong Y. Effectiveness of Botulinum Toxin for Lower Limbs Spasticity after Stroke: A Systematic Review and Meta-Analysis. Top Stroke Rehabil. 2016;23:217–223. doi: 10.1080/10749357.2016.1139294 Crossref.

41. Hsu HY, Kuo LC, Lin YC, Su F-C, Yang T-H, Lin C-W. Effects of a Virtual Reality-Based Mirror Therapy Program on Improving Sensorimotor Function of Hands in Chronic Stroke Patients: A Randomized Controlled Trial. Neurorehabil Neural Repair. 2022;36:335–345. doi: 10.1177/15459683221081430 Crossref.

42. Schroder J, Truijen S, Van Criekinge T, Saeys W. Feasibility and effectiveness of repetitive gait training early after stroke: A systematic review and meta-analysis. J Rehabil Med. 2019;51:78–88. doi: 10.2340/16501977-2505 Crossref.

43. Tedla JS, Dixit S, Gular K, Abohashrh M. Robotic-Assisted Gait Training Effect on Function and Gait Speed in Subacute and Chronic Stroke Population: A Systematic Review and Meta-Analysis of Randomized Controlled Trials. Eur Neurol. 2019;81:103–111. doi: 10.1159/000500747 Crossref.

44. Hidler J, Nichols D, Pelliccio M, Brady K, Campbell DD, Kahn JH, Hornby TG. Multicenter randomized clinical trial evaluating the effectiveness of the Lokomat in subacute stroke. Neurorehabil Neural Repair. 2009;23:5–13. doi: 10.1177/1545968308326632 Crossref.

45. Hsu CY, Cheng YH, Lai CH, Lin Y-N. Clinical non-superiority of technology-assisted gait training with body weight support in patients with subacute stroke: A meta-analysis. Ann Phys Rehabil Med. 2020;63:535–542. doi: 10.1016/j.rehab.2019.09.009 Crossref.

46. Jiang Z, Zhang X, Fu Q, Tao Y. Effects of body weight support training on balance and walking function in stroke patients: a systematic review and meta-analysis. Front Neurol. 2024;15:1413577. doi: 10.3389/fneur.2024.1413577 Crossref.

47. Diaz-Arribas MJ, Martin-Casas P, Cano-de-la-Cuerda R, Plaza-Manzano G. Effectiveness of the Bobath concept in the treatment of stroke: a systematic review. Disabil Rehabil. 2020;42:1636–1649. doi: 10.1080/09638288.2019.1590865 Crossref.

48. Sutcu G, Ozcakar L, Yalcin AI, Kilinç M. BOBATH vs. TASK-ORIENTED TRAINING AFTER STROKE: An assessor-blind randomized controlled trial. Brain Inj. 2023;37:581–587. doi: 10.1080/02699052.2023.2203519 Crossref.

49. Scrivener K, Dorsch S, McCluskey A, Schurr K, Graham PL, Cao Z, Shepherd R, Tyson S. Bobath therapy is inferior to task-specific training and not superior to other interventions in improving lower limb activities after stroke: a systematic review. J Physiother. 2020;66:225–235. doi: 10.1016/j.jphys.2020.09.008 Crossref.

50. Washabaugh EP, Krishnan C. Functional resistance training methods for targeting patient-specific gait deficits: A review of devices and their effects on muscle activation, neural control, and gait mechanics. Clin Biomech (Bristol). 2022;94:105629. doi: 10.1016/j.clinbiomech.2022.105629 Crossref.

51. Awad LN, Jayaraman A, Nolan KJ, Lewek MD, Bonato P, Newman M, Putrino D, Raghavan P, Pohlig RT, Harris BA, et al. Efficacy and safety of using auditory-motor entrainment to improve walking after stroke: a multi-site randomized controlled trial of InTandemTM. Nat Commun. 2024;15:1081. doi: 10.1038/s41467-024-44791-5 Crossref.

52. Billinger SA, Arena R, Bernhardt J, Eng JJ, Franklin BA, Johnson CM, MacKay-Lyons M, Macko RF, Mead GE, Roth EJ, et al; American Heart Association Stroke Council. Physical activity and exercise recommendations for stroke survivors: a statement for healthcare professionals from the American Heart Association/American Stroke Association. Stroke. 2014;45:2532–2553. doi: 10.1161/STR.0000000000000022 Crossref. PubMed.

53. Washabaugh EP, Krishnan C. A wearable resistive robot facilitates locomotor adaptations during gait. Restor Neurol Neurosci. 2018;36:215–223. doi: 10.3233/RNN-170782 Crossref.

54. Garber CE, Blissmer B, Deschenes MR, Franklin BA, Lamonte MJ, Lee I-M, Nieman DC, Swain DP; American College of Sports Medicine. American College of Sports Medicine position stand. Quantity and quality of exercise for developing and maintaining cardiorespiratory, musculoskeletal, and neuromotor fitness in apparently healthy adults: guidance for prescribing exercise. Med Sci Sports Exerc. 2011;43:1334–1359. doi: 10.1249/MSS.0b013e318213fefb Crossref. PubMed.

55. Tanaka H, Monahan KD, Seals DR. Age-predicted maximal heart rate revisited. J Am Coll Cardiol. 2001;37:153–156. doi: 10.1016/s0735-1097(00)01054-8 Crossref. PubMed.

56. Brawner CA, Ehrman JK, Schairer JR, Cao JJ, Keteyian SJ. Predicting maximum heart rate among patients with coronary heart disease receiving beta-adrenergic blockade therapy. Am Heart J. 2004;148:910–914. doi: 10.1016/j.ahj.2004.04.035 Crossref. PubMed.

57. Keteyian SJ, Kitzman D, Zannad F, Landzberg J, Arnold JM, Brubaker P, Brawner CA, Bensimhon D, Hellkamp AS, Ewald G. Predicting maximal HR in heart failure patients on β-blockade therapy. Med Sci Sports Exerc. 2012;44:371–376. doi: 10.1249/MSS.0b013e318234316f Crossref.

58. Thaut MH, McIntosh GC, Rice RR. Rhythmic facilitation of gait training in hemiparetic stroke rehabilitation. J Neurol Sci. 1997;151:207–212. doi: 10.1016/s0022-510x(97)00146-9 Crossref.

59. Thaut MH, McIntosh GC, Prassas SG, Rice RR. Effect of rhythmic auditory cuing on temporal stride parameters and EMG. patterns in hemiparetic gait of stroke patients. Neurorehabil Neural Repair. 1993;7:9–16. doi: 10.1177/136140969300700103 Crossref.

60. Holleran CL, Rodriguez KS, Echauz A, Leech KA, Hornby TG. Potential contributions of training intensity on locomotor performance in individuals with chronic stroke. J Neurol Phys Ther. 2015;39:95–102. doi: 10.1097/NPT.0000000000000077 Crossref.

61. Hornby TG, Reisman DS, Ward IG, Scheets PL, Miller A, Haddad D, Fox EJ, Fritz NE, Hawkins K, Henderson CE, et al; and the Locomotor CPG Appraisal Team. Clinical Practice Guideline to Improve Locomotor Function Following Chronic Stroke, Incomplete Spinal Cord Injury, and Brain Injury. J Neurol Phys Ther. 2020;44:49–100. doi: 10.1097/NPT.0000000000000303 Crossref. PubMed.

62. Ghazavi Dozin SM, Mohammad Rahimi N, Aminzadeh R. Wii Fit-Based Biofeedback Rehabilitation Among Post-Stroke Patients: A Systematic Review and Meta-Analysis of Randomized Controlled Trial. Biol Res Nurs. 2024;26:5–20. doi: 10.1177/10998004231180316 Crossref.

63. Lo K, Stephenson M, Lockwood C. The economic cost of robotic rehabilitation for adult stroke patients: a systematic review. JBI Database System Rev Implement Rep. 2019;17:520–547. doi: 10.11124/JBISRIR-2017-003896 Crossref.

64. Graham JV, Eustace C, Brock K, Swain E, Irwin-Carruthers S. The Bobath concept in contemporary clinical practice. Top Stroke Rehabil. 2009;16:57–68. doi: 10.1310/tsr1601-57 Crossref.

65. Hindle KB, Whitcomb TJ, Briggs WO, Hong J. Proprioceptive Neuromuscular Facilitation (PNF): Its Mechanisms and Effects on Range of Motion and Muscular Function. J Hum Kinet. 2012;31:105–113. doi: 10.2478/v10078-012-0011-y Crossref.

66. Vaughan-Graham J, Cott C, Wright FV. The Bobath (NDT) concept in adult neurological rehabilitation: what is the state of the knowledge? A scoping review. Part II: intervention studies perspectives. Disabil Rehabil. 2015;37:1909–1928. doi: 10.3109/09638288.2014.987880 Crossref.

67. Scheets PL, Hornby TG, Perry SB, Sparto P, Riley N, Romney W, Fell D, Kugler K, Nordahl T. Moving Forward. J Neurol Phys Ther. 2021;45:46–49. doi: 10.1097/NPT.0000000000000337 Crossref.

68. Krishnan C, Augenstein TE, Ranganathan R. Ten Recommendations for Improving Research on Stroke Motor Rehabilitation: A Unified Perspective. Restor Neurol Neurosci. 2025;44:55–67. doi: 10.1177/09226028251392269 Crossref.

69. Dzewaltowski AC, Hedrick EA, Leutzinger TJ, Remski LE, Rosen AB. The Effect of Split-Belt Treadmill Interventions on Step Length Asymmetry in Individuals Poststroke: A Systematic Review With Meta-Analysis. Neurorehabil Neural Repair. 2021;35:563–575. doi: 10.1177/15459683211011226 Crossref.

70. Lewek MD, Braun CH, Wutzke C, Giuliani C. The role of movement errors in modifying spatiotemporal gait asymmetry post stroke: a randomized controlled trial. Clin Rehabil. 2018;32:161–172. doi: 10.1177/0269215517723056 Crossref.

71. Wang C, Zhang Q, Hou S, Guo D, Han X, Huo W, Zhang Y. Split-belt treadmill training improves gait symmetry and lower limb function in patients with stroke. Sci Rep. 2025;15:16123. doi: 10.1038/s41598-025-98322-3 Crossref.

72. Karssemeijer EGA, Bossers WJR, Aaronson JA, Sanders LMJ, Kessels RPC, Olde Rikkert MGM. Exergaming as a Physical Exercise Strategy Reduces Frailty in People With Dementia: A Randomized Controlled Trial. J Am Med Dir Assoc. 2019;20:1502–1508.e1. doi: 10.1016/j.jamda.2019.06.026 Crossref.

73. Li Y, Fan J, Yang J, He C, Li S. Effects of Repetitive Transcranial Magnetic Stimulation on Walking and Balance Function after Stroke: A Systematic Review and Meta-Analysis. Am J Phys Med Rehabil. 2018;97:773–781. doi: 10.1097/PHM.0000000000000948 Crossref.

74. Tung YC, Lai CH, Liao CD, Huang S-W, Liou T-H, Chen H-C. Repetitive transcranial magnetic stimulation of lower limb motor function in patients with stroke: a systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials. Clin Rehabil. 2019;33:1102–1112. doi: 10.1177/0269215519835889 Crossref.

75. Chen K, Sun M, Zhuang H. Effect of theta burst stimulation on lower extremity motor function improvement and balance recovery in patients with stroke: A systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials. Medicine (Baltim). 2024;103:e40098. doi: 10.1097/MD.0000000000040098 Crossref.

76. Usman JS, Wong TW, Ng SSM. Effects of treadmill training combined with transcranial direct current stimulation on mobility, motor performance, balance function, and other brain-related outcomes in stroke survivors: a systematic review and meta-analysis. Neurol Sci. 2025;46:99–111. doi: 10.1007/s10072-024-07768-2 Crossref.

77. Durand MJ, Boerger TF, Nguyen JN, Alqahtani SZ, Wright MT, Schmit BD, Gutterman DD, Hyngstrom AS. Two weeks of ischemic conditioning improves walking speed and reduces neuromuscular fatigability in chronic stroke survivors. J Appl Physiol (1985). 2019;126:755–763. doi: 10.1152/japplphysiol.00772.2018 Crossref.

5.6. Upper Extremity Activity, Including ADLs, IADLs, Touch, and Proprioception

1. Legg LA, Lewis SR, Schofield-Robinson OJ, Drummond A, Langhorne P. Occupational therapy for adults with problems in activities of daily living after stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2017;7:CD003585. doi: 10.1002/14651858.CD003585.pub3 Crossref.

2. Winterbottom L, Geller D, Goldberg C, Nilsen DM, Mahoney D, Gillen G. Occupational Therapy and Activities of Daily Living Interventions to Improve Performance in Activities of Daily Living for Adults With Stroke (2012-2019). Am J Occup Ther. 2023;77:7710393070. doi: 10.5014/ajot.2023.77S10007 Crossref.

3. Corbetta D, Sirtori V, Castellini G, Moja L, Gatti R. Constraint-induced movement therapy for upper extremities in people with stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2015;2015:CD004433. doi: 10.1002/14651858.CD004433.pub3 Crossref.

4. Kwakkel G, Veerbeek JM, van Wegen EE, Wolf SL. Constraint-induced movement therapy after stroke. Lancet Neurol. 2015;14:224–234. doi: 10.1016/S1474-4422(14)70160-7 Crossref. PubMed.

5. Liu J, Wang Z, Wang C, Zhang Y. Interventional effects of modified constraint-induced movement therapy on upper limb function in patients who had a stroke: systematic review and meta-analysis. BMJ Open. 2025;15:e094309. doi: 10.1136/bmjopen-2024-094309 Crossref.

6. French B, Thomas LH, Coupe J, McMahon NE, Connell L, Harrison J, Sutton CJ, Tishkovskaya S, Watkins CL. Repetitive task training for improving functional ability after stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2016;11:CD006073. doi: 10.1002/14651858.CD006073.pub3 Crossref. PubMed.

7. Rodgers H, Bosomworth H, Krebs HI, van Wijck F, Howel D, Wilson N, Aird L, Alvarado N, Andole S, Cohen DL, et al. Robot assisted training for the upper limb after stroke (RATULS): a multicentre randomised controlled trial. Lancet. 2019;394:51–62. doi: 10.1016/S0140-6736(19)31055-4 Crossref.

8. Lin Y, Li QY, Qu Q, Ding L, Chen Z, Huang F, Hu S, Deng W, Guo F, Wang C, et al. Comparative Effectiveness of Robot-Assisted Training Versus Enhanced Upper Extremity Therapy on Upper and Lower Extremity for Stroke Survivors: A Multicentre Randomized Controlled Trial. J Rehabil Med. 2022;54:jrm00314. doi: 10.2340/jrm.v54.882 Crossref.

9. Jeon SY, Ki M, Shin JH. Resistive versus active assisted robotic training for the upper limb after a stroke: A randomized controlled study. Ann Phys Rehabil Med. 2024;67:101789. doi: 10.1016/j.rehab.2023.101789 Crossref.

10. Lavi C, Elboim-Gabyzon M, Naveh Y, Kalichman L. A Combination of Long-Duration Electrical Stimulation with External Shoulder Support during Routine Daily Activities in Patients with Post-Hemiplegic Shoulder Subluxation: A Randomized Controlled Study. Int J Environ Res Public Health. 2022;19:9765. doi: 10.3390/ijerph19159765 Crossref.

11. Price CI, Pandyan AD. Electrical stimulation for preventing and treating post-stroke shoulder pain: a systematic Cochrane review. Clin Rehabil. 2001;15:5–19. doi: 10.1191/026921501670667822 Crossref.

12. Van Peppen RP, Kwakkel G, Wood-Dauphinee S, Hendriks HJM, Van der Wees PJ, Dekker J. The impact of physical therapy on functional outcomes after stroke: what's the evidence? Clin Rehabil. 2004;18:833–862. doi: 10.1191/0269215504cr843oa Crossref.

13. Monte-Silva K, Piscitelli D, Norouzi-Gheidari N, Batalla MAP, Archambault P, Levin MF. Electromyogram-Related Neuromuscular Electrical Stimulation for Restoring Wrist and Hand Movement in Poststroke Hemiplegia: A Systematic Review and Meta-Analysis. Neurorehabil Neural Repair. 2019;33:96–111. doi: 10.1177/1545968319826053 Crossref.

14. Fujimoto K, Ueno M, Etoh S, Shimodozono M. Combined repetitive facilitative exercise under continuous neuromuscular electrical stimulation and task-oriented training for hemiplegic upper extremity during convalescent phase after stroke: before-and-after feasibility trial. Front Neurol. 2024;15:1356732. doi: 10.3389/fneur.2024.1356732 Crossref.

15. Kristensen MGH, Busk H, Wienecke T. Neuromuscular Electrical Stimulation Improves Activities of Daily Living Post Stroke: A Systematic Review and Meta-analysis. Arch Rehabil Res Clin Transl. 2022;4:100167. doi: 10.1016/j.arrct.2021.100167 Crossref.

16. Stockley RC, Jarvis K, Boland P, clegg AJ. Systematic Review and Meta-Analysis of the Effectiveness of Mental Practice for the Upper Limb After Stroke: Imagined or Real Benefit? Arch Phys Med Rehabil. 2021;102:1011–1027. doi: 10.1016/j.apmr.2020.09.391 Crossref.

17. Barclay RE, Stevenson TJ, Poluha W, Semenko B, Schubert J. Mental practice for treating upper extremity deficits in individuals with hemiparesis after stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2020;5:CD005950. doi: 10.1002/14651858.CD005950.pub5 Crossref.

18. da Silva PB, Antunes FN, Graef P, Cechetti F, Pagnussat Aline de Souza. Strength training associated with task-oriented training to enhance upper-limb motor function in elderly patients with mild impairment after stroke: a randomized controlled trial. Am J Phys Med Rehabil. 2015;94:11–19. doi: 10.1097/PHM.0000000000000135 Crossref.

19. Laver KE, Lange B, George S, Deutsch JE, Saposnik G, Chapman M, Crotty M. Virtual reality for stroke rehabilitation. Cochrane Database Syst Rev. 2025;6:CD008349. doi: 10.1002/14651858.CD008349.pub5 Crossref.

20. Turville ML, Cahill LS, Matyas TA, Blennerhassett JM, Carey LM. The effectiveness of somatosensory retraining for improving sensory function in the arm following stroke: a systematic review. Clin Rehabil. 2019;33:834–846. doi: 10.1177/0269215519829795 Crossref.

21. Carey L, Macdonell R, Matyas TA. SENSe: Study of the Effectiveness of Neurorehabilitation on Sensation: a randomized controlled trial. Neurorehabil Neural Repair. 2011;25:304–313. doi: 10.1177/1545968310397705 Crossref. PubMed.

22. He J, Li C, Lin J, Shu B, Ye B, Wang J, Lin Y, Jia J. Proprioceptive Training with Visual Feedback Improves Upper Limb Function in Stroke Patients: A Pilot Study. Neural Plast. 2022;2022:1588090. doi: 10.1155/2022/1588090 Crossref.

23. Derakhshanfar M, Raji P, Bagheri H, Jalili M, Tarhsaz H. Sensory interventions on motor function, activities of daily living, and spasticity of the upper limb in people with stroke: A randomized clinical trial. J Hand Ther. 2021;34:515–520. doi: 10.1016/j.jht.2020.03.028 Crossref.

24. Arya KN, Pandian S, Kumar D, Puri V. Task-Based Mirror Therapy Augmenting Motor Recovery in Poststroke Hemiparesis: A Randomized Controlled Trial. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2015;24:1738–1748. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2015.03.026 Crossref.

25. Hsieh YW, Chang KC, Hung JW, Wu C-Y, Fu M-H, Chen C-C. Effects of Home-Based Versus Clinic-Based Rehabilitation Combining Mirror Therapy and Task-Specific Training for Patients With Stroke: A Randomized Crossover Trial. Arch Phys Med Rehabil. 2018;99:2399–2407. doi: 10.1016/j.apmr.2018.03.017 Crossref.

26. Thieme H, Morkisch N, Mehrholz J, Pohl M, Behrens J, Borgetto B, Dohle C. Mirror therapy for improving motor function after stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2018;7:CD008449. doi: 10.1002/14651858.CD008449.pub3 Crossref.

27. Ding L, Wang X, Chen S, Wang H, Tian J, Rong J, Shao P, Tong S, Guo X, Jia J. Camera-Based Mirror Visual Input for Priming Promotes Motor Recovery, Daily Function, and Brain Network Segregation in Subacute Stroke Patients. Neurorehabil Neural Repair. 2019;33:307–318. doi: 10.1177/1545968319836207 Crossref.

28. Zhuang JY, Ding L, Shu BB, Chen D, Jia J. Associated Mirror Therapy Enhances Motor Recovery of the Upper Extremity and Daily Function after Stroke: A Randomized Control Study. Neural Plast. 2021;2021:7266263. doi: 10.1155/2021/7266263 Crossref.

29. Geller D, Nilsen DM, Quinn L, Van Lew S, Bayona C, Gillen G. Home mirror therapy: a randomized controlled pilot study comparing unimanual and bimanual mirror therapy for improved arm and hand function post-stroke. Disabil Rehabil. 2022;44:6766–6774. doi: 10.1080/09638288.2021.1973121 Crossref.

30. Hsu HY, Kuo LC, Lin YC, Su F-C, Yang T-H, Lin C-W. Effects of a Virtual Reality-Based Mirror Therapy Program on Improving Sensorimotor Function of Hands in Chronic Stroke Patients: A Randomized Controlled Trial. Neurorehabil Neural Repair. 2022;36:335–345. doi: 10.1177/15459683221081430 Crossref.

31. Wen X, Li L, Li X, Zha H, Liu Z, Peng Y, Liu X, Liu H, Yang Q, Wang J. Therapeutic Role of Additional Mirror Therapy on the Recovery of Upper Extremity Motor Function after Stroke: A Single-Blind, Randomized Controlled Trial. Neural Plast. 2022;2022:8966920. doi: 10.1155/2022/8966920 Crossref.

32. Kim H, Kim J, Jo S, Lee K, Kim J, Song C. Video augmented mirror therapy for upper extremity rehabilitation after stroke: a randomized controlled trial. J Neurol. 2023;270:831–842. doi: 10.1007/s00415-022-11410-6 Crossref.

33. Lee MT, Chen CC, Lu HL, Hsieh Y-W. Comparisons of three different modes of digital mirror therapy for post-stroke rehabilitation: Preliminary results of randomized controlled trial. Digit Health. 2024;10:20552076241260536. doi: 10.1177/20552076241260536 Crossref.

34. Zhang Y, Zhang X, Cheng C, Huang S, Hua Y, Hu J, Wang Y, Zhang W, Yang Y, Liu Y, et al. Mirror therapy combined with contralaterally controlled functional electrical stimulation for the upper limb motor function after stroke: a randomized controlled trial. Disabil Rehabil. 2024;46:2528–2534. doi: 10.1080/09638288.2023.2225878 Crossref.

35. Stoykov ME, Heidle C, Kang S, Lodesky L, Maccary LE, Madhavan S. Sensory-Based Priming for Upper Extremity Hemiparesis After Stroke: A Scoping Review. OTJR (Thorofare N J). 2022;42:65–78. doi: 10.1177/15394492211032606 Crossref.

36. Kattenstroth JC, Kalisch T, Sczesny-Kaiser M, Greulich W, Tegenthoff M, Dinse HR. Daily repetitive sensory stimulation of the paretic hand for the treatment of sensorimotor deficits in patients with subacute stroke: RESET, a randomized, sham-controlled trial. BMC Neurol. 2018;18:2. doi: 10.1186/s12883-017-1006-z Crossref.

37. Conforto AB, Dos Anjos SM, Bernardo WM, Silva AA, Conti J, Machado AG, Cohen LG. Repetitive Peripheral Sensory Stimulation and Upper Limb Performance in Stroke: A Systematic Review and Meta-analysis. Neurorehabil Neural Repair. 2018;32:863–871. doi: 10.1177/1545968318798943 Crossref.

38. Carrico C, Westgate PM, Salmon Powell E, Chelette KC, Nichols L, Pettigrew LC, Sawaki L. Nerve Stimulation Enhances Task-Oriented Training for Moderate-to-Severe Hemiparesis 3-12 Months After Stroke: A Randomized Trial. Am J Phys Med Rehabil. 2018;97:808–815. doi: 10.1097/PHM.0000000000000971 Crossref.

39. Carrico C, Chelette KC, Westgate PM, Powell E, Nichols L, Fleischer A, Sawaki L. Nerve Stimulation Enhances Task-Oriented Training in Chronic, Severe Motor Deficit After Stroke: A Randomized Trial. Stroke. 2016;47:1879–1884. doi: 10.1161/STROKEAHA.116.012671 Crossref.

40. McCombe Waller S, Whitall J, Jenkins T, Magder LS, Hanley DF, Goldberg A, Luft AR. Sequencing bilateral and unilateral task-oriented training versus task oriented training alone to improve arm function in individuals with chronic stroke. BMC Neurol. 2014;14:236. doi: 10.1186/s12883-014-0236-6 Crossref.

41. Qian F, Dai Y, Zheng G, Zhong Q, Lu J, Hu L, He Y, Chen Z. Bilateral versus Unilateral Training With Rhythmic Auditory Cueing in Stroke Rehabilitation: Effects on Upper Limb Function and Interhemispheric Inhibition. Ann Clin Transl Neurol. 2025;12:2317–2327. doi: 10.1002/acn3.70162 Crossref.

42. Kimberley TJ, Cramer SC, Wolf SL, Liu C, Gochyyev P, Dawson J; VNS-REHAB Trial Group. Long-Term Outcomes of Vagus Nerve Stimulation Paired With Upper Extremity Rehabilitation After Stroke. Stroke. 2025;56:2255–2265. doi: 10.1161/STROKEAHA.124.050479 Crossref. PubMed.

43. Francisco GE, Engineer ND, Dawson J, Kimberley TJ, Cramer SC, Prudente CN, Pierce D, Tarver WB, Hinds RHA, Van de Winckel A, et al. Vagus Nerve Stimulation Paired With Upper-Limb Rehabilitation After Stroke: 2- and 3-Year Follow-up From the Pilot Study. Arch Phys Med Rehabil. 2023;104:1180–1187. doi: 10.1016/j.apmr.2023.02.012 Crossref.

44. Dawson J, Engineer ND, Cramer SC, Wolf SL, Ali R, O'Dell MW, Pierce D, Prudente CN, Redgrave J, Feng W, et al. Vagus Nerve Stimulation Paired With Rehabilitation for Upper Limb Motor Impairment and Function After Chronic Ischemic Stroke: Subgroup Analysis of the Randomized, Blinded, Pivotal, VNS-REHAB Device Trial. Neurorehabil Neural Repair. 2023;37:367–373. doi: 10.1177/15459683221129274 Crossref.

45. Dawson J, Liu CY, Francisco GE, Cramer SC, Wolf SL, Dixit A, Alexander J, Ali R, Brown BL, Feng W, et al. Vagus nerve stimulation paired with rehabilitation for upper limb motor function after ischaemic stroke (VNS-REHAB): a randomised, blinded, pivotal, device trial. Lancet. 2021;397:1545–1553. doi: 10.1016/S0140-6736(21)00475-X Crossref.

46. Dawson J, Engineer ND, Prudente CN, Pierce D, Francisco G, Yozbatiran N, Tarver WB, Casavant R, Kline DK, Cramer SC, et al. Vagus Nerve Stimulation Paired With Upper-Limb Rehabilitation After Stroke: One-Year Follow-up. Neurorehabil Neural Repair. 2020;34:609–615. doi: 10.1177/1545968320924361 Crossref.

47. Dorsch S, Carling C, Cao Z, Fanayan E, Graham PL, McCluskey A, Schurr K, Scrivener K, Tyson S. Bobath therapy is inferior to task-specific training and not superior to other interventions in improving arm activity and arm strength outcomes after stroke: a systematic review. J Physiother. 2023;69:15–22. doi: 10.1016/j.jphys.2022.11.008 Crossref.

48. Pathak A, Gyanpuri V, Dev P, Dhiman NR. The Bobath Concept (NDT) as rehabilitation in stroke patients: A systematic review. J Family Med Prim Care. 2021;10:3983–3990. doi: 10.4103/jfmpc.jfmpc_528_21 Crossref.

49. Dalton EJ, Jamwal R, Augoustakis L, Hill E, Johns H, Thijs V, Hayward KS. Prevalence of Arm Weakness, Pre-Stroke Outcomes and Other Post-Stroke Impairments Using Routinely Collected Clinical Data on an Acute Stroke Unit. Neurorehabil Neural Repair. 2024;38:148–160. doi: 10.1177/15459683241229676 Crossref.

50. Simpson LA, Hayward KS, McPeake M, Field TS, Eng JJ. Challenges of Estimating Accurate Prevalence of Arm Weakness Early After Stroke. Neurorehabil Neural Repair. 2021;35:871–879. doi: 10.1177/15459683211028240 Crossref.

51. Meiner Z, Sajin A, Schwartz I, Tsenter J, Yovchev I, Eichel R, Ben-Hur T, Leker RR. Rehabilitation outcomes of stroke patients treated with tissue plasminogen activator. PM R. 2010;2:698–702; quiz 792. doi: 10.1016/j.pmrj.2010.04.029 Crossref.

52. Ohnishi H, Miyasaka H, Shindo N, Ito K, Tsuji S, Sonoda S. Effectiveness of Repetitive Facilitative Exercise Combined with Electrical Stimulation Therapy to Improve Very Severe Paretic Upper Limbs in with Stroke Patients: A Randomized Controlled Trial. Occup Ther Int. 2022;2022:4847363. doi: 10.1155/2022/4847363 Crossref.

53. Wang H, Xiang Y, Wang C, Wang Y, Chen S, Ding L, Liu Q, Wang X, Zhao K, Jia J, et al. Effects of transcutaneous electrical acupoint stimulation on upper-limb impairment after stroke: A randomized, controlled, single-blind trial. Clin Rehabil. 2023;37:667–678. doi: 10.1177/02692155221138916 Crossref.

54. King EC, Schauer JM, Prabhakaran S, Wax A, Urday S, Madhavan S, Corcos DM, Stoykov ME. Priming and task-specific training for arm weakness post stroke: A randomized controlled trial. Ann Clin Transl Neurol. 2025;12:192–202. doi: 10.1002/acn3.52271 Crossref.

55. Gillen G. Stroke Rehabilitation-E-Book: A Function-Based Approach. Elsevier Health Sciences; 2015.

56. Yilmazer C, Boccuni L, Thijs L, Verheyden G. Effectiveness of somatosensory interventions on somatosensory, motor and functional outcomes in the upper limb post-stroke: A systematic review and meta-analysis. NeuroRehabilitation. 2019;44:459–477. doi: 10.3233/NRE-192687 Crossref.

57. Ghaziani E, Couppé C, Siersma V, Søndergaard M, Christensen H, Magnusson SP. Electrical Somatosensory Stimulation in Early Rehabilitation of Arm Paresis After Stroke: A Randomized Controlled Trial. Neurorehabil Neural Repair. 2018;32:899–912. doi: 10.1177/1545968318799496 Crossref.

58. Fleming MK, Sorinola IO, Roberts-Lewis SF, Wolfe CD, Wellwood I, Newham DJ. The effect of combined somatosensory stimulation and task-specific training on upper limb function in chronic stroke: a double-blind randomized controlled trial. Neurorehabil Neural Repair. 2015;29:143–152. doi: 10.1177/1545968314533613 Crossref. PubMed.

59. Xie S, Zhang Y, Li J, Wu Z, Bai Y. Contralaterally Controlled Functional Electrical Stimulation for Improving Motor Function After Acquired Brain Injury: A Systematic Review and Meta-analysis. Arch Phys Med Rehabil. 2024;105:2327–2335. doi: 10.1016/j.apmr.2024.03.001 Crossref.

60. Knutson JS, Friedl AS, Hansen KM, Harley MY, Hogan SD, Cunningham DA, Hisel TZ, Plow EB, Barrett AM, Raghavan P, et al. Contralaterally Controlled Functional Electrical Stimulation for Upper Extremity Recovery Following Stroke: A Multisite Randomized Controlled Trial. Stroke. 2026;57:338–348. doi: 10.1161/STROKEAHA.125.052891 Crossref. PubMed.

61. Eraifej J, Clark W, France B, Desando S, Moore D. Effectiveness of upper limb functional electrical stimulation after stroke for the improvement of activities of daily living and motor function: a systematic review and meta-analysis. Syst Rev. 2017;6:40. doi: 10.1186/s13643-017-0435-5 Crossref.

62. Tenberg S, Mueller S, Vogt L, Roth C, Happ K, Scherer M, Behringer M, Niederer D. Comparative Effectiveness of Upper Limb Exercise Interventions in Individuals With Stroke: A Network Meta-Analysis. Stroke. 2023;54:1839–1853. doi: 10.1161/STROKEAHA.123.043110 Crossref. PubMed.

63. Mehrholz J, Pohl M, Platz T, Kugler J, Elsner B. Electromechanical and robot-assisted arm training for improving activities of daily living, arm function, and arm muscle strength after stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2018;9:CD006876. doi: 10.1002/14651858.CD006876.pub5 Crossref.

64. Wei D, Hua XY, Zheng MX, Wu J-J, Xu J-G. Effectiveness of robot-assisted virtual reality mirror therapy for upper limb motor dysfunction after stroke: study protocol for a single-center randomized controlled clinical trial. BMC Neurol. 2022;22:307. doi: 10.1186/s12883-022-02836-6 Crossref.

65. Rodgers H, Bosomworth H, Krebs HI, van Wijck F, Howel D, Wilson N, Finch T, Alvarado N, Ternent L, Fernandez-Garcia C, et al. Robot-assisted training compared with an enhanced upper limb therapy programme and with usual care for upper limb functional limitation after stroke: the RATULS three-group RCT. Health Technol Assess. 2020;24:1–232. doi: 10.3310/hta24540 Crossref.

66. De Iaco L, Veerbeek JM, Ket JCF, Kwakkel G. Upper Limb Robots for Recovery of Motor Arm Function in Patients With Stroke: A Systematic Review and Meta-Analysis. Neurology. 2024;103:e209495. doi: 10.1212/WNL.0000000000209495 Crossref.

67. Dorsch S, Ada L, Canning CG. EMG-triggered electrical stimulation is a feasible intervention to apply to multiple arm muscles in people early after stroke, but does not improve strength and activity more than usual therapy: a randomized feasibility trial. Clin Rehabil. 2014;28:482–490. doi: 10.1177/0269215513510011 Crossref.

68. Park JM, Park HJ, Yoon SY, Kim Y-W, Shin J-I, Lee S-C. Comparative Effectiveness of Treatments for Shoulder Subluxation After Stroke: A Systematic Review and Network Meta-Analysis. J Clin Med. 2025;14:6913. doi: 10.3390/jcm14196913 Crossref.

69. Graef P, Salazar A, Dadalt MLR, et al. Effects of functional and analytical strength training on upper limb motor and functional recovery after stroke: a randomized clinical trial. J Neurol Sci. 2015;357(Suppl 1):E453. Crossref.

70. Ito K, Uehara S, Yuasa A, Ushizawa K, Tanabe S, Otaka Y. Gamified exercise for the distal upper extremity in people with post-stroke hemiparesis: feasibility study on subjective perspectives during daily continuous training. Ann Med. 2024;56:2306905. doi: 10.1080/07853890.2024.2306905 Crossref.

71. Saposnik G, Cohen LG, Mamdani M, Pooyania S, Ploughman M, Cheung D, Shaw J, Hall J, Nord P, Dukelow S, et al; Stroke Outcomes Research Canada. Efficacy and safety of non-immersive virtual reality exercising in stroke rehabilitation (EVREST): a randomised, multicentre, single-blind, controlled trial. Lancet Neurol. 2016;15:1019–1027. doi: 10.1016/S1474-4422(16)30121-1 Crossref. PubMed.

72. Umeki N, Murata J, Higashijima M. Effects of Training for Finger Perception on Functional Recovery of Hemiplegic Upper Limbs in Acute Stroke Patients. Occup Ther Int. 2019;2019:6508261. doi: 10.1155/2019/6508261 Crossref.

73. Turville M, Carey LM, Matyas TA, Blennerhassett J. Change in Functional Arm Use Is Associated With Somatosensory Skills After Sensory Retraining Poststroke. Am J Occup Ther. 2017;71:7103190070p1–7103190070p9. doi: 10.5014/ajot.2017.024950 Crossref.

74. Hejazi-Shirmard M, Taghizadeh G, Azad A, Lajevardi L, Rassafiani M. Sensory retraining improves light touch threshold of the paretic hand in chronic stroke survivors: a single-subject A-B design. Somatosens Mot Res. 2020;37:74–83. doi: 10.1080/08990220.2020.1736021 Crossref.

75. De Bruyn N, Saenen L, Thijs L, Van Gils A, Ceulemans E, Essers B, Lafosse C, Michielsen M, Beyens H, Schillebeeckx F, et al. Sensorimotor vs. Motor Upper Limb Therapy for Patients With Motor and Somatosensory Deficits: A Randomized Controlled Trial in the Early Rehabilitation Phase After Stroke. Front Neurol. 2020;11:597666. doi: 10.3389/fneur.2020.597666 Crossref.

76. Jan S, Arsh A, Darain H, Gul S. A randomized control trial comparing the effects of motor relearning programme and mirror therapy for improving upper limb motor functions in stroke patients. J Pak Med Assoc. 2019;69:1242–1245.

77. Madhoun HY, Tan B, Feng Y, Zhou Y, Zhou C, Yu L. Task-based mirror therapy enhances the upper limb motor function in subacute stroke patients: a randomized control trial. Eur J Phys Rehabil Med. 2020;56:265–271. doi: 10.23736/S1973-9087.20.06070-0 Crossref.

78. Choi HS, Shin WS, Bang DH. Mirror Therapy Using Gesture Recognition for Upper Limb Function, Neck Discomfort, and Quality of Life After Chronic Stroke: A Single-Blind Randomized Controlled Trial. Med Sci Monit. 2019;25:3271–3278. doi: 10.12659/MSM.914095 Crossref.

79. Bastos VS, Faria C, Faria-Fortini I, Scianni AA. Prevalence of sensory impairments and its contribution to functional disability in individuals with acute stroke: A cross-sectional study. Rev Neurol (Paris). 2025;181:210–216. doi: 10.1016/j.neurol.2024.12.001 Crossref.

80. Serrada I, Hordacre B, Hillier SL. Does Sensory Retraining Improve Sensation and Sensorimotor Function Following Stroke: A Systematic Review and Meta-Analysis. Front Neurosci. 2019;13:402. doi: 10.3389/fnins.2019.00402 Crossref.

81. Jung K, Jung J, In T, Kim T, Cho H-Y. The influence of Task-Related Training combined with Transcutaneous Electrical Nerve Stimulation on paretic upper limb muscle activation in patients with chronic stroke. NeuroRehabilitation. 2017;40:315–323. doi: 10.3233/NRE-161419 Crossref.

82. Ridding MC, McKay DR, Thompson PD, Miles TS. Changes in corticomotor representations induced by prolonged peripheral nerve stimulation in humans. Clin Neurophysiol. 2001;112:1461–1469. doi: 10.1016/s1388-2457(01)00592-2 Crossref.

83. Yamashita A, Murakami T, Hattori N, Miyai I, Ugawa Y. Intensity dependency of peripheral nerve stimulation in spinal LTP induced by paired associative corticospinal-motoneuronal stimulation (PCMS). PLoS One. 2021;16:e0259931. doi: 10.1371/journal.pone.0259931 Crossref.

84. Nudo RJ, Plautz EJ, Frost SB. Role of adaptive plasticity in recovery of function after damage to motor cortex. Muscle Nerve. 2001;24:1000–1019. doi: 10.1002/mus.1104 Crossref.

85. Li W, Li C, Liu A, Lin P-J, Mo L, Zhao H, Xu Q, Meng X, Ji L. Lesion-specific cortical activation following sensory stimulation in patients with subacute stroke. J Neuroeng Rehabil. 2023;20:155. doi: 10.1186/s12984-023-01276-8 Crossref.

86. Yao K, Li Q, Huang W, Xie D, Ma Y, Zou L, Hong Y. Mechanical finger sensory stimulation effects on brain function in post-stroke patients: A resting-state fMRI study. Brain Res. 2025;1864:149822. doi: 10.1016/j.brainres.2025.149822 Crossref.

87. Golaszewski SM, Bergmann J, Christova M, Kunz AB, Kronbichler M, Rafolt D, Gallasch E, Staffen W, Trinka E, Nardone R. Modulation of motor cortex excitability by different levels of whole-hand afferent electrical stimulation. Clin Neurophysiol. 2012;123:193–199. doi: 10.1016/j.clinph.2011.06.010 Crossref.

88. Schaechter JD, Moore CI, Connell BD, Rosen BR, Dijkhuizen RM. Structural and functional plasticity in the somatosensory cortex of chronic stroke patients. Brain. 2006;129:2722–2733. doi: 10.1093/brain/awl214 Crossref. PubMed.

89. Knutson JS, Hisel TZ, Harley MY, Chae J. A novel functional electrical stimulation treatment for recovery of hand function in hemiplegia: 12-week pilot study. Neurorehabil Neural Repair. 2009;23:17–25. doi: 10.1177/1545968308317577 Crossref. PubMed.

90. Richardson MC, Tears C, Morris A, Alexanders J. The Effects of Unilateral Versus Bilateral Motor Training on Upper Limb Function in Adults with Chronic Stroke: A Systematic Review. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2021;30:105617. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2021.105617 Crossref.

91. Kimberley TJ, Pierce D, Prudente CN, Francisco GE, Yozbatiran N, Smith P, Tarver B, Engineer ND, Alexander Dickie D, Kline DK, et al. Vagus Nerve Stimulation Paired With Upper Limb Rehabilitation After Chronic Stroke. Stroke. 2018;49:2789–2792. doi: 10.1161/STROKEAHA.118.022279 Crossref. PubMed.

92. Zhang J, Huang W, Chen Z, Jiang H, Su M, Wang C. Effect of auricular acupuncture on neuroplasticity of stroke patients with motor dysfunction: A fNIRS study. Neurosci Lett. 2023;812:137398. doi: 10.1016/j.neulet.2023.137398 Crossref.

93. Yang A, Wu HM, Tang JL, Xu L, Yang M, Liu GJ. Acupuncture for stroke rehabilitation. Cochrane Database Syst Rev. 2016;2016:CD004131. doi: 10.1002/14651858.CD004131.pub3 Crossref.

94. Zhang B, Kan L, Dong A, Zhang J, Bai Z, Xie Y, Liu Q, Peng Y. The effects of action observation training on improving upper limb motor functions in people with stroke: A systematic review and meta-analysis. PLoS One. 2019;14:e0221166. doi: 10.1371/journal.pone.0221166 Crossref.

95. Borges LR, Fernandes AB, Oliveira Dos Passos J, Rego IAO, Campos TF. Action observation for upper limb rehabilitation after stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2022;8:CD011887. doi: 10.1002/14651858.CD011887.pub3 Crossref.

96. FOCUS Trial Collaboration. Effects of fluoxetine on functional outcomes after acute stroke (FOCUS): a pragmatic, double-blind, randomised, controlled trial. Lancet. 2019;393:265–274. doi: 10.1016/S0140-6736(18)32823-X Crossref.

97. Chollet F, Tardy J, Albucher JF, Thalamas C, Berard E, Lamy C, Bejot Y, Deltour S, Jaillard A, Niclot P, et al. Fluoxetine for motor recovery after acute ischaemic stroke (FLAME): a randomised placebo-controlled trial. Lancet Neurol. 2011;10:123–130. doi: 10.1016/S1474-4422(10)70314-8 Crossref. PubMed.

98. AFFINITY Trial Collaborators. Safety and efficacy of fluoxetine on functional outcome after acute stroke (AFFINITY): a randomised, double-blind, placebo-controlled trial. Lancet Neurol. 2020;19:651–660. doi: 10.1016/S1474-4422(20)30207-6 Crossref.

99. Legg LA, Tilney R, Hsieh CF, Wu S, Lundström E, Rudberg A-S, Kutlubaev MA, Dennis M, Soleimani B, Barugh A, et al. Selective serotonin reuptake inhibitors (SSRIs) for stroke recovery. Cochrane Database Syst Rev. 2019;2019:CD009286. doi: 10.1002/14651858.CD009286.pub3 Crossref. PubMed.

100. Zarshenas S, Colantonio A, Horn SD, Jaglal S, Jacob B, Cullen N. Occupational and Physical Therapy Activities and Level of Effort in Patients With Traumatic Brain Injury: Association With Functional Outcomes. PM R. 2020;12:339–348. doi: 10.1002/pmrj.12260 Crossref.

101. Horn SD, DeJong G, Deutscher D. Practice-based evidence research in rehabilitation: an alternative to randomized controlled trials and traditional observational studies. Arch Phys Med Rehabil. 2012;93:S127–S137. doi: 10.1016/j.apmr.2011.10.031 Crossref.

5.7. Adaptive Equipment, Durable Medical Devices, Orthotics, and Wheelchairs

1. Boland P, Levack WMM, Graham FP, Perry MA. User perspective on receiving adaptive equipment after stroke: A mixed-methods study. Can J Occup Ther. 2018;85:297–306. doi: 10.1177/0008417418800834 Crossref.

2. Legg LA, Lewis SR, Schofield-Robinson OJ, Drummond A, Langhorne P. Occupational therapy for adults with problems in activities of daily living after stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2017;7:CD003585. doi: 10.1002/14651858.CD003585.pub3 Crossref.

3. Jutai J, Coulson S, Teasell R, Bayley M, Garland J, Mayo N, Wood-Dauphinee S. Mobility assistive device utilization in a prospective study of patients with first-ever stroke. Arch Phys Med Rehabil. 2007;88:1268–1275. doi: 10.1016/j.apmr.2007.06.773 Crossref. PubMed.

4. Nascimento LR, Ada L, Teixeira-Salmela LF. The provision of a cane provides greater benefit to community-dwelling people after stroke with a baseline walking speed between 0.4 and 0.8 metres/second: an experimental study. Physiotherapy. 2016;102:351–356. doi: 10.1016/j.physio.2015.10.005 Crossref.

5. Polese JC, Teixeira-Salmela LF, Nascimento LR, Faria CDM, Kirkwood RN, Laurentino GC, Ada L. The effects of walking sticks on gait kinematics and kinetics with chronic stroke survivors. Clin Biomech (Bristol). 2012;27:131–137. doi: 10.1016/j.clinbiomech.2011.08.003 Crossref.

6. Tyson SF, Rogerson L. Assistive walking devices in nonambulant patients undergoing rehabilitation after stroke: the effects on functional mobility, walking impairments, and patients' opinion. Arch Phys Med Rehabil. 2009;90:475–479. doi: 10.1016/j.apmr.2008.09.563 Crossref.

7. Barker DJ, Reid D, Cott C. The experience of senior stroke survivors: factors in community participation among wheelchair users. Can J Occup Ther. 2006;73:18–25. doi: 10.2182/cjot.05.0002 Crossref.

8. Barrett JA, Watkins C, Plant R, Dickinson H, Clayton L, Sharma AK, Reston A, Gratton J, Fall S, Flynn A, et al. The COSTAR wheelchair study: a two-centre pilot study of self-propulsion in a wheelchair in early stroke rehabilitation. Collaborative Stroke Audit and Research. Clin Rehabil. 2001;15:32–41. doi: 10.1191/026921501672264719 Crossref.

9. Mountain AD, Kirby RL, Eskes GA, Smith C, Duncan H, MacLeod DA, Thompson K. Ability of people with stroke to learn powered wheelchair skills: a pilot study. Arch Phys Med Rehabil. 2010;91:596–601. doi: 10.1016/j.apmr.2009.12.011 Crossref. PubMed.

10. Mountain AD, Kirby RL, MacLeod DA, Thompson K. Rates and predictors of manual and powered wheelchair use for persons with stroke: a retrospective study in a Canadian rehabilitation center. Arch Phys Med Rehabil. 2010;91:639–643. doi: 10.1016/j.apmr.2009.11.025 Crossref. PubMed.

11. Pettersson I, Ahlstrom G, Tornquist K. The value of an outdoor powered wheelchair with regard to the quality of life of persons with stroke: a follow-up study. Assist Technol. 2007;19:143–153. doi: 10.1080/10400435.2007.10131871 Crossref. PubMed.

12. Choo YJ, Chang MC. Effectiveness of an ankle-foot orthosis on walking in patients with stroke: a systematic review and meta-analysis. Sci Rep. 2021;11:15879. doi: 10.1038/s41598-021-95449-x Crossref.

13. Daryabor A, Kobayashi T, Yamamoto S, Lyons SM, Orendurff M, Akbarzadeh Baghban A. Effect of ankle-foot orthoses on functional outcome measurements in individuals with stroke: a systematic review and meta-analysis. Disabil Rehabil. 2022;44:6566–6581. doi: 10.1080/09638288.2021.1970248 Crossref.

14. Nikamp CD, Buurke JH, van der Palen J, Hermens HJ, Rietman JS. Early or delayed provision of an ankle-foot orthosis in patients with acute and subacute stroke: a randomized controlled trial. Clin Rehabil. 2017;31:798–808. doi: 10.1177/0269215516658337 Crossref.

15. Paula GV, Luvizutto GJ, Miranda LA, Regina da Silva T, Silva LTC, Winckler FC, Modolo GP, Chiloff CLM, Zanati Bazan SG, Costa RDM, et al. Articulated ankle-foot orthoses associated with home-based task-specific training improve functional mobility in patients with stroke: a randomized clinical trial. Top Stroke Rehabil. 2025;32:280–293. doi: 10.1080/10749357.2024.2399467 Crossref.

16. Wu F, Meng Z, Yang K, Li J. Effects of ankle-foot orthoses on gait parameters in post-stroke patients with different Brunnstrom stages of the lower limb: a single-center crossover trial. Eur J Med Res. 2024;29:235. doi: 10.1186/s40001-024-01835-2 Crossref.

17. Bethoux F, Rogers HL, Nolan KJ, Abrams GM, Annaswamy T, Brandstater M, Browne B, Burnfield JM, Feng W, Freed MJ, et al. Long-Term Follow-up to a Randomized Controlled Trial Comparing Peroneal Nerve Functional Electrical Stimulation to an Ankle Foot Orthosis for Patients With Chronic Stroke. Neurorehabil Neural Repair. 2015;29:911–922. doi: 10.1177/1545968315570325 Crossref.

18. Bethoux F, Rogers HL, Nolan KJ, Abrams GM, Annaswamy TM, Brandstater M, Browne B, Burnfield JM, Feng W, Freed MJ, et al. The effects of peroneal nerve functional electrical stimulation versus ankle-foot orthosis in patients with chronic stroke: a randomized controlled trial. Neurorehabil Neural Repair. 2014;28:688–697. doi: 10.1177/1545968314521007 Crossref.

19. Nascimento LR, da Silva LA, Araujo Barcellos JVM, Teixeira-Salmela LF. Ankle-foot orthoses and continuous functional electrical stimulation improve walking speed after stroke: a systematic review and meta-analyses of randomized controlled trials. Physiotherapy. 2020;109:43–53. doi: 10.1016/j.physio.2020.08.002 Crossref.

20. Kerr L, Jewell VD, Jensen L. Stretching and Splinting Interventions for Poststroke Spasticity, Hand Function, and Functional Tasks: A Systematic Review. Am J Occup Ther. 2020;74:7405205050p1–7405205050p15. doi: 10.5014/ajot.2020.029454 Crossref.

21. Pritchard K, Edelstein J, Zubrenic E, Tsao L, Pustina K, Berendsen M, Wafford E. Systematic review of orthoses for stroke-induced upper extremity deficits. Top Stroke Rehabil. 2019;26:389–398. doi: 10.1080/10749357.2019.1599172 Crossref.

22. Alexander J, Dawson J, Langhorne P. Dynamic hand orthoses for the recovery of hand and arm function in adults after stroke: A systematic review and meta-analysis of randomised controlled trials. Top Stroke Rehabil. 2022;29:114–124. doi: 10.1080/10749357.2021.1878669 Crossref.

23. Kairalla JA, Winkler SL, Feng H. Understanding the provision of assistive mobility and daily living devices and service delivery to veterans after stroke. Am J Occup Ther. 2015;70:7001290020p1–7001290020p10. doi: 10.5014/ajot.2016.015768 Crossref.

24. America. REaATSoN. RESNA Wheelchair Service Provision Guide. RESNA; 2011. Accessed June 29, 2013. http://www.resna.org/dotAsset/22485.pdf.

25. Bardi E, Gandolla M, Braghin F, Resta F, Pedrocchi ALG, Ambrosini E. Upper limb soft robotic wearable devices: a systematic review. J Neuroeng Rehabil. 2022;19:87. doi: 10.1186/s12984-022-01065-9 Crossref.

26. Morris L, Diteesawat RS, Rahman N, Turton A, Cramp M, Rossiter J. The-state-of-the-art of soft robotics to assist mobility: a review of physiotherapist and patient identified limitations of current lower-limb exoskeletons and the potential soft-robotic solutions. J Neuroeng Rehabil. 2023;20:18. doi: 10.1186/s12984-022-01122-3 Crossref.

27. Ochieze C, Zare S, Sun Y. Wearable upper limb robotics for pervasive health: a review. Prog Biomed Eng. 2023;5:032003. doi: 10.1088/2516-1091/acc70a Crossref.

28. Rogerson L, Burr J, Tyson S. The feasibility and acceptability of smart home technology using the Howz system for people with stroke. Disabil Rehabil Assist Technol. 2020;15:148–152. doi: 10.1080/17483107.2018.1541103 Crossref.

29. Willems EMG, Vermeulen J, van Haastregt JCM, Zijlstra GAR. Technologies to improve the participation of stroke patients in their home environment. Disabil Rehabil. 2022;44:7116–7126. doi: 10.1080/09638288.2021.1983041 Crossref.

30. Zarshenas S, Couture M, Bier N, Giroux S, Nalder E, Lemsky C, Pigot H, Dawson DR, Gosselin N, Le Dorze G, et al. Implementation of an assistive technology for meal preparation within a supported residence for adults with acquired brain injury: a mixed-methods single case study. Disabil Rehabil Assist Technol. 2023;18:1330–1346. doi: 10.1080/17483107.2021.2005163 Crossref.

31. Yachnin D, Gharib G, Jutai J, Finestone H. Technology-assisted toilets: Improving independence and hygiene in stroke rehabilitation. J Rehabil Assist Technol Eng. 2017;4:2055668317725686. doi: 10.1177/2055668317725686 Crossref.

5.8. Lifestyle Modification and Management

References

1. Turan TN, Nizam A, Lynn MJ, Egan BM, Le N-A, Lopes-Virella MF, Hermayer KL, Harrell J, Derdeyn CP, Fiorella D, et al. Relationship between risk factor control and vascular events in the SAMMPRIS trial. Neurology. 2017;88:379–385. doi: 10.1212/WNL.0000000000003534 Crossref. PubMed.

2. D’Isabella NT, Shkredova DA, Richardson JA, Tang A. Effects of exercise on cardiovascular risk factors following stroke or transient ischemic attack: a systematic review and meta-analysis. Clin Rehabil. 2017;31:1561–1572. doi: 10.1177/0269215517709051 Crossref.

3. Deijle IA, Van Schaik SM, Van Wegen EE, Weinstein HC, Kwakkel G, Van den Berg-Vos RM. Lifestyle Interventions to Prevent Cardiovascular Events After Stroke and Transient Ischemic Attack: Systematic Review and Meta-Analysis. Stroke. 2017;48:174–179. doi: 10.1161/STROKEAHA.116.013794 Crossref. PubMed.

4. English C, Janssen H, Crowfoot G, Bourne J, Callister R, Dunn A, Oldmeadow C, Ong LK, Palazzi K, Patterson A, et al. Frequent, short bouts of light-intensity exercises while standing decreases systolic blood pressure: Breaking Up Sitting Time after Stroke (BUST-Stroke) trial. Int J Stroke. 2018;13:932–940. doi: 10.1177/1747493018798535 Crossref.

5. Delgado-Lista J, Alcala-Diaz JF, Torres-Pena JD, Quintana-Navarro GM, Fuentes F, Garcia-Rios A, Ortiz-Morales AM, Gonzalez-Requero AI, Perez-Caballero AI, Yubero-Serrano EM, et al; CORDIOPREV Investigators. Long-term secondary prevention of cardiovascular disease with a Mediterranean diet and a low-fat diet (CORDIOPREV): a randomised controlled trial. Lancet. 2022;399:1876–1885. doi: 10.1016/S0140-6736(22)00122-2 Crossref. PubMed.

6. Estruch R, Ros E, Salas-Salvado J, Covas M-I, Corella D, Arós F, Gómez-Gracia E, Ruiz-Gutiérrez V, Fiol M, Lapetra J, et al; PREDIMED Study Investigators. Primary Prevention of Cardiovascular Disease with a Mediterranean Diet Supplemented with Extra-Virgin Olive Oil or Nuts. N Engl J Med. 2018;378:e34. doi: 10.1056/NEJMoa1800389 Crossref. PubMed.

7. Neal B, Wu Y, Feng X, Zhang R, Zhang Y, Shi J, Zhang J, Tian M, Huang L, Li Z, et al. Effect of Salt Substitution on Cardiovascular Events and Death. N Engl J Med. 2021;385:1067–1077. doi: 10.1056/NEJMoa2105675 Crossref. PubMed.

8. Yin X, Rodgers A, Perkovic A, Huang L, Li K-C, Yu J, Wu Y, Wu JHY, Marklund M, Huffman MD, et al. Effects of salt substitutes on clinical outcomes: a systematic review and meta-analysis. Heart. 2022;108:1608–1615. doi: 10.1136/heartjnl-2022-321332 Crossref. PubMed.

9. Anthenelli RM, Benowitz NL, West R, St Aubin L, McRae T, Lawrence D, Ascher J, Russ C, Krishen A, Evins AE. Neuropsychiatric safety and efficacy of varenicline, bupropion, and nicotine patch in smokers with and without psychiatric disorders (EAGLES): a double-blind, randomised, placebo-controlled clinical trial. Lancet. 2016;387:2507–2520. doi: 10.1016/S0140-6736(16)30272-0 Crossref. PubMed.

10. Benowitz NL, Pipe A, West R, Hays JT, Tonstad S, McRae T, Lawrence D, St Aubin L, Anthenelli RM. Cardiovascular Safety of Varenicline, Bupropion, and Nicotine Patch in Smokers: A Randomized Clinical Trial. JAMA Intern Med. 2018;178:622–631. doi: 10.1001/jamainternmed.2018.0397 Crossref.

11. Chen J, Li S, Zheng K, Wang H, Xie Y, Xu P, Dai Z, Gu M, Xia Y, Zhao M, et al. Impact of Smoking Status on Stroke Recurrence. J Am Heart Assoc. 2019;8:e011696. doi: 10.1161/JAHA.118.011696 Crossref. PubMed.

12. Hackshaw A, Morris JK, Boniface S, Tang J-L, Milenković D. Low cigarette consumption and risk of coronary heart disease and stroke: meta-analysis of 141 cohort studies in 55 study reports. BMJ. 2018;360:j5855. doi: 10.1136/bmj.j5855 Crossref. PubMed.

13. Piano MR, Marcus GM, Aycock DM, Buckman J, Hwang C-L, Larsson SC, Mukamal KJ, Roerecke M; on behalf the American Heart Association Council on Lifestyle and Cardiometabolic Health; Council on Cardiovascular and Stroke Nursing; Council on Clinical Cardiology; and Stroke Council. Alcohol Use and Cardiovascular Disease: A Scientific Statement From the American Heart Association. Circulation. 2025;152:e7–e21. doi: 10.1161/CIR.0000000000001341 Crossref. PubMed.

14. Indave BI, Sordo L, Bravo MJ, Sarasa-Renedo A, Fernández-Balbuena S, De la Fuente L, Sonego M, Barrio G. Risk of stroke in prescription and other amphetamine-type stimulants use: A systematic review. Drug Alcohol Rev. 2018;37:56–69. doi: 10.1111/dar.12559 Crossref.

15. Rendon LF, Malta S, Leung J, Badenes R, Nozari A, Bilotta F. Cocaine and Ischemic or Hemorrhagic Stroke: A Systematic Review and Meta-Analysis of Clinical Evidence. J Clin Med. 2023;12:5207. doi: 10.3390/jcm12165207 Crossref.

16. Salehi Omran S, Chatterjee A, Chen ML, Lerario MP, Merkler AE, Kamel H. National Trends in Hospitalizations for Stroke Associated With Infective Endocarditis and Opioid Use Between 1993 and 2015. Stroke. 2019;50:577–582. doi: 10.1161/STROKEAHA.118.024436 Crossref. PubMed.

17. Baddour LM, Weimer MB, Wurcel AG, McElhinney DB, Marks LR, Fanucchi LC, Esquer Garrigos Z, Pettersson GB, DeSimone DC; American Heart Association Rheumatic Fever, Endocarditis and Kawasaki Disease Committee of the Council on Lifelong Congenital Heart Disease and Heart Health in the Young; Council on Cardiovascular Surgery and Anesthesia; Council on Cardiovascular and Stroke Nursing; Council on Clinical Cardiology; and Council on Peripheral Vascular Disease. Management of Infective Endocarditis in People Who Inject Drugs: A Scientific Statement From the American Heart Association. Circulation. 2022;146:e187–e201. doi: 10.1161/CIR.0000000000001090 Crossref. PubMed.

18. Kleindorfer DO, Towfighi A, Chaturvedi S, Cockroft KM, Gutierrez J, Lombardi-Hill D, Kamel H, Kernan WN, Kittner SJ, Leira EC, et al. 2021 Guideline for the Prevention of Stroke in Patients With Stroke and Transient Ischemic Attack: A Guideline From the American Heart Association/American Stroke Association. Stroke. 2021;52:e364–e467. doi: 10.1161/STR.0000000000000375 Crossref. PubMed.

19. Tarihoran DETAU, Honey M, Slark J. Educational strategies for secondary stroke prevention: an integrative literature review. Am J Health Educ. 2021;52:364–376. doi: 10.1080/19325037.2021.1973616 Crossref.

20. Lawrence M, Kerr S, McVey C, Godwin J. The effectiveness of secondary prevention lifestyle interventions designed to change lifestyle behavior following stroke: summary of a systematic review. Int J Stroke. 2012;7:243–247. doi: 10.1111/j.1747-4949.2012.00771.x Crossref. PubMed.

21. Mackay-Lyons M, Thornton M, Ruggles T, Che M. Non-pharmacological interventions for preventing secondary vascular events after stroke or transient ischemic attack. Cochrane Database Syst Rev. 2013;2013:CD008656. doi: 10.1002/14651858.CD008656.pub2 Crossref.

22. Bushnell C, Kernan WN, Sharrief AZ, Chaturvedi S, Cole JW, Cornwell WK, Cosby-Gaither C, Doyle S, Goldstein LB, Lennon O, et al. 2024 Guideline for the Primary Prevention of Stroke: A Guideline From the American Heart Association/American Stroke Association. Stroke. 2024;55:e344–e424. doi: 10.1161/STR.0000000000000475 Crossref. PubMed.

23. Lin MP, Ovbiagele B, Markovic D, Towfighi A. Association of Secondhand Smoke With Stroke Outcomes. Stroke. 2016;47:2828–2835. doi: 10.1161/STROKEAHA.116.014099 Crossref. PubMed.

5.9. Treatment and Interventions for Visual Impairments

1. Scheiman M, Kulp MT, Cotter SA, Lawrenson JG, Wang L, Li T. Interventions for convergence insufficiency: a network meta-analysis. Cochrane Database Syst Rev. 2020;12:CD006768. doi: 10.1002/14651858.CD006768.pub3 Crossref.

2. Trieu LH, Lavrich JB. Current concepts in convergence insufficiency. Curr Opin Ophthalmol. 2018;29:401–406. doi: 10.1097/ICU.0000000000000502 Crossref.

3. Batool S, Zafar H, Gilani SA, Ahmad A, Hanif A. Effects of visual scanning exercises in addition to task specific approach on balance and activities of daily livings in post stroke patients with eye movement disorders: a randomized controlled trial. BMC Neurol. 2022;22:312. doi: 10.1186/s12883-022-02843-7 Crossref.

4. Schow T, Harris P, Teasdale TW, Rasmussen MA. Evaluation of a four month rehabilitation program for stroke patients with balance problems and binocular visual dysfunction. NeuroRehabilitation. 2016;38:331–341. doi: 10.3233/NRE-161324 Crossref.

5. Rowe FJ, Hanna K, Evans JR, Noonan CP, Garcia-Finana M, Dodridge CS, Howard C, Jarvis KA, MacDiarmid SL, Maan T, et al. Interventions for eye movement disorders due to acquired brain injury. Cochrane Database Syst Rev. 2018;3:CD011290. doi: 10.1002/14651858.CD011290.pub2 Crossref.

6. Thiagarajan P, Ciuffreda KJ, Capo-Aponte JE, Ludlam DP, Kapoor N. Oculomotor neurorehabilitation for reading in mild traumatic brain injury (mTBI): an integrative approach. NeuroRehabilitation. 2014;34:129–146. doi: 10.3233/NRE-131025 Crossref.

7. Bowers AR, Keeney K, Peli E. Randomized crossover clinical trial of real and sham peripheral prism glasses for hemianopia. JAMA Ophthalmol. 2014;132:214–222. doi: 10.1001/jamaophthalmol.2013.5636 Crossref.

8. Pollock A, Hazelton C, Rowe FJ, Jonuscheit S, Kernohan A, Angilley J, Henderson CA, Langhorne P, Campbell P. Interventions for visual field defects in people with stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2019;5:CD008388. doi: 10.1002/14651858.CD008388.pub3 Crossref.

9. Rowe FJ, Conroy EJ, Bedson E, Cwiklinski E, Drummond A, García-Fiñana M, Howard C, Pollock A, Shipman T, Dodridge C, et al. A pilot randomized controlled trial comparing effectiveness of prism glasses, visual search training and standard care in hemianopia. Acta Neurol Scand. 2017;136:310–321. doi: 10.1111/ane.12725 Crossref.

10. Aimola L, Lane AR, Smith DT, Kerkhoff G, Ford GA, Schenk T. Efficacy and feasibility of home-based training for individuals with homonymous visual field defects. Neurorehabil Neural Repair. 2014;28:207–218. doi: 10.1177/1545968313503219 Crossref.

11. de Haan GA, Melis-Dankers BJ, Brouwer WH, Tucha O, Heutink J. The Effects of Compensatory Scanning Training on Mobility in Patients with Homonymous Visual Field Defects: A Randomized Controlled Trial. PLoS One. 2015;10:e0134459. doi: 10.1371/journal.pone.0134459 Crossref.

12. Rowe FJ, Brayshaw E, Brown M, Chatterjee K, Drummond A, Hazelton C, Helliwell B, Hepworth LR, Howard C, Johnson S, et al. A randomized controlled trial of Scanning Eye trAining as a Rehabilitation Choice for Hemianopia after stroke (SEARCH). Int J Stroke. 2025;20:968–976. doi: 10.1177/17474930251330140 Crossref.

13. Szalados R, Leff AP, Doogan CE. The clinical effectiveness of Eye-Search therapy for patients with hemianopia, neglect or hemianopia and neglect. Neuropsychol Rehabil. 2021;31:971–982. doi: 10.1080/09602011.2020.1751662 Crossref.

14. Cavanaugh MR, Blanchard LM, McDermott M, Lam BL, Tamhankar M, Feldon SE. Efficacy of Visual Retraining in the Hemianopic Field after Stroke: Results of a Randomized Clinical Trial. Ophthalmology. 2021;128:1091–1101. doi: 10.1016/j.ophtha.2020.11.020 Crossref.

15. Elshout JA, Bergsma DP, Sibbel J, Baars-Elsinga A, Lubbers P, Van Asten F, Visser-Meily J, Van Den Berg AV. Improvement in activities of daily living after visual training in patients with homonymous visual field defects using Goal Attainment Scaling. Restor Neurol Neurosci. 2018;36:1–12. doi: 10.3233/RNN-170719 Crossref.

16. Elshout JA, van Asten F, Hoyng CB, Bergsma DP, van den Berg AV. Visual Rehabilitation in Chronic Cerebral Blindness: A Randomized Controlled Crossover Study. Front Neurol. 2016;7:92. doi: 10.3389/fneur.2016.00092 Crossref.

17. Leitner MC, Ladek AM, Hutzler F, Reitsamer H, Hawelka S. Placebo effect after visual restitution training: no eye-tracking controlled perimetric improvement after visual border stimulation in late subacute and chronic visual field defects after stroke. Front Neurol. 2023;14:1114718. doi: 10.3389/fneur.2023.1114718 Crossref.

18. Namgung E, Kim BJ, Kwon JH, Han M-K, Kim HY, Jung J-M, Kim JG, Park K-Y, Koo J, Hong K-S, et al. Personalized Visual Perceptual Learning Digital Therapy for Visual Field Defects Following Stroke: A Randomized Clinical Trial. JAMA Netw Open. 2025;8:e2511068. doi: 10.1001/jamanetworkopen.2025.11068 Crossref.

19. Alwashmi K, Meyer G, Rowe FJ. Audio-visual stimulation for visual compensatory functions in stroke survivors with visual field defect: a systematic review. Neurol Sci. 2022;43:2299–2321. doi: 10.1007/s10072-022-05926-y Crossref.

20. Bolognini N, Diana L, Rossetti A, Melzi L, Basso G, Manzo V, Cruz-Sanabria F, Cammarata G, Cernigliaro F, Bianchi Marzoli S, et al. Telerehabilitation for visual field defects with a multisensory training: a feasibility study. J Neuroeng Rehabil. 2025;22:34. doi: 10.1186/s12984-025-01573-4 Crossref.

21. Grasso PA, Ladavas E, Bertini C. Compensatory Recovery after Multisensory Stimulation in Hemianopic Patients: Behavioral and Neurophysiological Components. Front Syst Neurosci. 2016;10:45. doi: 10.3389/fnsys.2016.00045 Crossref.

22. Dehn LB, Piefke M, Toepper M, Kohsik A, Rogalewski A, Dyck E, Botsch M, Schäbitz W-R. Cognitive training in an everyday-like virtual reality enhances visual-spatial memory capacities in stroke survivors with visual field defects. Top Stroke Rehabil. 2020;27:442–452. doi: 10.1080/10749357.2020.1716531 Crossref.

23. Choi D, Choi W, Lee S. Influence of Nintendo Wii Fit balance game on visual perception, postural balance, and walking in stroke survivors: a pilot randomized clinical trial. Games Health J. 2018;7:377–384. doi: 10.1089/g4h.2017.0126 Crossref.

24. Barrett BT. A critical evaluation of the evidence supporting the practice of behavioural vision therapy. Ophthalmic Physiol Opt. 2009;29:4–25. doi: 10.1111/j.1475-1313.2008.00607.x Crossref.

25. Hepworth LR, Rowe FJ, Walker MF, Rockliffe J, Noonan C, Howard C, Currie J. Post-stroke visual impairment: a systematic literature review of types and recovery of visual conditions. OR. 2016;5:1–43. doi: 10.9734/or/2016/21767 Crossref.

26. Hazelton C, Thomson K, Todhunter-Brown A, Campbell P, Chung CS, Dorris L, Gillespie DC, Hunter SM, McGill K, Nicolson DJ, et al. Interventions for perceptual disorders following stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2022;11:CD007039. doi: 10.1002/14651858.CD007039.pub3 Crossref.

27. Abbas AW, Aboeldahab H, Zeid MA, Hassan AK, Hindawi MD, Elrosasy A, Lorabi S, Hawas Y, Safwat B. Non-invasive brain stimulation for treating visual defects: a systematic review and meta-analysis. Neurol Sci. 2025;46:3039–3052. doi: 10.1007/s10072-025-08069-y Crossref.

28. Postuma E, Heutink J, Tol S, Jansen JL, Koopman J, Cornelissen FW, de Haan GA. A systematic review on visual scanning behaviour in hemianopia considering task specificity, performance improvement, spontaneous and training-induced adaptations. Disabil Rehabil. 2024;46:3221–3242. doi: 10.1080/09638288.2023.2243590 Crossref.

29. Hazelton C, McGill K, Campbell P, Todhunter-Brown A, Thomson K, Nicolson DJ, Cheyne JD, Chung C, Dorris L, Gillespie DC, et al. Perceptual Disorders After Stroke: A Scoping Review of Interventions. Stroke. 2022;53:1772–1787. doi: 10.1161/STROKEAHA.121.035671 Crossref. PubMed.

30. Hanna KL, Hepworth LR, Rowe FJ. The treatment methods for post-stroke visual impairment: A systematic review. Brain Behav. 2017;7:e00682. doi: 10.1002/brb3.682 Crossref.

31. Willis HE, Cavanaugh MR, Ajina S, Pestilli F, Tamietto M, Huxlin KR, Watkins KE, Bridge H. Rehabilitating homonymous visual field deficits: white matter markers of recovery-stage 1 registered report. Brain Commun. 2024;6:fcae324. doi: 10.1093/braincomms/fcae324 Crossref.

32. Rossi PW, Kheyfets S, Reding MJ. Fresnel prisms improve visual perception in stroke patients with homonymous hemianopia or unilateral visual neglect. Neurology. 1990;40:1597–1599. doi: 10.1212/wnl.40.10.1597 Crossref.

33. Alber R, Moser H, Gall C, Sabel BA. Combined Transcranial Direct Current Stimulation and Vision Restoration Training in Subacute Stroke Rehabilitation: A Pilot Study. PM R. 2017;9:787–794. doi: 10.1016/j.pmrj.2016.12.003 Crossref.

34. Raty S, Borrmann C, Granata G, Cárdenas-Morales L, Schoenfeld A, Sailer M, Silvennoinen K, Holopainen J, De Rossi F, Antal A, et al. Non-invasive electrical brain stimulation for vision restoration after stroke: An exploratory randomized trial (REVIS). Restor Neurol Neurosci. 2021;39:221–235. doi: 10.3233/RNN-211198 Crossref.

5.10 Dysphagia Screening, Management, and Nutritional Support

1. Urimubenshi G, Langhorne P, Cadilhac DA, Kagwiza JN, Wu O. Association between patient outcomes and key performance indicators of stroke care quality: A systematic review and meta-analysis. Eur Stroke J. 2017;2:287–307. doi: 10.1177/2396987317735426 Crossref. PubMed.

2. Boaden E, Burnell J, Hives L, Dey P, Clegg A, Lyons MW, Lightbody CE, Hurley MA, Roddam H, McInnes E, et al. Screening for aspiration risk associated with dysphagia in acute stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2021;10:CD012679. doi: 10.1002/14651858.CD012679.pub2 Crossref.

3. Sherman V, Greco E, Martino R. The Benefit of Dysphagia Screening in Adult Patients With Stroke: A Meta-Analysis. J Am Heart Assoc. 2021;10:e018753. doi: 10.1161/JAHA.120.018753 Crossref. PubMed.

4. Guillen-Sola A, Chiarella SC, Martinez-Orfila J, Duarte E, Alvarado-Panesso M, Figueres-Cugat A, Bas N, Marco E. Usefulness of citric cough test for screening of silent aspiration in subacute stroke patients: a prospective study. Arch Phys Med Rehabil. 2015;96:1277–1283. doi: 10.1016/j.apmr.2015.02.028 Crossref.

5. Sherman V, Flowers H, Kapral MK, Nicholson G, Silver F, Martino R. Screening for Dysphagia in Adult Patients with Stroke: Assessing the Accuracy of Informal Detection. Dysphagia. 2018;33:662–669. doi: 10.1007/s00455-018-9885-8 Crossref.

6. Marian T, Schroder J, Muhle P, Claus I, Oelenberg S, Hamacher C, Warnecke T, Suntrup-Krüger S, Dziewas R. Measurement of Oxygen Desaturation Is Not Useful for the Detection of Aspiration in Dysphagic Stroke Patients. Cerebrovasc Dis Extra. 2017;7:44–50. doi: 10.1159/000453083 Crossref.

7. Trimble J, Patterson JM, Wilson JA, Dixit AK, Drinnan M. Screening for silent aspiration in hyperacute stroke: A feasibility study of clinical swallowing examination and cough reflex testing. Int J Lang Commun Disord. 2023;58:1657–1667. doi: 10.1111/1460-6984.12893 Crossref.

8. Bengisu S, Oge-Dasdogen O, Yildiz HY. Comparative analysis of videofluoroscopy and pulse oximetry for aspiration identification in patients with dysphagia after stroke and non-dysphagics. Eur Arch Otorhinolaryngol. 2024;281:3095–3105. doi: 10.1007/s00405-024-08613-0 Crossref.

9. Nakamori M, Imamura E, Maetani Y, Yoshida M, Yoshikawa M, Nagasaki T, Masuda S, Kayashita J, Mizoue T, Wakabayashi S, et al. Prospective Observational Study for the Comparison of Screening Methods Including Tongue Pressure and Repetitive Saliva Swallowing With Detailed Videofluoroscopic Swallowing Study Findings in Patients With Acute Stroke. J Am Heart Assoc. 2024;13:e032852. doi: 10.1161/JAHA.123.032852 Crossref. PubMed.

10. Bax L, McFarlane M, Green E, Miles A. Speech-language pathologist-led fiberoptic endoscopic evaluation of swallowing: functional outcomes for patients after stroke. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2014;23:e195–e200. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2013.09.031 Crossref.

11. Dziewas R, Auf dem Brinke M, Birkmann U, Bräuer G, Busch K, Cerra F, Damm-Lunau R, Dunkel J, Fellgiebel A, Garms E, et al. Safety and clinical impact of FEES - results of the FEES-registry. Neurol Res Pract. 2019;1:16. doi: 10.1186/s42466-019-0021-5 Crossref.

12. Braun T, Juenemann M, Viard M, Meyer M, Reuter I, Prosiegel M, Kaps M, Tanislav C. Adjustment of oral diet based on flexible endoscopic evaluation of swallowing (FEES) in acute stroke patients: a cross-sectional hospital-based registry study. BMC Neurol. 2019;19:282. doi: 10.1186/s12883-019-1499-8 Crossref.

13. Ogawa Y, Inagawa M, Kimura M, Iida T, Hirai A, Yoshida T, Ito N, Kawahara Y, Ueda R, Morohoshi A, et al. Nutritional intervention after an early assessment by a flexible endoscopic evaluation of swallowing is associated with a shorter hospital stay for patients with acute cerebral infarction: A retrospective study. Asia Pac J Clin Nutr. 2021;30:199–205. doi: 10.6133/apjcn.202106_30(2).0003 Crossref.

14. Braun T, Juenemann M, Viard M, Meyer M, Reuter I, Mausbach S, Doerr JM, Schirotzek I, Prosiegel M, Schramm P, et al. Flexible endoscopic evaluation of swallowing (FEES) to determine neurological intensive care patients' oral diet. Int J Speech Lang Pathol. 2021;23:83–91. doi: 10.1080/17549507.2020.1744727 Crossref.

15. Helliwell K, Hughes VJ, Bennion CM, Manning-Stanley A. The use of videofluoroscopy (VFS) and fibreoptic endoscopic evaluation of swallowing (FEES) in the investigation of oropharyngeal dysphagia in stroke patients: A narrative review. Radiography (Lond). 2023;29:284–290. doi: 10.1016/j.radi.2022.12.007 Crossref.

16. Pinho J, Meyer T, Mall B, Maring B, Döpp A, Becker J, Wehner A, Thissen S, Schumann-Werner B, Nikoubashman O, et al. Early flexible endoscopic evaluation of swallowing after mechanical thrombectomy in stroke patients. Ann Clin Transl Neurol. 2024;11:757–767. doi: 10.1002/acn3.51998 Crossref.

17. Rangarathnam B, McCullough GH. Utility of a Clinical Swallowing Exam for Understanding Swallowing Physiology. Dysphagia. 2016;31:491–497. doi: 10.1007/s00455-016-9702-1 Crossref.

18. Karaca Umay E, Gundogdu I, Gurcay E, Öztürk E, Yilmaz V, Karaahmet O, Eren Y, Saylam G, Çakci A. The psychometric evaluation of the Turkish version of the Mann Assessment of Swallowing Ability in patients in the early period after stroke. Turk J Med Sci. 2018;48:1153–1161. doi: 10.3906/sag-1708-72 Crossref.

19. Mancin S, Sguanci M, Reggiani F, Morenghi E, Piredda M, De Marinis MG. Dysphagia screening post-stroke: systematic review. BMJ Support Palliat Care. 2024;13:e641–e650. doi: 10.1136/spcare-2022-004144 Crossref.

20. Anderson JA, Pathak S, Rosenbek JC, Morgan RO, Daniels SK. Rapid Aspiration Screening for Suspected Stroke: Part 2: Initial and Sustained Nurse Accuracy and Reliability. Arch Phys Med Rehabil. 2016;97:1449–1455. doi: 10.1016/j.apmr.2016.03.024 Crossref.

21. Selg J, Holmlund T, Jaghagen EL, McGreevy J, Svanberg S, Wester P, Hägglund P. Validity and Reliability of the Swedish Version of the Gugging Swallowing Screen for use in Acute Stroke Care. Dysphagia. 2025;40:176–186. doi: 10.1007/s00455-024-10717-y Crossref.

22. Schiele JT, Penner H, Schneider H, Quinzler R, Reich G, Wezler N, Micol W, Oster P, Haefeli WE. Swallowing Tablets and Capsules Increases the Risk of Penetration and Aspiration in Patients with Stroke-Induced Dysphagia. Dysphagia. 2015;30:571–582. doi: 10.1007/s00455-015-9639-9 Crossref.

23. Trapl-Grundschober M, Struhal W, Teuschl Y, Schulz S, Sollereder S, Osterbrink J. Medication Administration in Poststroke Dysphagia: Evaluating Swallowing Safety of Solid Dosage Forms. Stroke. 2025;56:2494–2502. doi: 10.1161/STROKEAHA.125.051237 Crossref. PubMed.

24. Lan Y, Xu G, Dou Z, Lin T, Yu F, Jiang L. The correlation between manometric and videofluoroscopic measurements of the swallowing function in brainstem stroke patients with Dysphagia. J Clin Gastroenterol. 2015;49:24–30. doi: 10.1097/MCG.0000000000000100 Crossref.

25. Lee JH, Kim HS, Yun DH, Chon J, Han YJ, Yoo SD, Kim DH, Lee SA, Joo HI, Park J-S, et al. The Relationship Between Tongue Pressure and Oral Dysphagia in Stroke Patients. Ann Rehabil Med. 2016;40:620–628. doi: 10.5535/arm.2016.40.4.620 Crossref.

26. Lee T, Park JH, Sohn C, Yoon KJ, Lee Y-T, Park JH, Jung IS. Failed Deglutitive Upper Esophageal Sphincter Relaxation Is a Risk Factor for Aspiration in Stroke Patients with Oropharyngeal Dysphagia. J Neurogastroenterol Motil. 2017;23:34–40. doi: 10.5056/jnm16028 Crossref.

27. Hara N, Nakamori M, Ayukawa T, Matsushima H, Hayashi Y, Imamura E, Mizoue T, Wakabayashi S. Characteristics and Prognostic Factors of Swallowing Dysfunction in Patients with Lateral Medullary Infarction. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2021;30:106122. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2021.106122 Crossref.

28. Ninomiya S, Fujii W, Matsumoto E, Yamaguchi K, Hiratsuka M. Association between tongue pressure and oral status and activities of daily living in stroke patients admitted to a convalescent rehabilitation unit. Clin Exp Dent Res. 2024;10:e825. doi: 10.1002/cre2.825 Crossref.

29. Krekeler BN, Hopkins A, Cooke M, Tabangin M, Altaye M, Wahab S, Martin-Harris B. Poststroke Lingual Function and Swallowing Physiology. J Speech Lang Hear Res. 2025;68:2318–2338. doi: 10.1044/2025_JSLHR-24-00605 Crossref.

30. He Z, Xie M, Xie C, An D, Dai M, Wen H, Shan Y. Characteristics of dysphagia in medullary and cerebellar stroke: an observational study based on HRPM and FEES. Arch Phys Med Rehabil. 2026;107:225–234. doi: 10.1016/j.apmr.2025.05.003 Crossref.

31. Onofri SM, Cola PC, Berti LC, da Silva RG, Dantas RO. Correlation between laryngeal sensitivity and penetration/aspiration after stroke. Dysphagia. 2014;29:256–261. doi: 10.1007/s00455-013-9504-7 Crossref.

32. Schimmel M, Voegeli G, Duvernay E, Leemann B, Müller F. Oral tactile sensitivity and masticatory performance are impaired in stroke patients. J Oral Rehabil. 2017;44:163–171. doi: 10.1111/joor.12482 Crossref.

33. Kim SB, Lee SJ, Lee KW, Lee JH, Kim DW. Usefulness of Early Videofluoroscopic Swallowing Study in Acute Stroke Patients With Dysphagia. Ann Rehabil Med. 2018;42:42–51. doi: 10.5535/arm.2018.42.1.42 Crossref.

34. Marvin S, Thibeault S, Ehlenbach WJ. Post-extubation Dysphagia: Does Timing of Evaluation Matter? Dysphagia. 2019;34:210–219. doi: 10.1007/s00455-018-9926-3 Crossref.

35. Lapa S, Neuhaus E, Harborth E, Neef V, Steinmetz H, Foerch C, Reitz SC. Dysphagia assessment in ischemic stroke after mechanical thrombectomy: When and how? Front Neurol. 2022;13:1024531. doi: 10.3389/fneur.2022.1024531 Crossref.

36. Hwang JM, Cheong YS, Kang MG, Chun SM, Min Y-S, Lee Y-S, Jung T-D. Recommendation of Nasogastric Tube Removal in Acute Stroke Patients Based on Videofluoroscopic Swallow Study. Ann Rehabil Med. 2017;41:9–15. doi: 10.5535/arm.2017.41.1.9 Crossref.

37. Pekacka-Egli AM, Kazmierski R, Lutz D, Pekacka-Falkowska K, Maszczyk A, Windisch W, Spielmanns M. Reassessment of Poststroke Dysphagia in Rehabilitation Facility Results in Reduction in Diet Restrictions. J Clin Med. 2021;10:1714. doi: 10.3390/jcm10081714 Crossref.

38. Karisik A, Bader V, Moelgg K, Buergi L, Dejakum B, Komarek S, Boehme C, Toell T, Mayer-Suess L, Sollereder S, et al. Intensified post-stroke care improves long-term dysphagia recovery after acute ischemic stroke: Results from the STROKE CARD trial. Eur Stroke J. 2025;10:568–575. doi: 10.1177/23969873241284123 Crossref.

39. Hotz JF, Kaindl L, Schneider L, Krebs S, Karisik A, Mikšová D, Bichler M, Ritscher L, Staudacher M, Lagler H, et al; Austria Stroke Unit Registry Collaborators. Dysphagia Management is Associated with Reduced Mortality in Patients with Moderate to Severe Acute Ischemic Stroke. Neurol Ther. 2025;14:1539–1552. doi: 10.1007/s40120-025-00783-1 Crossref.

40. Gao M, Xu L, Wang X, Yang X, Wang Y, Wang H, Song J, Zhou F. Efficacy and safety of oropharyngeal muscle strength training on poststroke oropharyngeal dysphagia: a systematic review and meta-analysis. BMJ Open. 2023;13:e072638. doi: 10.1136/bmjopen-2023-072638 Crossref.

41. Chandrashekaraiah B, Swapna N, Prakash TK. Impact of effortful swallow with progressive resistance on swallow safety, efficiency and quality of life in individuals with post-stroke dysphagia: analysis using DIGEST- FEES and SWAL-QOL. Indian J Otolaryngol Head Neck Surg. 2023;75:2836–2841. doi: 10.1007/s12070-023-03846-7 Crossref.

42. Liu J, Wang Q, Tian J, Zhou W, Gao Y, Chen X, Zhang W, Gao Y, Zhou L. Effects of chin tuck against resistance exercise on post-stroke dysphagia rehabilitation: A systematic review and meta-analysis. Front Neurol. 2022;13:1109140. doi: 10.3389/fneur.2022.1109140 Crossref.

43. Park JS, An DH, Kam KY, Yoon T, Kim T, Chang M-Y. Effects of resistive jaw opening exercise in stroke patients with dysphagia: A double- blind, randomized controlled study. J Back Musculoskelet Rehabil. 2020;33:507–513. doi: 10.3233/BMR-181477 Crossref.

44. Jongprasitkul H, Kitisomprayoonkul W. Effectiveness of Conventional Swallowing Therapy in Acute Stroke Patients with Dysphagia. Rehabil Res Pract. 2020;2020:2907293. doi: 10.1155/2020/2907293 Crossref.

45. Park HS, Oh DH, Yoon T, Park J-S. Effect of effortful swallowing training on tongue strength and oropharyngeal swallowing function in stroke patients with dysphagia: a double-blind, randomized controlled trial. Int J Lang Commun Disord. 2019;54:479–484. doi: 10.1111/1460-6984.12453 Crossref.

46. Kusumaningsih W, Lestari NI, Harris S, Tamin S, Werdhani RA. The effectivity of pharyngeal strengthening exercise, hyolaryngeal complex range of motion exercise, and swallowing practice in swallowing function of ischemic stroke patients with neurogenic dysphagia. J Exerc Rehabil. 2019;15:769–774. doi: 10.12965/jer.19.38652.326 Crossref.

47. Park JS, Hwang NK, Oh DH, Chang MY. Effect of head lift exercise on kinematic motion of the hyolaryngeal complex and aspiration in patients with dysphagic stroke. J Oral Rehabil. 2017;44:385–391. doi: 10.1111/joor.12492 Crossref.

48. Oh DH, Won JH, Kim YA, Kim W-J. Effects of jaw opening exercise on aspiration in stroke patients with dysphagia: a pilot study. J Phys Ther Sci. 2017;29:1817–1818. doi: 10.1589/jpts.29.1817 Crossref.

49. Nakazora T, Maeda J, Iwamoto K, Hanashiro S, Nakamura Y, Kiyozuka T, Domen K. Intervention by Speech Therapists to Promote Oral Intake of Patients with Acute Stroke: A Retrospective Cohort Study. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2017;26:480–487. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2016.12.007 Crossref.

50. Kim JH, Kim YA, Lee HJ, Kim K-S, Kim S-T, Kim T-S, Cho Y-S. Effect of the combination of Mendelsohn maneuver and effortful swallowing on aspiration in patients with dysphagia after stroke. J Phys Ther Sci. 2017;29:1967–1969. doi: 10.1589/jpts.29.1967 Crossref.

51. Kim HD, Choi JB, Yoo SJ, Chang MY, Lee SW, Park JS. Tongue-to-palate resistance training improves tongue strength and oropharyngeal swallowing function in subacute stroke survivors with dysphagia. J Oral Rehabil. 2017;44:59–64. doi: 10.1111/joor.12461 Crossref.

52. Krekeler BN, Yee J, Kurosu A, Osman F, Peña-Chávez R, Leverson G, Young B, Sattin J, Knigge M, Thibeault S, et al. Effects of Device-Facilitated Lingual Strengthening Therapy on Dysphagia Related Outcomes in Patients Post-Stroke: A Randomized Controlled Trial. Dysphagia. 2023;38:1551–1567. doi: 10.1007/s00455-023-10583-0 Crossref.

53. Guillen-Sola A, Messagi Sartor M, Bofill Soler N, Duarte E, Barrera MªC, Marco E. Respiratory muscle strength training and neuromuscular electrical stimulation in subacute dysphagic stroke patients: a randomized controlled trial. Clin Rehabil. 2017;31:761–771. doi: 10.1177/0269215516652446 Crossref.

54. Gao J, Zhang HJ. Effects of chin tuck against resistance exercise versus Shaker exercise on dysphagia and psychological state after cerebral infarction. Eur J Phys Rehabil Med. 2017;53:426–432. doi: 10.23736/S1973-9087.16.04346-X Crossref.

55. Eom MJ, Chang MY, Oh DH, Kim H-D, Han N-M, Park J-S. Effects of resistance expiratory muscle strength training in elderly patients with dysphagic stroke. NeuroRehabilitation. 2017;41:747–752. doi: 10.3233/NRE-172192 Crossref.

56. Choi JB, Shim SH, Yang JE, Kim H-D, Lee D-H, Park J-S. Effects of Shaker exercise in stroke survivors with oropharyngeal dysphagia. NeuroRehabilitation. 2017;41:753–757. doi: 10.3233/NRE-172145 Crossref.

57. Bahceci K, Umay E, Gundogdu I, Gurcay E, Ozturk E, Alicura S. The effect of swallowing rehabilitation on quality of life of the dysphagic patients with cortical ischemic stroke. Iran J Neurol. 2017;16:178–184.

58. Steele CM, Bayley MT, Peladeau-Pigeon M, Nagy A, Namasivayam AM, Stokely SL, Wolkin T. A Randomized Trial Comparing Two Tongue-Pressure Resistance Training Protocols for Post-Stroke Dysphagia. Dysphagia. 2016;31:452–461. doi: 10.1007/s00455-016-9699-5 Crossref.

59. Park JS, Oh DH, Chang MY, Kim KM. Effects of expiratory muscle strength training on oropharyngeal dysphagia in subacute stroke patients: a randomised controlled trial. J Oral Rehabil. 2016;43:364–372. doi: 10.1111/joor.12382 Crossref.

60. Park JS, Kim HJ, Oh DH. Effect of tongue strength training using the Iowa Oral Performance Instrument in stroke patients with dysphagia. J Phys Ther Sci. 2015;27:3631–3634. doi: 10.1589/jpts.27.3631 Crossref.

61. Alyanak B, Inanir M, Sade SI, Kablanoğlu S. Efficacy of Game-Based EMG-Biofeedback Therapy in Post-Stroke Dysphagia: A Randomized Controlled Trial. Dysphagia. 2025;40:1289–1301. doi: 10.1007/s00455-025-10819-1 Crossref.

62. Meng QN, Zhu Y, Liu SW, Hu B, Chai D-J, Dong C-X. Study on the treatment of dysphagia after stroke with electromyographic biofeedback intensive training. World J Clin Cases. 2024;12:3725–3733. doi: 10.12998/wjcc.v12.i19.3725 Crossref.

63. Hou M, Zhao Y, Zhao L, Yuan X, Liu Z, Li H. Efficacy of game training combined with surface electromyography biofeedback on post-stroke dysphagia. Geriatr Nurs. 2024;55:255–262. doi: 10.1016/j.gerinurse.2023.11.019 Crossref.

64. Nordio S, Arcara G, Berta G, Dellai A, Brisotto C, Koch I, Cazzador D, Aspidistria M, Ventura L, Turolla A, et al. Biofeedback as an Adjunctive Treatment for Post-stroke Dysphagia: A Pilot-Randomized Controlled Trial. Dysphagia. 2022;37:1207–1216. doi: 10.1007/s00455-021-10385-2 Crossref.

65. Vose AK, Marcus A, Humbert I. Kinematic Visual Biofeedback Improves Accuracy of Swallowing Maneuver Training and Accuracy of Clinician Cues During Training in Stroke Patients with Dysphagia. PM R. 2019;11:1159–1169. doi: 10.1002/pmrj.12093 Crossref.

66. Park JS, Lee G, Jung YJ. Effects of game-based chin tuck against resistance exercise vs head-lift exercise in patients with dysphagia after stroke: An assessor-blind, randomized controlled trial. J Rehabil Med. 2019;51:749–754. doi: 10.2340/16501977-2603 Crossref.

67. Huckabee ML, Lamvik K, Jones R. Pharyngeal mis-sequencing in dysphagia: characteristics, rehabilitative response, and etiological speculation. J Neurol Sci. 2014;343:153–158. doi: 10.1016/j.jns.2014.05.064 Crossref.

68. Suntrup-Krueger S, Labeit B, von Itter J, Jung A, Claus I, Ahring S, Warnecke T, Dziewas R, Muhle P. Treating postextubation dysphagia after stroke with pharyngeal electrical stimulation -insights from a randomized controlled pilot trial. Neurotherapeutics. 2025;22:e00613. doi: 10.1016/j.neurot.2025.e00613 Crossref.

69. Ni B, Jin H, Wu W. Therapeutic effect of proprioceptive neuromuscular facilitation combined with muscle energy technique on post-stroke dysphagia. Technol Health Care. 2024;32:4331–4342. doi: 10.3233/THC-240220 Crossref.

70. Muhle P, Claus I, Labeit B, Roderigo M, Warnecke T, Dziewas R, Suntrup-Krueger S. Pharyngeal Electrical Stimulation prior to extubation - Reduction of extubation failure rate in acute stroke patients? J Crit Care. 2024;82:154808. doi: 10.1016/j.jcrc.2024.154808 Crossref.

71. Liu Z, Cheng J, Tan C, Liu H, Han D. Pharyngeal Cavity Electrical Stimulation-Assisted Swallowing for Post-stroke Dysphagia: A Systematic Review and Meta-analysis of Randomized Controlled Studies. Dysphagia. 2024;39:541–551. doi: 10.1007/s00455-023-10644-4 Crossref.

72. Everton LF, Benfield JK, Michou E, Hamdy S, Bath PM. Effects of Pharyngeal Electrical Stimulation on Swallow Timings, Clearance and Safety in Post-Stroke Dysphagia: Analysis from the Swallowing Treatment Using Electrical Pharyngeal Stimulation (STEPS) Trial. Stroke Res Treat. 2021;2021:5520657. doi: 10.1155/2021/5520657 Crossref.

73. Wang Z, Xiao Z, Shen Q, Zhao N, Zhang W. Neuromuscular Electrical Stimulation for Post-Stroke Dysphagia Treatment: A Systemic Evaluation and Meta-Analysis of Randomized Controlled Trials. Dysphagia. 2024;39:424–432. doi: 10.1007/s00455-023-10626-6 Crossref.

74. Bengisu S, Demir N, Krespi Y. Effectiveness of Conventional Dysphagia Therapy (CDT), Neuromuscular Electrical Stimulation (NMES), and Transcranial Direct Current Stimulation (tDCS) in Acute Post-Stroke Dysphagia: A Comparative Evaluation. Dysphagia. 2024;39:77–91. doi: 10.1007/s00455-023-10595-w Crossref.

75. Howard MM, Block ES, Mishreki D, Kim T, Rosario ER. The Effect of Sensory Level Versus Motor Level Electrical Stimulation of Pharyngeal Muscles in Acute Stroke Patients with Dysphagia: A Randomized Trial. Dysphagia. 2023;38:943–953. doi: 10.1007/s00455-022-10520-7 Crossref.

76. Doan TN, Ho WC, Wang LH, Chang F-C, Tran TTQ, Chou L-W. Therapeutic Effect and Optimal Electrode Placement of Transcutaneous Neuromuscular Electrical Stimulation in Patients with Post-Stroke Dysphagia: A Systematic Review and Meta-Analysis of Randomized Controlled Trials. Life (Basel). 2022;12:875. doi: 10.3390/life12060875 Crossref.

77. Gulec A, Albayrak I, Erdur O, Öztürk K, Levendoglu F. Effect of swallowing rehabilitation using traditional therapy, kinesiology taping and neuromuscular electrical stimulation on dysphagia in post-stroke patients: A randomized clinical trial. Clin Neurol Neurosurg. 2021;211:107020. doi: 10.1016/j.clineuro.2021.107020 Crossref.

78. Carnaby GD, LaGorio L, Silliman S, Crary M. Exercise-based swallowing intervention (McNeill Dysphagia Therapy) with adjunctive NMES to treat dysphagia post-stroke: A double-blind placebo-controlled trial. J Oral Rehabil. 2020;47:501–510. doi: 10.1111/joor.12928 Crossref.

79. Oh DH, Park JS, Kim HJ, Chang M-Y, Hwang N-K. The effect of neuromuscular electrical stimulation with different electrode positions on swallowing in stroke patients with oropharyngeal dysphagia: A randomized trial. J Back Musculoskelet Rehabil. 2020;33:637–644. doi: 10.3233/BMR-181133 Crossref.

80. Sproson L, Pownall S, Enderby P, Freeman J. Combined electrical stimulation and exercise for swallow rehabilitation post-stroke: a pilot randomized control trial. Int J Lang Commun Disord. 2018;53:405–417. doi: 10.1111/1460-6984.12359 Crossref.

81. Kim H, Park JW, Nam K. Effortful swallow with resistive electrical stimulation training improves pharyngeal constriction in patients post-stroke with dysphagia. J Oral Rehabil. 2017;44:763–769. doi: 10.1111/joor.12538 Crossref.

82. Chen YW, Chang KH, Chen HC, Liang W-M, Wang Y-H, Lin Y-N. The effects of surface neuromuscular electrical stimulation on post-stroke dysphagia: a systemic review and meta-analysis. Clin Rehabil. 2016;30:24–35. doi: 10.1177/0269215515571681 Crossref.

83. Byeon H, Koh HW. Comparison of treatment effect of neuromuscular electrical stimulation and thermal-tactile stimulation on patients with sub-acute dysphagia caused by stroke. J Phys Ther Sci. 2016;28:1809–1812. doi: 10.1589/jpts.28.1809 Crossref.

84. Byeon H. Effect of the Masako maneuver and neuromuscular electrical stimulation on the improvement of swallowing function in patients with dysphagia caused by stroke. J Phys Ther Sci. 2016;28:2069–2071. doi: 10.1589/jpts.28.2069 Crossref.

85. Wang L, Li A, Zhang C, Ding X, Xu H. Sublingual administration of atropine eye drops for treating sialorrhea after stroke: A randomized controlled trial. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2024;33:108050. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2024.108050 Crossref.

86. He Z, Chen S, Zeng P, Dai M, Wei X, Chen J, Zhang X, Dou Z, Wen H, Li C. The effectiveness of ultrasound-guided injection of BTX-A in the management of sialorrhea in neurogenic dysphagia patients. Laryngoscope Investig Otolaryngol. 2023;8:1607–1615. doi: 10.1002/lio2.1164 Crossref.

87. Meng D, Lu Y, Chen N, Pan J, Lin B, Hu J. Relationship between neuron-specific enolase and swallowing dysfunction in patients with acute ischemic stroke: a single-center retrospective study. BMC Neurol. 2025;25:226. doi: 10.1186/s12883-025-04236-y Crossref.

88. Zheng T, Zhu X, Liang H, Huang H, Yang J, Wang S. Impact of early enteral nutrition on short term prognosis after acute stroke. J Clin Neurosci. 2015;22:1473–1476. doi: 10.1016/j.jocn.2015.03.028 Crossref.

89. Maekawa K, Ohara N, Higashibeppu N, Kawamoto M, Ohta T. Early nutritional support enhances recovery after endovascular thrombectomy: A prospective study with institutional historical control. Clin Nutr. 2025;54:99–109. doi: 10.1016/j.clnu.2025.09.013 Crossref.

90. Ikezawa K, Hirose M, Maruyama T, Yuji K, Yabe Y, Kanamori T, Kaide N, Tsuchiya Y, Hara S, Suzuki H. Effect of early nutritional initiation on post-cerebral infarction discharge destination: A propensity-matched analysis using machine learning. Nutr Diet. 2022;79:247–254. doi: 10.1111/1747-0080.12718 Crossref.

91. Mizuma A, Netsu S, Sakamoto M, Yutani S, Nagata E, Takizawa S. Effect of early enteral nutrition on critical care outcomes in patients with acute ischemic stroke. J Int Med Res. 2021;49:3000605211055829. doi: 10.1177/03000605211055829 Crossref.

92. Wang R, Cao L, He Y, Zhang P, Feng L. Nutrition-associated markers and outcomes among patients receiving enteral nutrition after ischemic stroke: a retrospective cohort study. BMC Neurol. 2024;24:303. doi: 10.1186/s12883-024-03812-y Crossref.

93. Shimazu S, Yoshimura Y, Kudo M, Nagano F, Bise T, Shiraishi A, Sunahara T. Frequent and personalized nutritional support leads to improved nutritional status, activities of daily living, and dysphagia after stroke. Nutrition. 2021;83:111091. doi: 10.1016/j.nut.2020.111091 Crossref.

94. Nii M, Maeda K, Wakabayashi H, Nishioka S, Tanaka A. Nutritional Improvement and Energy Intake Are Associated with Functional Recovery in Patients after Cerebrovascular Disorders. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2016;25:57–62. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2015.08.033 Crossref.

95. Kim DH, Sohn MK, Lee J, Kim DY, Shin Y-I, Oh G-J, Lee Y-S, Joo MC, Lee SY, Song M-K, et al. Effect of intensive nutritional support on functional recovery in subacute stroke: A randomized, multicenter, single-blinded trial. Ann Phys Rehabil Med. 2025;68:101976. doi: 10.1016/j.rehab.2025.101976 Crossref.

96. Nwigwe V, Berlin A, Cowan J, Coleman N, Lennihan L, Seres DS, Fischkoff K. Reduction of Unnecessary Gastrostomy Tube Placement in Hospitalized Patients. Jt Comm J Qual Patient Saf. 2022;48:319–325. doi: 10.1016/j.jcjq.2022.03.001 Crossref.

97. Joundi RA, Saposnik G, Martino R, Fang J, Kapral MK. Timing of Direct Enteral Tube Placement and Outcomes after Acute Stroke. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2019;28:104401. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2019.104401 Crossref. PubMed.

98. Jaafar MH, Mahadeva S, Tan KM, Chin A-V, Kamaruzzaman SB, Khor HM, Saedon NI, Tan MP. Long-Term Nasogastric Versus Percutaneous Endoscopic Gastrostomy Tube Feeding in Older Asians With Dysphagia: A Pragmatic Study. Nutr Clin Pract. 2019;34:280–289. doi: 10.1002/ncp.10195 Crossref.

99. Yang ZC, Yong ZZ, Hua L, Li WC. Superiority of Percutaneous Endoscopic Gastrostomy Over Nasogastric Feeding for Stroke-Induced Severe Dysphagia: A Comparative Study. Med Sci Monit. 2023;29:e940613. doi: 10.12659/MSM.940613 Crossref.

100. Wu C, Zhu X, Zhou X, Li C, Zhang Y, Zhang H, Shen M. Intermittent tube feeding for stroke patients with dysphagia: a meta-analysis and systematic review. Ann Palliat Med. 2021;10:7406–7415. doi: 10.21037/apm-21-736 Crossref.

101. Zeng H, Zhao W, Zeng J, Wang R, Luo H, Wen C, Liu Y, Li D, Zeng X. How tube feeding modes influence anxiety in patients with dysphagia after ischemic stroke: A propensity score-matched, longitudinal study. Int J Stroke. 2025;20:572–580. doi: 10.1177/17474930241306916 Crossref.

102. Juan W, Zhen H, Yan-Ying F, Hui-Xian Y, Tao Z, Pei-Fen G, Jian-Tian H. A Comparative Study of Two Tube Feeding Methods in Patients with Dysphagia After Stroke: A Randomized Controlled Trial. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2020;29:104602. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2019.104602 Crossref.

103. Zeng H, Zhao W, Wu J, Wei J, Li H, Wang L, Zeng X. Effect of Intermittent Oro-Esophageal Tube Feeding in Bulbar Palsy After Ischemic Stroke: A Randomized Controlled Study. Stroke. 2024;55:1142–1150. doi: 10.1161/STROKEAHA.123.046122 Crossref. PubMed.

104. American Speech-Language-Hearing Association. Adult Dysphagia. Accessed September 11, 2025. https://www.asha.org/practice-portal/clinical-topics/adult-dysphagia

105. Cenci GI, Rocha RB, Ferreira Bomtempo F, Nager GB, Silva GD, Figueiredo EG, Telles JPM. Efficacy of transcranial direct current stimulation in patients with dysphagia after stroke: a systematic review. Neurol Sci. 2024;45:2119–2125. doi: 10.1007/s10072-023-07216-7 Crossref.

106. Wu X, Zhang B, Ambler G, Chen Q, Huang H, Lin H, Fang S, Liu N, Du H. Repetitive Transcranial Magnetic Stimulation Strategies for Poststroke Dysphagia: A Systematic Review and Network Meta-analysis. Arch Phys Med Rehabil. 2025;106:1248–1257. doi: 10.1016/j.apmr.2024.12.018 Crossref.

6. Cognition and Communication

6.1. Non-Pharmacological Therapies for Cognitive Impairment, Including Memory

1. Soni AK, Kumar M, Kothari S. Efficacy of home based computerized adaptive cognitive training in patients with post stroke cognitive impairment: a randomized controlled trial. Sci Rep. 2025;15:1072. doi: 10.1038/s41598-025-85511-3 Crossref.

2. Janaviciute-Puzauske J, Petroliene R, Zajanckauskaite-Staskeviciene L, Paulauskas A, Šinkariova L. Randomised control trial of virtual reality in cognitive rehabilitation: effectiveness and near-transfer effect for stroke patients. BMC Psychol. 2025;13:805. doi: 10.1186/s40359-025-03135-8 Crossref.

3. Han K, Liu G, Liu N, Li J, Li J, Cui L, Cheng M, Long J, Liao X, Tang Z, et al. Effects of Mobile Intelligent Cognitive Training for Patients with Post-Stroke Cognitive Impairment: A 12-Week, Multicenter, Randomized Controlled Study. J Alzheimers Dis. 2024;100:999–1015. doi: 10.3233/JAD-240356 Crossref.

4. Kazinczi C, Kocsis K, Boross K, Racsmány M, Klivényi P, Vécsei L, Must A. The effect of computerized cognitive training and transcranial direct current stimulation on working memory among post-stroke individuals: a systematic review with meta-analysis and meta-regression. BMC Neurol. 2024;24:314. doi: 10.1186/s12883-024-03813-x Crossref.

5. Zhou Y, Feng H, Li G, Xu C, Wu Y, Li H. Efficacy of computerized cognitive training on improving cognitive functions of stroke patients: A systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials. Int J Nurs Pract. 2022;28:e12966. doi: 10.1111/ijn.12966 Crossref.

6. Gil-Pages M, Solana J, Sanchez-Carrion R, Tormos JM, Enseñat-Cantallops A, García-Molina A. Functional improvement in chronic stroke patients when following a supervised home-based computerized cognitive training. Brain Inj. 2022;36:1349–1356. doi: 10.1080/02699052.2022.2140832 Crossref.

7. Navarro MD, Llorens R, Borrego A, Alcañiz M, Noé E, Ferri J. Competition Enhances the Effectiveness and Motivation of Attention Rehabilitation After Stroke. A Randomized Controlled Trial. Front Hum Neurosci. 2020;14:575403. doi: 10.3389/fnhum.2020.575403 Crossref.

8. Faria AL, Pinho MS, Bermudez IBS. A comparison of two personalization and adaptive cognitive rehabilitation approaches: a randomized controlled trial with chronic stroke patients. J Neuroeng Rehabil. 2020;17:78. doi: 10.1186/s12984-020-00691-5 Crossref.

9. Torrisi M, Maresca G, De Cola MC, Cannavò A, Sciarrone F, Silvestri G, Bramanti A, De Luca R, Calabrò RS. Using telerehabilitation to improve cognitive function in post-stroke survivors: is this the time for the continuity of care? Int J Rehabil Res. 2019;42:344–351. doi: 10.1097/MRR.0000000000000369 Crossref.

10. Wu C, Yun Y, Jin W, Cao R, Lu J, Qian K, Xu G. The application of computerized quadrato motor training in enhancing balance and executive performance in stroke patients. Sci Rep. 2025;15:18850. doi: 10.1038/s41598-025-02145-1 Crossref.

11. Yeh TT, Chang KC, Wang JJ, Lin W-C, Wu C-Y. Neuroplastic Changes Associated With Hybrid Exercise-Cognitive Training in Stroke Survivors With Mild Cognitive Decline: A Randomized Controlled Trial. Neurorehabil Neural Repair. 2023;37:662–673. doi: 10.1177/15459683231200220 Crossref.

12. Yeh TT, Chang KC, Wu CY, Chen C-J, Chuang I-C. Clinical efficacy of aerobic exercise combined with computer-based cognitive training in stroke: a multicenter randomized controlled trial. Top Stroke Rehabil. 2022;29:255–264. doi: 10.1080/10749357.2021.1922045 Crossref.

13. Koch S, Tiozzo E, Simonetto M, Loewenstein D, Wright CB, Dong C, Bustillo A, Perez-Pinzon M, Dave KR, Gutierrez CM, et al. Randomized Trial of Combined Aerobic, Resistance, and Cognitive Training to Improve Recovery From Stroke: Feasibility and Safety. J Am Heart Assoc. 2020;9:e015377. doi: 10.1161/JAHA.119.015377 Crossref. PubMed.

14. Yeh TT, Chang KC, Wu CY. The Active Ingredient of Cognitive Restoration: A Multicenter Randomized Controlled Trial of Sequential Combination of Aerobic Exercise and Computer-Based Cognitive Training in Stroke Survivors With Cognitive Decline. Arch Phys Med Rehabil. 2019;100:821–827. doi: 10.1016/j.apmr.2018.12.020 Crossref. PubMed.

15. Ploughman M, Eskes GA, Kelly LP, Kirkland MC, Devasahayam AJ, Wallack EM, Abraha B, Hasan SMM, Downer MB, Keeler L, et al. Synergistic Benefits of Combined Aerobic and Cognitive Training on Fluid Intelligence and the Role of IGF-1 in Chronic Stroke. Neurorehabil Neural Repair. 2019;33:199–212. doi: 10.1177/1545968319832605 Crossref. PubMed.

16. Bo W, Lei M, Tao S, Jie LT, Qian L, Lin FQ, Ping WX. Effects of combined intervention of physical exercise and cognitive training on cognitive function in stroke survivors with vascular cognitive impairment: a randomized controlled trial. Clin Rehabil. 2019;33:54–63. doi: 10.1177/0269215518791007 Crossref.

17. Huai Y, Yang W, Lv Y, Wang K, Zhou H, Lu Y, Zhang X, Wang Y, Wang J, Wang X. Enriched rehabilitation on brain functional connectivity in patients with post-stroke cognitive impairment. Front Neurol. 2024;15:1503737. doi: 10.3389/fneur.2024.1503737 Crossref.

18. Skidmore ER, Dawson DR, Butters MA, Grattan ES, Juengst SB, Whyte EM, Begley A, Holm MB, Becker JT. Strategy Training Shows Promise for Addressing Disability in the First 6 Months After Stroke. Neurorehabil Neural Repair. 2015;29:668–676. doi: 10.1177/1545968314562113 Crossref.

19. Niering M, Seifert J. The effects of visual skills training on cognitive and executive functions in stroke patients: a systematic review with meta-analysis. J Neuroeng Rehabil. 2024;21:41. doi: 10.1186/s12984-024-01338-5 Crossref.

20. Huber SK, Knols RH, Held JPO, Betschart M, Gartmann S, Nauer N, de Bruin ED. PEMOCS: effects of a concept-guided, PErsonalized, MOtor-Cognitive exergame training on cognitive functions and gait in chronic Stroke-a randomized, controlled trial. Front Aging Neurosci. 2025;17:1514594. doi: 10.3389/fnagi.2025.1514594 Crossref.

21. Rogers JM, Duckworth J, Middleton S, Steenbergen B, Wilson PH. Elements virtual rehabilitation improves motor, cognitive, and functional outcomes in adult stroke: evidence from a randomized controlled pilot study. J Neuroeng Rehabil. 2019;16:56. doi: 10.1186/s12984-019-0531-y Crossref.

22. Park MO, Lee SH. Effect of a dual-task program with different cognitive tasks applied to stroke patients: A pilot randomized controlled trial. NeuroRehabilitation. 2019;44:239–249. doi: 10.3233/NRE-182563 Crossref.

23. Bunketorp-Kall L, Lundgren-Nilsson A, Samuelsson H, Pekny T, Blomvé K, Pekna M, Pekny M, Blomstrand C, Nilsson M. Long-Term Improvements After Multimodal Rehabilitation in Late Phase After Stroke: A Randomized Controlled Trial. Stroke. 2017;48:1916–1924. doi: 10.1161/STROKEAHA.116.016433 Crossref.

24. Zhou Y, Feng H, Li G, Xu C, Wu Y, Li H. Efficacy of computerized cognitive training on improving cognitive functions of stroke patients: a systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials. Int J Nurs Pract. 2022;28:e12966. doi: 10.1111/ijn.12966 Crossref.

25. Kazinczi C, Kocsis K, Boross K, Racsmány M, Klivényi P, Vécsei L, Must A. The effect of computerized cognitive training and transcranial direct current stimulation on working memory among post-stroke individuals: a systematic review with meta-analysis and meta-regression. BMC Neurol. 2024;24:314. doi: 10.1186/s12883-024-03813-x Crossref.

26. Torrisi M, Maresca G, De Cola MC, Cannavò A, Sciarrone F, Silvestri G, Bramanti A, De Luca R, Calabrò RS. Using telerehabilitation to improve cognitive function in post-stroke survivors: is this the time for the continuity of care? Int J Rehabil Res. 2019;42:344–351. doi: 10.1097/MRR.0000000000000369 Crossref.

27. Faria AL, Pinho MS, Bermudez I Badia S. A comparison of two personalization and adaptive cognitive rehabilitation approaches: a randomized controlled trial with chronic stroke patients. J Neuroeng Rehabil. 2020;17:78. doi: 10.1186/s12984-020-00691-5 Crossref.

28. Navarro MD, Llorens R, Borrego A, Alcañiz M, Noé E, Ferri J. Competition Enhances the Effectiveness and Motivation of Attention Rehabilitation After Stroke. A Randomized Controlled Trial. Front Hum Neurosci. 2020;14:575403. doi: 10.3389/fnhum.2020.575403 Crossref.

29. Gil-Pages M, Solana J, Sanchez-Carrion R, Tormos JM, Enseñat-Cantallops A, García-Molina A. Functional improvement in chronic stroke patients when following a supervised home-based computerized cognitive training. Brain Inj. 2022;36:1349–1356. doi: 10.1080/02699052.2022.2140832 Crossref.

30. Han K, Liu G, Liu N, Li J, Li J, Cui L, Cheng M, Long J, Liao X, Tang Z, et al. Effects of Mobile Intelligent Cognitive Training for Patients with Post-Stroke Cognitive Impairment: A 12-Week, Multicenter, Randomized Controlled Study. J Alzheimers Dis. 2024;100:999–1015. doi: 10.3233/JAD-240356 Crossref.

31. Janaviciute-Puzauske J, Petroliene R, Zajanckauskaite-Staskeviciene L, Paulauskas A, Šinkariova L. Randomised control trial of virtual reality in cognitive rehabilitation: effectiveness and near-transfer effect for stroke patients. BMC Psychol. 2025;13:805. doi: 10.1186/s40359-025-03135-8 Crossref.

32. Soni AK, Kumar M, Kothari S. Efficacy of home based computerized adaptive cognitive training in patients with post stroke cognitive impairment: a randomized controlled trial. Sci Rep. 2025;15:1072. doi: 10.1038/s41598-025-85511-3 Crossref.

33. Specht J, Stegmann B, Gross H, Krakow K. Cognitive training with head-mounted display virtual reality in neurorehabilitation: pilot randomized controlled trial. JMIR Serious Games. 2023;11:e45816. doi: 10.2196/45816 Crossref.

34. Yu F, Li H, Tai C, Guo T, Pang D. Effect of family education program on cognitive impairment, anxiety, and depression in persons who have had a stroke: A randomized, controlled study. Nurs Health Sci. 2019;21:44–53. doi: 10.1111/nhs.12548 Crossref.

35. Zhang L, Zhang T, Sun Y. A newly designed intensive caregiver education program reduces cognitive impairment, anxiety, and depression in patients with acute ischemic stroke. Braz J Med Biol Res. 2019;52:e8533. doi: 10.1590/1414-431X20198533 Crossref.

36. Pucciarelli G, Lommi M, Magwood GS, Simeone S, Colaceci S, Vellone E, Alvaro R. Effectiveness of dyadic interventions to improve stroke patient-caregiver dyads' outcomes after discharge: A systematic review and meta-analysis study. Eur J Cardiovasc Nurs. 2021;20:14–33. doi: 10.1177/1474515120926069 Crossref.

37. Bartoli D, Petrizzo A, Vellone E, Alvaro R, Pucciarelli G. Impact of telehealth on stroke survivor-caregiver dyad in at-home rehabilitation: A systematic review. J Adv Nurs. 2024;80:4003–4033. doi: 10.1111/jan.16177 Crossref.

38. Bo W, Lei M, Tao S, Jie LT, Qian L, Lin FQ, Ping WX. Effects of combined intervention of physical exercise and cognitive training on cognitive function in stroke survivors with vascular cognitive impairment: a randomized controlled trial. Clin Rehabil. 2019;33:54–63. doi: 10.1177/0269215518791007 Crossref.

39. Wu C, Yun Y, Jin W, Cao R, Lu J, Qian K, Xu G. The application of computerized quadrato motor training in enhancing balance and executive performance in stroke patients. Sci Rep. 2025;15:18850. doi: 10.1038/s41598-025-02145-1 Crossref.

40. Ploughman M, Eskes GA, Kelly LP, Kirkland MC, Devasahayam AJ, Wallack EM, Abraha B, Hasan SMM, Downer MB, Keeler L, et al. Synergistic Benefits of Combined Aerobic and Cognitive Training on Fluid Intelligence and the Role of IGF-1 in Chronic Stroke. Neurorehabil Neural Repair. 2019;33:199–212. doi: 10.1177/1545968319832605 Crossref. PubMed.

41. Yeh T-T, Chang K-C, Wu C-Y. The Active Ingredient of Cognitive Restoration: A Multicenter Randomized Controlled Trial of Sequential Combination of Aerobic Exercise and Computer-Based Cognitive Training in Stroke Survivors With Cognitive Decline. Arch Phys Med Rehabil. 2019;100:821–827. doi: 10.1016/j.apmr.2018.12.020 Crossref. PubMed.

42. Yeh T-T, Chang K-C, Wu C-Y, Chen C-J, Chuang I-C. Clinical efficacy of aerobic exercise combined with computer-based cognitive training in stroke: a multicenter randomized controlled trial. Top Stroke Rehabil. 2022;29:255–264. doi: 10.1080/10749357.2021.1922045 Crossref.

43. Koch S, Tiozzo E, Simonetto M, Loewenstein D, Wright CB, Dong C, Bustillo A, Perez-Pinzon M, Dave KR, Gutierrez CM, et al. Randomized Trial of Combined Aerobic, Resistance, and Cognitive Training to Improve Recovery From Stroke: Feasibility and Safety. J Am Heart Assoc. 2020;9:e015377. doi: 10.1161/JAHA.119.015377 Crossref. PubMed.

44. Yeh T-T, Chang K-C, Wang J-J, Lin W-C, Wu C-Y. Neuroplastic Changes Associated With Hybrid Exercise-Cognitive Training in Stroke Survivors With Mild Cognitive Decline: A Randomized Controlled Trial. Neurorehabil Neural Repair. 2023;37:662–673. doi: 10.1177/15459683231200220 Crossref.

45. Niering M, Seifert J. The effects of visual skills training on cognitive and executive functions in stroke patients: a systematic review with meta-analysis. J Neuroeng Rehabil. 2024;21:41. doi: 10.1186/s12984-024-01338-5 Crossref.

46. Park M-O, Lee S-H. Effect of a dual-task program with different cognitive tasks applied to stroke patients: A pilot randomized controlled trial. NeuroRehabilitation. 2019;44:239–249. doi: 10.3233/NRE-182563 Crossref.

47. Rogers JM, Duckworth J, Middleton S, Steenbergen B, Wilson PH. Elements virtual rehabilitation improves motor, cognitive, and functional outcomes in adult stroke: evidence from a randomized controlled pilot study. J Neuroeng Rehabil. 2019;16:56. doi: 10.1186/s12984-019-0531-y Crossref.

48. Huber SK, Knols RH, Held JPO, Betschart M, Gartmann S, Nauer N, de Bruin ED. PEMOCS: effects of a concept-guided, PErsonalized, MOtor-Cognitive exergame training on cognitive functions and gait in chronic Stroke-a randomized, controlled trial. Front Aging Neurosci. 2025;17:1514594. doi: 10.3389/fnagi.2025.1514594 Crossref.

49. Huai Y, Yang W, Lv Y, Wang K, Zhou H, Lu Y, Zhang X, Wang Y, Wang J, Wang X. Enriched rehabilitation on brain functional connectivity in patients with post-stroke cognitive impairment. Front Neurol. 2024;15:1503737. doi: 10.3389/fneur.2024.1503737 Crossref.

50. Skidmore ER, Dawson DR, Butters MA, Grattan ES, Juengst SB, Whyte EM, Begley A, Holm MB, Becker JT. Strategy Training Shows Promise for Addressing Disability in the First 6 Months After Stroke. Neurorehabil Neural Repair. 2015;29:668–676. doi: 10.1177/1545968314562113 Crossref.

51. Miller LA, Radford K. Testing the effectiveness of group-based memory rehabilitation in chronic stroke patients. Neuropsychol Rehabil. 2014;24:721–737. doi: 10.1080/09602011.2014.894479 Crossref.

52. das Nair R, Cogger H, Worthington E, Lincoln NB. Cognitive rehabilitation for memory deficits after stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2016;9:CD002293. doi: 10.1002/14651858.CD002293.pub3 Crossref.

53. Withiel TD, Wong D, Ponsford JL, Cadilhac DA, New P, Mihaljcic T, Stolwyk RJ. Comparing memory group training and computerized cognitive training for improving memory function following stroke: a phase II randomized controlled trial. J Rehabil Med. 2019;51:343–351. doi: 10.2340/16501977-2540 Crossref.

54. Filchenko I, Duss SB, Salzmann S, Brill A-K, Korostovtseva L, Amelina V, Baillieul S, Bernasconi C, Schmidt MH, Bassetti CLA. Early sleep apnea treatment in stroke (eSATIS) - a multicentre, randomised controlled, rater-blinded, clinical trial: The association of post-stroke cognition with sleep-disordered breathing and its treatment. J Sleep Res. 2025;34:e14296. doi: 10.1111/jsr.14296 Crossref.

55. Khot SP, Davis AP, Crane DA, Tanzi PM, Lue Denise L, Claflin ES, Becker KJ, Longstreth WT, Watson NF, Billings ME. Effect of Continuous Positive Airway Pressure on Stroke Rehabilitation: A Pilot Randomized Sham-Controlled Trial. J Clin Sleep Med. 2016;12:1019–1026. doi: 10.5664/jcsm.5940 Crossref. PubMed.

56. Kim H, Im S, Park JI, Kim Y, Sohn MK, Jee S. Improvement of Cognitive Function after Continuous Positive Airway Pressure Treatment for Subacute Stroke Patients with Obstructive Sleep Apnea: A Randomized Controlled Trial. Brain Sci. 2019;9:252. doi: 10.3390/brainsci9100252 Crossref.

57. Yang Y, Wu W, Huang H, Wu H, Huang J, Li L, Wang L. Effect of CPAP on cognitive function in stroke patients with obstructive sleep apnoea: a meta-analysis of randomised controlled trials. BMJ Open. 2023;13:e060166. doi: 10.1136/bmjopen-2021-060166 Crossref.

58. Song R, Park M, Jang T, Oh J, Sohn MK. Effects of a Tai Chi-Based Stroke Rehabilitation Program on Symptom Clusters, Physical and Cognitive Functions, and Quality of Life: A Randomized Feasibility Study. Int J Environ Res Public Health. 2021;18:5453. doi: 10.3390/ijerph18105453 Crossref.

59. Zheng G, Zheng Y, Xiong Z, Ye B. Effect of Baduanjin exercise on cognitive function in patients with post-stroke cognitive impairment: a randomized controlled trial. Clin Rehabil. 2020;34:1028–1039. doi: 10.1177/0269215520930256 Crossref.

60. Xiong J, Zhang Z, Ma Y, Li Z, Zhou F, Qiao N, Liu Q, Liao W. The effect of combined scalp acupuncture and cognitive training in patients with stroke on cognitive and motor functions. NeuroRehabilitation. 2020;46:75–82. doi: 10.3233/NRE-192942 Crossref.

61. Zhang S-H, Wang Y-L, Zhang C-X, Zhang C-P, Xiao P, Li Q-F, Liang W-R, Pan X-H, Zhou M-C. Effect of Interactive Dynamic Scalp Acupuncture on Post-Stroke Cognitive Function, Depression, and Anxiety: A Multicenter, Randomized, Controlled Trial. Chin J Integr Med. 2022;28:106–115. doi: 10.1007/s11655-021-3338-1 Crossref.

62. Guo Y, Sun T, Qiu F, Li X, Cui W, Liao Z, Yao J. Electroacupuncture combined with cognitive rehabilitation outperforms cognitive rehabilitation alone in treating post-stroke cognitive impairment: a randomized controlled trial. Front Neurol. 2025;16:1507475. doi: 10.3389/fneur.2025.1507475 Crossref.

63. Baldo JV, Schendel K, Lwi SJ, Herron TJ, Dempsey DG, Muir J, Curran BC, Paulraj S, Chok J, Cole MA. Mindfulness-Based Stress Reduction Intervention in Chronic Stroke: a Randomized, Controlled Pilot Study. Mindfulness. 2021;12:2908–2919. doi: 10.1007/s12671-021-01751-0 Crossref.

64. Sihvonen AJ, Leo V, Ripolles P, Lehtovaara T, Ylönen A, Rajanaro P, Laitinen S, Forsblom A, Saunavaara J, Autti T, et al. Vocal music enhances memory and language recovery after stroke: pooled results from two RCTs. Ann Clin Transl Neurol. 2020;7:2272–2287. doi: 10.1002/acn3.51217 Crossref.

65. Amanat S, Dordevic AL, Brodtmann A, Cardoso BR. Associations between diet and cognitive function in stroke survivors: a systematic review and meta-analysis. Adv Nutr. 2025;16:100440. doi: 10.1016/j.advnut.2025.100440 Crossref.

66. Cicerone KD, Goldin Y, Ganci K, Rosenbaum A, Wethe JV, Langenbahn DM, Malec JF, Bergquist TF, Kingsley K, Nagele D, et al. Evidence-Based Cognitive Rehabilitation: Systematic Review of the Literature From 2009 Through 2014. Arch Phys Med Rehabil. 2019;100:1515–1533. doi: 10.1016/j.apmr.2019.02.011 Crossref.

6.2. Acquired Communication Disorders

1. Stockbridge MD, Sheppard SM, Keator LM, Murray LL, Lehman Blake M; Right Hemisphere Disorders working group, Evidence-Based Clinical Research Committee, Academy of Neurological Communication Disorders and Sciences. Aprosodia Subsequent to Right Hemisphere Brain Damage: A Systematic Review and Meta-Analysis. J Int Neuropsychol Soc. 2022;28:709–735. doi: 10.1017/S1355617721000825 Crossref.

2. Minga J, Sheppard SM, Johnson M, Hewetson R, Cornwell P, Blake ML. Apragmatism: The renewal of a label for communication disorders associated with right hemisphere brain damage. Int J Lang Commun Disord. 2023;58:651–666. doi: 10.1111/1460-6984.12807 Crossref.

3. Durfee AZ, Sheppard SM, Meier EL, Bunker L, Cui E, Crainiceanu C, Hillis AE. Explicit Training to Improve Affective Prosody Recognition in Adults with Acute Right Hemisphere Stroke. Brain Sci. 2021;11:667. doi: 10.3390/brainsci11050667 Crossref.

4. Hewetson R, Cornwell P, Shum D. Cognitive-communication disorder following right hemisphere stroke: exploring rehabilitation access and outcomes. Top Stroke Rehabil. 2017;24:330–336. doi: 10.1080/10749357.2017.1289622 Crossref.

5. Barnes S, Beeke S, Bloch S. How is right hemisphere communication disorder disabling? Evidence from response mobilizing actions in conversation. Disabil Rehabil. 2022;44:261–274. doi: 10.1080/09638288.2020.1766123 Crossref.

6. Spigarelli M, Macoir J. Effectiveness of sensorimotor therapy on action naming in post-stroke aphasia: a systematic review. Disabil Rehabil. 2025;47:3753–3772. doi: 10.1080/09638288.2024.2439015 Crossref.

7. Schwen Blackett D, Kristinsson S, Walker G, Sayers S, Gibson M, Wilmskoetter J, den Ouden DB, Fridriksson J, Bonilha L. A Comparison of Item Acquisition and Response Generalization for Semantic Versus Phonological Treatment of Aphasia. J Speech Lang Hear Res. 2025;68:1821–1836. doi: 10.1044/2024_JSLHR-24-00304 Crossref.

8. Popescu T, Stahl B, Wiernik BM, Haiduk F, Zemanek M, Helm H, Matzinger T, Beisteiner R, Fitch WT. Melodic Intonation Therapy for aphasia: A multi-level meta-analysis of randomized controlled trials and individual participant data. Ann N Y Acad Sci. 2022;1516:76–84. doi: 10.1111/nyas.14848 Crossref.

9. Liu Q, Li W, Yin Y, Zhao Z, Yang Y, Zhao Y, Tan Y, Yu J. The effect of music therapy on language recovery in patients with aphasia after stroke: a systematic review and meta-analysis. Neurol Sci. 2022;43:863–872. doi: 10.1007/s10072-021-05743-9 Crossref.

10. Kong Q, Wang J, Huang X, He J, Chang J. Comparative Efficacy of Cognitive Training for Post-Stroke Aphasia: A Systematic Review and Network Meta-Analysis. Neurorehabil Neural Repair. 2024;38:863–876. doi: 10.1177/15459683241274755 Crossref.

11. Kendall DL, Oelke M, Brookshire CE, Nadeau SE. The Influence of Phonomotor Treatment on Word Retrieval Abilities in 26 Individuals With Chronic Aphasia: An Open Trial. J Speech Lang Hear Res. 2015;58:798–812. doi: 10.1044/2015_JSLHR-L-14-0131 Crossref.

12. Haro-Martinez A, Perez-Araujo CM, Sanchez-Caro JM, Fuentes B, Díez-Tejedor E. Melodic Intonation Therapy for Post-stroke Non-fluent Aphasia: Systematic Review and Meta-Analysis. Front Neurol. 2021;12:700115. doi: 10.3389/fneur.2021.700115 Crossref.

13. Gong D, Ye F. Effects of Music Therapy on Aphasia and Cognition of Patients with Post-stroke: A Systematic Review and Meta-analysis. Noise Health. 2024;26:136–141. doi: 10.4103/nah.nah_24_24 Crossref.

14. Garcia-Casares N, Barros-Cano A, Garcia-Arnes JA. Melodic Intonation Therapy in Post-Stroke Non-Fluent Aphasia and Its Effects on Brain Plasticity. J Clin Med. 2022;11:3503. doi: 10.3390/jcm11123503 Crossref.

15. Caute A, Woolf C, Wilson S, Stokes C, Monnelly K, Cruice M, Bacon K, Marshall J. Technology-Enhanced Reading Therapy for People With Aphasia: Findings From a Quasirandomized Waitlist Controlled Study. J Speech Lang Hear Res. 2019;62:4382–4416. doi: 10.1044/2019_JSLHR-L-18-0484 Crossref.

16. Banco E, Diana L, Casati C, Tesio L, Vallar G, Bolognini N. Rehabilitation of post-stroke aphasia by a single protocol targeting phonological, lexical, and semantic deficits with speech output tasks: a randomized controlled trial. Eur J Phys Rehabil Med. 2025;61:9–18. doi: 10.23736/S1973-9087.24.08576-9 Crossref.

17. Brady MC, Kelly H, Godwin J, Enderby P, Campbell P. Speech and language therapy for aphasia following stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2016;2016:CD000425. doi: 10.1002/14651858.CD000425.pub4 Crossref.

18. Simmons-Mackie N, Raymer A, Cherney LR. Communication Partner Training in Aphasia: An Updated Systematic Review. Arch Phys Med Rehabil. 2016;97:2202–2221.e8. doi: 10.1016/j.apmr.2016.03.023 Crossref.

19. Shrubsole K, Power E, Halle MC. Communication partner training with familiar partners of people with aphasia: A systematic review and synthesis of barriers and facilitators to implementation. Int J Lang Commun Disord. 2023;58:601–628. doi: 10.1111/1460-6984.12805 Crossref.

20. Palmer R, Hilari K, Magdalani C, Coster J, Beeke S, Gibbs E, Witts H, Sudworth K, Jagoe C, Cruice M. Aphasia partnership training: What outcomes do people with aphasia, family members and speech and language therapists expect? Int J Lang Commun Disord. 2025;60:e70015. doi: 10.1111/1460-6984.70015 Crossref.

21. Power E, Morrow R. Digital, co-created implementation of communication partner training programs for stroke, brain injury, and dementia: Past, present, and future. Int J Speech Lang Pathol. 2024;26:317–333. doi: 10.1080/17549507.2024.2362856 Crossref.

22. Raymer AM, Roitsch J. Effectiveness of Constraint-Induced Language Therapy for Aphasia: Evidence From Systematic Reviews and Meta-Analyses. Am J Speech Lang Pathol. 2023;32:2393–2401. doi: 10.1044/2022_AJSLP-22-00248 Crossref.

23. Peitz D, Schumann-Werner B, Hussmann K, Pinho J, Chen H, Binkofski F, Huber W, Willmes K, Heim S, Schulz JB, et al. Success rates of intensive aphasia therapy: real-world data from 448 patients between 2003 and 2020. J Neurol. 2024;271:7169–7183. doi: 10.1007/s00415-024-12429-7 Crossref.

24. Menahemi-Falkov M, Breitenstein C, Pierce JE, Hill AJ, O'Halloran R, Rose ML. A systematic review of maintenance following intensive therapy programs in chronic post-stroke aphasia: importance of individual response analysis. Disabil Rehabil. 2022;44:5811–5826. doi: 10.1080/09638288.2021.1955303 Crossref.

25. Low TA, Lindland K, Kirton A, Carlson HL, Harris AD, Goodyear BG, Monchi O, Hill MD, Rose ML, Dukelow SP. Transcranial Magnetic Stimulation Combined With Multimodality Aphasia Therapy for Chronic Poststroke Aphasia: A Randomized Clinical Trial. Neurology. 2025;104:e213424. doi: 10.1212/WNL.0000000000213424 Crossref.

26. Leff AP, Nightingale S, Gooding B, Rutter J, Craven N, Peart M, Dunstan A, Sherman A, Paget A, Duncan M, et al. Clinical Effectiveness of the Queen Square Intensive Comprehensive Aphasia Service for Patients With Poststroke Aphasia. Stroke. 2021;52:e594–e598. doi: 10.1161/STROKEAHA.120.033837 Crossref. PubMed.

27. Godecke E, Armstrong E, Rai T, Ciccone N, Rose ML, Middleton S, Whitworth A, Holland A, Ellery F, Hankey GJ, et al; VERSE Collaborative Group. A randomized control trial of intensive aphasia therapy after acute stroke: The Very Early Rehabilitation for SpEech (VERSE) study. Int J Stroke. 2021;16:556–572. doi: 10.1177/1747493020961926 Crossref.

28. Dignam J, Copland D, McKinnon E, Burfein P, O'Brien K, Farrell A, Rodriguez AD. Intensive Versus Distributed Aphasia Therapy: A Nonrandomized, Parallel-Group, Dosage-Controlled Study. Stroke. 2015;46:2206–2211. doi: 10.1161/STROKEAHA.115.009522 Crossref. PubMed.

29. Breitenstein C, Grewe T, Floel A, Ziegler W, Springer L, Martus P, Huber W, Willmes K, Ringelstein EB, Haeusler KG, et al; FCET2EC study group. Intensive speech and language therapy in patients with chronic aphasia after stroke: a randomised, open-label, blinded-endpoint, controlled trial in a health-care setting. Lancet. 2017;389:1528–1538. doi: 10.1016/S0140-6736(17)30067-3 Crossref.

30. Brady MC, Ali M, VandenBerg K, et al. Complex speech-language therapy interventions for stroke-related aphasia: the RELEASE study incorporating a systematic review and individual participant data network meta-analysis. Southampton (UK): National Institute for Health and Care Research; September 2022.

31. REhabilitation and recovery of peopLE with Aphasia after StrokE (RELEASE) Collaborators. Dosage, intensity, and frequency of language therapy for aphasia: a systematic review-based, individual participant data network meta-analysis. Stroke. 2022;53:956–967. doi: 10.1161/STROKEAHA.121.035216 Crossref.

32. Scott AM, Clark J, Cardona M, Atkins T, Peiris R, Greenwood H, Wenke R, Cardell E, Glasziou P. Telehealth versus face-to-face delivery of speech language pathology services: A systematic review and meta-analysis. J Telemed Telecare. 2025;31:1203–1215. doi: 10.1177/1357633X241272976 Crossref.

33. Ora HP, Kirmess M, Brady MC, Partee I, Hognestad RB, Johannessen BB, Thommessen B, Becker F. The effect of augmented speech-language therapy delivered by telerehabilitation on poststroke aphasia-a pilot randomized controlled trial. Clin Rehabil. 2020;34:369–381. doi: 10.1177/0269215519896616 Crossref.

34. Gan L, Huang L, Li L, Yang X, Meng L, Pang Z, Wei Q. ORLA combined with telerehabilitation in patients with subacute Poststroke aphasia: a randomized controlled trial. Sci Rep. 2025;15:22193. doi: 10.1038/s41598-025-06258-5 Crossref.

35. Nikolaev VA, Nikolaev AA. Recent trends in telerehabilitation of stroke patients: A narrative review. NeuroRehabilitation. 2022;51:1–22. doi: 10.3233/NRE-210330 Crossref.

36. Cacciante L, Kiper P, Garzon M, Baldan F, Federico S, Turolla A, Agostini M. Telerehabilitation for people with aphasia: A systematic review and meta-analysis. J Commun Disord. 2021;92:106111. doi: 10.1016/j.jcomdis.2021.106111 Crossref.

37. Laver KE, Adey-Wakeling Z, Crotty M, Lannin NA, George S, Sherrington C. Telerehabilitation services for stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2020;1:CD010255. doi: 10.1002/14651858.CD010255.pub3 Crossref.

38. Palmer R, Dimairo M, Cooper C, Enderby P, Brady M, Bowen A, Latimer N, Julious S, Cross E, Alshreef A, et al. Self-managed, computerised speech and language therapy for patients with chronic aphasia post-stroke compared with usual care or attention control (Big CACTUS): a multicentre, single-blinded, randomised controlled trial. Lancet Neurol. 2019;18:821–833. doi: 10.1016/S1474-4422(19)30192-9 Crossref.

39. Liu M, Qian Q, Wang W, Chen L, Wang L, Zhou Y, Xu S, Wu J, Feng T, Zhu Z, et al. Improvement in language function in patients with aphasia using computer-assisted executive function training: A controlled clinical trial. PM R. 2022;14:913–921. doi: 10.1002/pmrj.12679 Crossref.

40. Ericson C, Latysheva A, Poirier SE, Fossard M. Computer- and Smart-Tablet-Based Self-Administered Treatments in Chronic Post-Stroke Aphasia: A Systematic Review. Brain Sci. 2025;15:122. doi: 10.3390/brainsci15020122 Crossref.

41. De Luca R, Aragona B, Leonardi S, Torrisi M, Galletti B, Galletti F, Accorinti M, Bramanti P, De Cola MC, Calabrò RS. Computerized Training in Poststroke Aphasia: What About the Long-Term Effects? A Randomized Clinical Trial. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2018;27:2271–2276. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2018.04.019 Crossref.

42. Braley M, Pierce JS, Saxena S, De Oliveira E, Taraboanta L, Anantha V, Lakhan SE, Kiran S. A Virtual, Randomized, Control Trial of a Digital Therapeutic for Speech, Language, and Cognitive Intervention in Post-stroke Persons With Aphasia. Front Neurol. 2021;12:626780. doi: 10.3389/fneur.2021.626780 Crossref.

43. National Institute for Health and Care Excellence (NICE). Evidence reviews for computer-based tools for speech and language therapy: Stroke Rehabilitation in Adults (update). Published online 2023

44. Hoover E, Szabo G, Kohen F, Vitale S, McCloskey N, Maas E, Kulkarni V, DeDe G. The Benefits of Conversation Group Treatment for Individuals With Chronic Aphasia: Updated Evidence From a Multisite Randomized Controlled Trial on Measures of Language and Communication. Am J Speech Lang Pathol. 2025;34:1203–1218. doi: 10.1044/2025_AJSLP-24-00279 Crossref.

45. Koohi N, Vickers DA, Utoomprurkporn N, Werring DJ, Bamiou D-E. A Hearing Screening Protocol for Stroke Patients: An Exploratory Study. Front Neurol. 2019;10:842. doi: 10.3389/fneur.2019.00842 Crossref.

46. National Institute for Health and Care Excellence (NICE). Evidence reviews for the optimal tool for hearing assessment: Stroke Rehabilitation in Adults (update). Published online 2023

47. Ademoyegun AB, Ogundiran O, Kayode AJ, Olaosun AO, Awotidebe TO, Mbada CE. Hearing loss, gait and balance impairments and falls among individuals with sub-acute stroke: A comparative cross-sectional study. Heliyon. 2024;10:e26880. doi: 10.1016/j.heliyon.2024.e26880 Crossref.

48. Weerapol N, Leelakanok N. Communication between healthcare professionals and patients with hearing loss: A systematic review and meta-analysis. Am J Health Syst Pharm. 2024;81:521–530. doi: 10.1093/ajhp/zxae045 Crossref.

49. Barker F, Mackenzie E, Elliott L, Jones S, de Lusignan S. Interventions to improve hearing aid use in adult auditory rehabilitation. Cochrane Database Syst Rev. 2016;2016:CD010342. doi: 10.1002/14651858.CD010342.pub3 Crossref.

50. Gronberg A, Henriksson I, Stenman M, Lindgren AG. Incidence of Aphasia in Ischemic Stroke. Neuroepidemiology. 2022;56:174–182. doi: 10.1159/000524206 Crossref.

51. Wang C, Nie P, Wang P, Wang Y, Zang Y, Zhang Y. The Therapeutic Effect of Transcranial Magnetic Stimulation on Post-stroke Aphasia and the Optimal Treatment Parameters: A Meta-analysis. Arch Phys Med Rehabil. 2024;105:1388–1398. doi: 10.1016/j.apmr.2023.11.006 Crossref.

52. Gopaul U, Jethani P, Enam N, Amirpour A, Crozier O, Charalambous M, Bayley M. Cognitive Impairment After Stroke: Rehabilitation Strategies and SMART Goal Setting. Arch Phys Med Rehabil. 2025;106:641–647. doi: 10.1016/j.apmr.2024.08.030 Crossref.

53. American Speech-Language and Hearing Association. Scope of practice in speech-language pathology. Published online 2016. Accessed September 4, 2026. https://www.asha.org/policy/sp2016-00343/?srsltid=AfmBOooJ-YfTx9f7XQWH5LSmFp6YSUKfbArNMaMyF29cTSCxPAn1gIxQ

54. Naito Y, Koshino Y, Ota H, Piano M, Watanabe A, Inagaki Y, Tokikuni Y, Sawamura D. Short-term effect of prism adaptation treatment on severity of unilateral spatial neglect following right hemispheric stroke: a systematic review and meta-analysis. J Rehabil Med. 2025;57:jrm42542. doi: 10.2340/jrm.v57.42542 Crossref.

55. Boyle M, Coelho CA. Application of semantic feature analysis as a treatment for aphasic dysnomia. Am J Speech Lang Pathol. 1995;4:94–98. doi: 10.1044/1058-0360.0404.94 Crossref.

56. Edmonds LA, Nadeau SE, Kiran S. Effect of Verb Network Strengthening Treatment (VNeST) on Lexical Retrieval of Content Words in Sentences in Persons with Aphasia. Aphasiology. 2009;23:402–424. doi: 10.1080/02687030802291339 Crossref.

57. Hinckley J, Jayes M. Person-centered care for people with aphasia: tools for shared decision-making. Front Rehabil Sci. 2023;4:1236534. doi: 10.3389/fresc.2023.1236534 Crossref.

58. van Rijssen MN, Veldkamp M, Bryon E, Remijn L, Visser-Meily JMA, Gerrits E, van Ewijk L. How do healthcare professionals experience communication with people with aphasia and what content should communication partner training entail? Disabil Rehabil. 2022;44:3671–3678. doi: 10.1080/09638288.2021.1878561 Crossref.

58a. American Speech Language Hearing Association. Speech-language pathology CPT HCPCS codes changes for 2025. Accessed September 4, 2025. https://www.asha.org/practice/reimbursement/coding/new_codes_slp/?srsltid=AfmBOopFkow2QuaoaSTJBc69FTS-3d1SwYQZok10e5pAF-8Q9XFoBHYM

59. Shaver J. The State of Telehealth Before and After the COVID-19 Pandemic. Prim Care. 2022;49:517–530. doi: 10.1016/j.pop.2022.04.002 Crossref. PubMed.

60. Fama ME, Baron CR, Hatfield B, Turkeltaub PE. Group therapy as a social context for aphasia recovery: a pilot, observational study in an acute rehabilitation hospital. Top Stroke Rehabil. 2016;23:276–283. doi: 10.1080/10749357.2016.1155277 Crossref.

61. Zhong Y, Li H, Liu G, Liu J, Mo J-J, Zhao X, Ju Y. Early detection of stroke at the sudden sensorineural hearing loss stage. Front Neurol. 2023;14:1293102. doi: 10.3389/fneur.2023.1293102 Crossref.

62. Koohi N, Vickers D, Chandrashekar H, Tsang B, Werring D, Bamiou D-E. Auditory rehabilitation after stroke: treatment of auditory processing disorders in stroke patients with personal frequency-modulated (FM) systems. Disabil Rehabil. 2017;39:586–593. doi: 10.3109/09638288.2016.1152608 Crossref.

63. Petersen EB, MacDonald EN, Josefine Munch Sorensen A. The Effects of Hearing-Aid Amplification and Noise on Conversational Dynamics Between Normal-Hearing and Hearing-Impaired Talkers. Trends Hear. 2022;26:23312165221103340. doi: 10.1177/23312165221103340 Crossref.

64. Sharma S, Prajapati V, Sharma A, Tan BYQ, Sharma VK. Hearing Impairment in Stroke Patients- Findings from a Pilot Study Conducted in India. Indian J Otolaryngol Head Neck Surg. 2022;74:651–657. doi: 10.1007/s12070-021-02474-3 Crossref.

65. American Speech Language and Hearing Association. Adult Hearing loss: Treatment and management. Accessed September 4, 2025. https://www.asha.org

66. Yao L, Zhao H, Shen C, Liu F, Qiu L, Fu L. Low-Frequency Repetitive Transcranial Magnetic Stimulation in Patients With Poststroke Aphasia: Systematic Review and Meta-Analysis of Its Effect Upon Communication. J Speech Lang Hear Res. 2020;63:3801–3815. doi: 10.1044/2020_JSLHR-19-00077 Crossref.

67. Cheng J, Jiang Y, Rao T, Yang Y, Liu Y, Zhan Y, Yang S. Repetitive transcranial magnetic stimulation for post-stroke non-fluent aphasia: a systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials. Front Neurol. 2024;15:1348695. doi: 10.3389/fneur.2024.1348695 Crossref.

68. Duan X, Huang D, Zhong H, Wu J, Xiao Z, Yang P, Han Y, Jiang H, Zhou P, Liu X. Efficacy of rTMS in treating functional impairment in post-stroke patients: a systematic review and meta-analysis. Neurol Sci. 2024;45:3887–3899. doi: 10.1007/s10072-024-07455-2 Crossref.

69. Gholami M, Pourbaghi N, Taghvatalab S. Evaluation of rTMS in patients with poststroke aphasia: a systematic review and focused meta-analysis. Neurol Sci. 2022;43:4685–4694. doi: 10.1007/s10072-022-06092-x Crossref.

70. Hong Z, Zheng H, Luo J, Yin M, Ai Y, Deng B, Feng W, Hu X. Effects of Low-Frequency Repetitive Transcranial Magnetic Stimulation on Language Recovery in Poststroke Survivors With Aphasia: An Updated Meta-analysis. Neurorehabil Neural Repair. 2021;35:680–691. doi: 10.1177/15459683211011230 Crossref.

71. Lin X, Li H, Wu X, Huang R. Effect of three rehabilitation methods combined with transcranial electromagnetic stimulation on post-stroke aphasia: a RCT network meta-analysis. Front Neurol. 2025;16:1600065. doi: 10.3389/fneur.2025.1600065 Crossref.

72. Kielar A, Patterson D, Chou YH. Efficacy of repetitive transcranial magnetic stimulation in treating stroke aphasia: Systematic review and meta-analysis. Clin Neurophysiol. 2022;140:196–227. doi: 10.1016/j.clinph.2022.04.017 Crossref.

73. Jiang T, Wei X, Wang M, Xu J, Xia N, Lu M. Theta burst stimulation: what role does it play in stroke rehabilitation? A systematic review of the existing evidence. BMC Neurol. 2024;24:52. doi: 10.1186/s12883-023-03492-0 Crossref.

74. Arheix-Parras S, Barrios C, Python G, Cogné M, Sibon I, Engelhardt M, Dehail P, Cassoudesalle H, Moucheboeuf G, Glize B. A systematic review of repetitive transcranial magnetic stimulation in aphasia rehabilitation: Leads for future studies. Neurosci Biobehav Rev. 2021;127:212–241. doi: 10.1016/j.neubiorev.2021.04.008 Crossref.

75. Allendorfer JB, Nenert R, Vannest J, Szaflarski JP. A Pilot Randomized Controlled Trial of Intermittent Theta Burst Stimulation as Stand-Alone Treatment for Post-Stroke Aphasia: Effects on Language and Verbal Functional Magnetic Resonance Imaging (fMRI). Med Sci Monit. 2021;27:e934818. doi: 10.12659/MSM.934818 Crossref.

76. Bai G, Jiang L, Huan S, Meng P, Wang Y, Pan X, Yin S, Zhao Y, Wang Q. Study on Low-Frequency Repetitive Transcranial Magnetic Stimulation Improves Speech Function and Mechanism in Patients With Non-fluent Aphasia After Stroke. Front Aging Neurosci. 2022;14:883542. doi: 10.3389/fnagi.2022.883542 Crossref.

77. Bai G, Jiang L, Li Q, Qiu P. Study on Intermittent Theta Burst Stimulation Improves Expression Function and Mechanism in Patients With Aphasia After Stroke. Neurologist. 2025;30:204–211. doi: 10.1097/NRL.0000000000000622 Crossref.

78. Chou TY, Wang JC, Lin MY, Tsai P-Y. Low-Frequency vs. Theta Burst Transcranial Magnetic Stimulation for the Treatment of Chronic Non-fluent Aphasia in Stroke: A Proof-of-Concept Study. Front Aging Neurosci. 2021;13:800377. doi: 10.3389/fnagi.2021.800377 Crossref.

79. Dang H, Chen J, Li J, Wu Y, Zeng Z. Effects of speech rehabilitation training combined with repetitive transcranial magnetic stimulation on patients with post-stroke aphasia. Clin Neurol Neurosurg. 2025;252:108833. doi: 10.1016/j.clineuro.2025.108833 Crossref.

80. Dresang HC, Harvey DY, Vnenchak L, Parchure S, Cason S, Twigg P, Faseyitan O, Maher LM, Hamilton RH, Coslett HB. Semantic and phonological abilities inform efficacy of transcranial magnetic stimulation on sustained aphasia treatment outcomes. Neurobiol Lang (Camb). 2025;6:nol_a_00160. doi: 10.1162/nol_a_00160 Crossref.

81. Fahmy EM, Elshebawy HM. Effect of High Frequency Transcranial Magnetic Stimulation on Recovery of Chronic Post-Stroke Aphasia. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2021;30:105855. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2021.105855 Crossref.

82. Gan L, Huang L, Zhang Y, Yang X, Li L, Meng L, Wei Q. Effects of low-frequency rTMS combined with speech and language therapy on Broca's aphasia in subacute stroke patients. Front Neurol. 2024;15:1473254. doi: 10.3389/fneur.2024.1473254 Crossref.

83. Szaflarski JP, Nenert R, Allendorfer JB, Martin AN, Amara AW, Griffis JC, Dietz A, Mark VW, Sung VW, Walker HC, et al. Intermittent Theta Burst Stimulation (iTBS) for Treatment of Chronic Post-Stroke Aphasia: Results of a Pilot Randomized, Double-Blind, Sham-Controlled Trial. Med Sci Monit. 2021;27:e931468. doi: 10.12659/MSM.931468 Crossref.

84. Zumbansen A, Kneifel H, Lazzouni L, Ophey A, Black SE, Chen JL, Edwards D, Funck T, Hartmann AE, Heiss W-D, et al; NORTHSTAR-study group. Differential Effects of Speech and Language Therapy and rTMS in Chronic Versus Subacute Post-stroke Aphasia: Results of the NORTHSTAR-CA Trial. Neurorehabil Neural Repair. 2022;36:306–316. doi: 10.1177/15459683211065448 Crossref.

85. Li J, Jiang Y, Li S, Zhuang L. Meta-analysis of clinical efficacy of acupuncture and moxibustion in rehabilitation treatment for post-stroke aphasia. Am J Transl Res. 2024;16:5182–5190. doi: 10.62347/VYKU6210 Crossref.

86. Zhang B, Han Y, Huang X, Liu Z, Li S, Chang J, Gao Y. Acupuncture is effective in improving functional communication in post-stroke aphasia : A systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials. Wien Klin Wochenschr. 2019;131:221–232. doi: 10.1007/s00508-019-1478-5 Crossref.

87. Zhang L, Lin B, Huang Y, Wang M, Ni J, Song J, Huang J. Speech and Language Therapy Plus Electroacupuncture or Non-Invasive Brain Stimulation for Post-Stroke Aphasia: A Systematic Review and Network Meta-Analysis. NeuroRehabilitation. 2025;56:302–314. doi: 10.1177/10538135241312600 Crossref.

88. Zhang Y, Wang Z, Jiang X, Lv Z, Wang L, Lu L. Effectiveness of Acupuncture for Poststroke Aphasia: A Systematic Review and Meta-Analysis of Randomized Controlled Trials. Complement Med Res. 2021;28:545–556. doi: 10.1159/000512672 Crossref.

89. Zhou D, Liang R, Zhu L, Tang Q. A meta-analysis of functional recovery of aphasia after stroke by acupuncture combined with language rehabilitation training. Medicine (Baltim). 2023;102:e36160. doi: 10.1097/MD.0000000000036160 Crossref.

90. Li B, Deng S, Zhuo B, Sang B, Chen J, Zhang M, Tian G, Zhang L, Du Y, Zheng P, et al. Effect of Acupuncture vs Sham Acupuncture on Patients With Poststroke Motor Aphasia: A Randomized Clinical Trial. JAMA Netw Open. 2024;7:e2352580. doi: 10.1001/jamanetworkopen.2023.52580 Crossref.

91. Bislick L, Dietz A, Duncan ES, Cornelius K. The Feasibility and Benefits of a Virtual Yoga Practice for Stroke Survivors With Aphasia. Am J Speech Lang Pathol. 2023;32:1679–1688. doi: 10.1044/2023_AJSLP-22-00269 Crossref.

92. Lin B, Ni J, Xiong X, Zhang L, Song J, Wang M, Chai L, Huang Y, Huang J. Language function improvement and cortical activity alteration using scalp acupuncture coupled with speech-language training in post-stroke aphasia: A randomised controlled study. Complement Ther Med. 2025;89:103137. doi: 10.1016/j.ctim.2025.103137 Crossref.

93. Sang B, Deng S, Zhai J, Hao T, Zhuo B, Qin C, Zhang M, Zhao X, Meng Z. Does acupuncture therapy improve language function of patients with aphasia following ischemic stroke? A systematic review and meta-analysis. NeuroRehabilitation. 2022;51:231–245. doi: 10.3233/NRE-220007 Crossref.

94. Akabogu J, Nnamani A, Otu MS, Ukoha E, Uloh-Bethels AC, Obiezu MN, Ike CV, Iyekekpolor OM, Omile JC, Dike AE. Efficacy of cognitive behavior language therapy for aphasia following stroke: Implications for language education research. Medicine (Baltim). 2019;98:e15305. doi: 10.1097/MD.0000000000015305 Crossref.

95. Baker C, Thomas S, Tjokrowijoto P, Ryan B, Kneebone I, Stolwyk R. Aphasia Depression and Psychological Therapy (ADaPT): Perspectives of People with Post-Stroke Aphasia on Participating in a Modified Cognitive Behavioral Therapy. Healthcare (Basel). 2024;12:771. doi: 10.3390/healthcare12070771 Crossref.

96. Homberg V, Jianu DC, Stan A, Strilciuc S, Chelaru V-F, Karliński M, Brainin M, Heiss WD, Muresanu DF, Enderby PM. Speech Therapy Combined With Cerebrolysin in Enhancing Nonfluent Aphasia Recovery After Acute Ischemic Stroke: ESCAS Randomized Pilot Study. Stroke. 2025;56:937–947. doi: 10.1161/STROKEAHA.124.049834 Crossref. PubMed.

97. Huang X, Xie Y, Li Y. Effectiveness and Safety of Butyphthalide Injection in Treatment of Aphasia after Cerebral Infarction: A Meta-analysis. Comb Chem High Throughput Screen. 2025;28:2475–2484. doi: 10.2174/0113862073368524250313053657 Crossref.

98. Adikari A, Hernandez N, Alahakoon D, Rose ML, Pierce JE. From concept to practice: a scoping review of the application of AI to aphasia diagnosis and management. Disabil Rehabil. 2024;46:1288–1297. doi: 10.1080/09638288.2023.2199463 Crossref.

99. Cao Y, Huang X, Zhang B, Kranz GS, Zhang D, Li X, Chang J. Effects of virtual reality in post-stroke aphasia: a systematic review and meta-analysis. Neurol Sci. 2021;42:5249–5259. doi: 10.1007/s10072-021-05202-5 Crossref.

100. Cherney LR, Lee JB, Kim KA, van Vuuren S. Web-based Oral Reading for Language in Aphasia (Web ORLA®): A pilot randomized control trial. Clin Rehabil. 2021;35:976–987. doi: 10.1177/0269215520988475 Crossref.

101. Giachero A, Calati M, Pia L, La Vista L, Molo M, Rugiero C, Fornaro C, Marangolo P. Conversational Therapy through Semi-Immersive Virtual Reality Environments for Language Recovery and Psychological Well-Being in Post Stroke Aphasia. Behav Neurol. 2020;2020:2846046. doi: 10.1155/2020/2846046 Crossref.

102. Lavoie M, Macoir J, Bier N. Effectiveness of technologies in the treatment of post-stroke anomia: A systematic review. J Commun Disord. 2017;65:43–53. doi: 10.1016/j.jcomdis.2017.01.001 Crossref.

103. Ruiz Ares G, Martin Alonso M, Rigual R, Hervás Testal C, Torres Iglesias G, Casado Fernandez L, de Celis Ruiz E, Rodríguez Pardo J, Carvajal Muñoz J, González Martín L, et al. Digital tool as speech and language therapy for patients with post-stroke aphasia. Digit Health. 2025;11:20552076251314551. doi: 10.1177/20552076251314551 Crossref.

6.3. Motor Speech Disorders: Dysarthria and Apraxia of Speech

1. Wambaugh J, Nessler C, Wright S, Mauszycki S, DeLong C. Sound production treatment for acquired apraxia of speech: Effects of blocked and random practice on multisyllabic word production. Int J Speech Lang Pathol. 2016;18:450–464. doi: 10.3109/17549507.2015.1101161 Crossref.

2. Mitchell C, Bowen A, Tyson S, Butterfint Z, Conroy P. Interventions for dysarthria due to stroke and other adult-acquired, non-progressive brain injury. Cochrane Database Syst Rev. 2017;1:CD002088. doi: 10.1002/14651858.CD002088.pub3 Crossref.

3. Wambaugh JL, Wright S, Nessler C, Mauszycki SC, Bunker L, Boss E, Zhang Y, Hula WD, Doyle PJ. Further Study of the Effects of Treatment Intensity on Outcomes of Sound Production Treatment for Acquired Apraxia of Speech: Does Dose Frequency Matter? Am J Speech Lang Pathol. 2020;29:263–285. doi: 10.1044/2019_AJSLP-19-00005 Crossref.

4. Chiaramonte R, Pavone P, Vecchio M. Speech rehabilitation in dysarthria after stroke: a systematic review of the studies. Eur J Phys Rehabil Med. 2020;56:547–562. doi: 10.23736/S1973-9087.20.06185-7 Crossref.

5. Chiaramonte R, Vecchio M. Dysarthria and stroke. The effectiveness of speech rehabilitation. A systematic review and meta-analysis of the studies. Eur J Phys Rehabil Med. 2021;57:24–43. doi: 10.23736/S1973-9087.20.06242-5 Crossref.

6. Liaw MY, Hsu CH, Leong CP, Liao C-Y, Wang L-Y, Lu C-H, Lin M-C. Respiratory muscle training in stroke patients with respiratory muscle weakness, dysphagia, and dysarthria - a prospective randomized trial. Medicine (Baltim). 2020;99:e19337. doi: 10.1097/MD.0000000000019337 Crossref.

7. Wang J, Li G, Ding S, Yu L, Wang Y, Qiao L, Wu Q, Ni W, Fan H, Zheng Q, et al. Liuzijue qigong versus traditional breathing training for patients with post-stroke dysarthria complicated by abnormal respiratory control: Results of a single-center randomized controlled trial. Clin Rehabil. 2021;35:999–1010. doi: 10.1177/0269215521992473 Crossref.

8. Perin C, Mazzucchelli M, Piscitelli D, Braghetto G, Meroni R, Cornaggia CM, Cerri CG. Feasibility of a standardized protocol for respiratory training with intermitted positive pressure breathing ventilator application in dysphonia and dysarthria. Eur J Phys Rehabil Med. 2022;58:218–224. doi: 10.23736/S1973-9087.21.06946-X Crossref.

9. Xia J, Pei S, Chen Z, Wang L, Hu J, Wang J. Effects of Conventional Speech Therapy with Liuzijue Qigong, a Traditional Chinese Method of Breath Training, in 70 Patients with Post-Stroke Spastic Dysarthria. Med Sci Monit. 2023;29:e939623. doi: 10.12659/MSM.939623 Crossref.

10. Lancioni GE, Singh NN, O’Reilly MF, Sigafoos J, D'Amico F, Addante LM, Ferlisi G, Zullo V, Oliva D, Megna M. Technology to help persons with extensive neuro-motor impairment and lack of speech with their leisure occupation and communication. Res Dev Disabil. 2014;35:611–618. doi: 10.1016/j.ridd.2014.01.002 Crossref.

11. Alodan HA, Sutt AL, Hill R, Alsadhan J, Cross JL. Effectiveness, experience, and usability of low-technology augmentative and alternative communication in intensive care: A mixed-methods systematic review. Aust Crit Care. 2025;38:101061. doi: 10.1016/j.aucc.2024.04.006 Crossref.

12. Beijer LJ, Rietveld AC, Ruiter MB, Geurts ACH. Preparing an E-learning-based Speech Therapy (EST) efficacy study: Identifying suitable outcome measures to detect within-subject changes of speech intelligibility in dysarthric speakers. Clin Linguist Phon. 2014;28:927–950. doi: 10.3109/02699206.2014.936627 Crossref.

13. Mallet KH, Shamloul RM, Corbett D, Finestone HM, Hatcher S, Lumsden J, Momoli F, Shamy MCF, Stotts G, Swartz RH, et al. RecoverNow: Feasibility of a Mobile Tablet-Based Rehabilitation Intervention to Treat Post-Stroke Communication Deficits in the Acute Care Setting. PLoS One. 2016;11:e0167950. doi: 10.1371/journal.pone.0167950 Crossref.

14. Varley R, Cowell PE, Dyson L, Inglis L, Roper A, Whiteside SP. Self-Administered Computer Therapy for Apraxia of Speech: Two-Period Randomized Control Trial With Crossover. Stroke. 2016;47:822–828. doi: 10.1161/STROKEAHA.115.011939 Crossref.

15. Mitchell C, Bowen A, Tyson S, Conroy P. A feasibility randomized controlled trial of ReaDySpeech for people with dysarthria after stroke. Clin Rehabil. 2018;32:1037–1046. doi: 10.1177/0269215517748453 Crossref.

16. You L, Wang Y, Chen W, Zhang S, Rao J, Liu L, Shan C. The Effectiveness of Action Observation Therapy Based on Mirror Neuron Theory in Chinese Patients with Apraxia of Speech after Stroke. Eur Neurol. 2019;81:278–286. doi: 10.1159/000503960 Crossref.

17. Kim Y, Kim M, Kim J, Song T-J. Smartphone-Based Speech Therapy for Poststroke Dysarthria: Pilot Randomized Controlled Trial Evaluating Efficacy and Feasibility. J Med Internet Res. 2024;26:e56417. doi: 10.2196/56417 Crossref.

18. Spencer KA, Eddy B, Papathanasiou I, Summers D, Britton D. Management of Velopharyngeal Impairment in Adults With Dysarthria: A Systematic Review. Am J Speech Lang Pathol. 2025;34:391–409. doi: 10.1044/2024_AJSLP-24-00287 Crossref.

19. Cherney LR, van Vuuren S. Telerehabilitation, virtual therapists, and acquired neurologic speech and language disorders. Semin Speech Lang. 2012;33:243–257. doi: 10.1055/s-0032-1320044 Crossref. PubMed.

20. American Speech-Language-Hearing Association. Telepractice. Accessed August 13, 2025. https://www.asha.org/practice-portal/professional-issues/telepractice/

21. McCauley RJ, Strand E, Lof GL, Schooling T, Frymark T. Evidence-based systematic review: effects of nonspeech oral motor exercises on speech. Am J Speech Lang Pathol. 2009;18:343–360. doi: 10.1044/1058-0360(2009/09-0006) Crossref.

22. Mackenzie C, Muir M, Allen C, Jensen A. Non-speech oro-motor exercises in post-stroke dysarthria intervention: a randomized feasibility trial. Int J Lang Commun Disord. 2014;49:602–617. doi: 10.1111/1460-6984.12096 Crossref.

23. Duffy J. Motor Speech Disorders: Substrates, Differential Diagnosis, and Management, 4th ed. Elsevier; 2020.

24. Wong MN, Baig FN, Chan YK, Ng ML, Zhu FF, Kwan JSK. Transcranial direct current stimulation over the primary motor cortex improves speech production in post-stroke dysarthric speakers: A randomized pilot study. PLoS One. 2022;17:e0275779. doi: 10.1371/journal.pone.0275779 Crossref.

25. Buchwald A, Khosa N, Rimikis S, Duncan ES. Behavioral and neurological effects of tDCS on speech motor recovery: A single-subject intervention study. Brain Lang. 2020;210:104849. doi: 10.1016/j.bandl.2020.104849 Crossref.

6.4. Spatial Neglect

1. Bode LKG, Sprenger A, Helmchen C, Hauptmann B, Münte TF, Machner B. Combined optokinetic stimulation and cueing-assisted reading therapy to treat hemispatial neglect: A randomized controlled crossover trial. Ann Phys Rehabil Med. 2023;66:101713. doi: 10.1016/j.rehab.2022.101713 Crossref.

2. Hill D, Coats RO, Halstead A, Burke MR. A Systematic Research Review Assessing the Effectiveness of Pursuit Interventions in Spatial Neglect Following Stroke. Transl Stroke Res. 2015;6:410–420. doi: 10.1007/s12975-015-0420-z Crossref.

3. Kerkhoff G, Bucher L, Brasse M, Leonhart E, Holzgraefe M, Völzke V, Keller I, Reinhart S. Smooth Pursuit "Bedside" Training Reduces Disability and Unawareness During the Activities of Daily Living in Neglect: A Randomized Controlled Trial. Neurorehabil Neural Repair. 2014;28:554–563. doi: 10.1177/1545968313517757 Crossref.

4. Klinke ME, Hafsteinsdottir TB, Hjaltason H, Jónsdóttir H. Ward-based interventions for patients with hemispatial neglect in stroke rehabilitation: a systematic literature review. Int J Nurs Stud. 2015;52:1375–1403. doi: 10.1016/j.ijnurstu.2015.04.004 Crossref.

5. Machner B, Konemund I, Sprenger A, von der Gablentz J, Helmchen C. Randomized controlled trial on hemifield eye patching and optokinetic stimulation in acute spatial neglect. Stroke. 2014;45:2465–2468. doi: 10.1161/STROKEAHA.114.006059 Crossref. PubMed.

6. van Wyk A, Eksteen CA, Rheeder P. The effect of visual scanning exercises integrated into physiotherapy in patients with unilateral spatial neglect poststroke: a matched-pair randomized control trial. Neurorehabil Neural Repair. 2014;28:856–873. doi: 10.1177/1545968314526306 Crossref.

7. Gandhi DB, Sterba A, Khatter H, Pandian JD. Mirror Therapy in Stroke Rehabilitation: Current Perspectives. Ther Clin Risk Manag. 2020;16:75–85. doi: 10.2147/TCRM.S206883 Crossref.

8. Lisalde-Rodriguez ME, Garcia-Fernandez JA. [Mirror therapy in hemiplegic patient]. Rev Neurol. 2016;62:28–36.

9. Barrett AM, Goedert KM, Basso JC. Prism adaptation for spatial neglect after stroke: translational practice gaps. Nat Rev Neurol. 2012;8:567–577. doi: 10.1038/nrneurol.2012.170 Crossref. PubMed.

10. Champod AS, Frank RC, Taylor K, Eskes GA. The effects of prism adaptation on daily life activities in patients with visuospatial neglect: a systematic review. Neuropsychol Rehabil. 2018;28:491–514. doi: 10.1080/09602011.2016.1182032 Crossref. PubMed.

11. Chen P, Noce N, DeBel E, O'Connor J, DeLuca J. Prism Adaptation Treatment May Reduce In-Hospital Falls Among Individuals With Spatial Neglect After Stroke. Neurorehabil Neural Repair. 2025;39:464–472. doi: 10.1177/15459683251327569 Crossref.

12. De Wit L, Ten Brink AF, Visser-Meily JMA, Nijboer TCW. Does prism adaptation affect visual search in spatial neglect patients: A systematic review. J Neuropsychol. 2018;12:53–77. doi: 10.1111/jnp.12100 Crossref.

13. Gillen RW, Harmon EY, Weil B, Fusco-Gessick B, Novak PP, Barrett AM. Prism Adaptation Treatment of Spatial Neglect: Feasibility During Inpatient Rehabilitation and Identification of Patients Most Likely to Benefit. Front Neurol. 2022;13:803312. doi: 10.3389/fneur.2022.803312 Crossref.

14. Goedert KM, Chen P, Boston RC, Foundas AL, Barrett AM. Presence of Motor-Intentional Aiming Deficit Predicts Functional Improvement of Spatial Neglect With Prism Adaptation. Neurorehabil Neural Repair. 2014;28:483–493. doi: 10.1177/1545968313516872 Crossref.

15. Li J, Li L, Yang Y, Chen S. Effects of Prism Adaptation for Unilateral Spatial Neglect After Stroke: A Systematic Review and Meta-Analysis. Am J Phys Med Rehabil. 2021;100:584–591. doi: 10.1097/PHM.0000000000001598 Crossref.

16. Longley V, Woodward-Nutt K, Turton AJ, Stocking K, Checketts M, Bamford A, Douglass E, Taylor J, Woodley J, Moule P, et al. A study of prisms and therapy in attention loss after stroke (SPATIAL): A feasibility randomised controlled trial. Clin Rehabil. 2023;37:381–393. doi: 10.1177/02692155221134060 Crossref.

17. Naito Y, Koshino Y, Ota H, Piano M, Watanabe A, Inagaki Y, Tokikuni Y, Sawamura D. Short-term effect of prism adaptation treatment on severity of unilateral spatial neglect following right hemispheric stroke: a systematic review and meta-analysis. J Rehabil Med. 2025;57:jrm42542. doi: 10.2340/jrm.v57.42542 Crossref.

18. Qiu H, Wang J, Yi W, Yin Z, Wang H, Li J. Effects of Prism Adaptation on Unilateral Neglect After Stroke: An Updated Meta-Analysis of Randomized Controlled Trials. Am J Phys Med Rehabil. 2021;100:259–265. doi: 10.1097/PHM.0000000000001557 Crossref.

19. Rode G, Lacour S, Jacquin-Courtois S, Pisella L, Michel C, Revol P, Alahyane N, Luauté J, Gallagher S, Halligan P, et al. Long-term sensorimotor and therapeutical effects of a mild regime of prism adaptation in spatial neglect. A double-blind RCT essay. Ann Phys Rehabil Med. 2015;58:40–53. doi: 10.1016/j.rehab.2014.10.004 Crossref.

20. Simmons-Mackie N, Raymer A, Cherney LR. Communication Partner Training in Aphasia: An Updated Systematic Review. Arch Phys Med Rehabil. 2016;97:2202–2221.e8. doi: 10.1016/j.apmr.2016.03.023 Crossref.

21. Szekely O, Ten Brink AF, Mitchell AG, Bultitude JH, McIntosh RD. No short-term treatment effect of prism adaptation for spatial neglect: An inclusive meta-analysis. Neuropsychologia. 2023;189:108566. doi: 10.1016/j.neuropsychologia.2023.108566 Crossref.

22. Ten Brink AF, Visser-Meily JMA, Schut MJ, Kouwenhoven M, Eijsackers ALH, Nijboer TCW. Prism Adaptation in Rehabilitation? No Additional Effects of Prism Adaptation on Neglect Recovery in the Subacute Phase Poststroke: A Randomized Controlled Trial. Neurorehabil Neural Repair. 2017;31:1017–1028. doi: 10.1177/1545968317744277 Crossref.

23. Umeonwuka CI, Roos R, Ntsiea V. Clinical and demographic predictors of unilateral spatial neglect recovery after prism therapy among stroke survivors in the sub-acute phase of recovery. Neuropsychol Rehabil. 2023;33:1624–1649. doi: 10.1080/09602011.2022.2131582 Crossref.

24. Vaes N, Nys G, Lafosse C, Dereymaeker L, Oostra K, Hemelsoet D, Vingerhoets G. Rehabilitation of visuospatial neglect by prism adaptation: effects of a mild treatment regime. A randomised controlled trial. Neuropsychol Rehabil. 2018;28:899–918. doi: 10.1080/09602011.2016.1208617 Crossref.

25. Vilimovsky T, Chen P, Hoidekrova K, Petioky J, Harsa P. Prism adaptation treatment to address spatial neglect in an intensive rehabilitation program: A randomized pilot and feasibility trial. PLoS One. 2021;16:e0245425. doi: 10.1371/journal.pone.0245425 Crossref.

26. Zhu Y, Quesque F, Nishida D, Jacquin-Courtois S, Luaute J, Chabanat E, Rode G, Rossetti Y. Significant immediate and limited long-term benefit of prism adaptation on spatial neglect: a systematic review and meta-analysis of RCTs. Ann Phys Rehabil Med. 2025;68:102022. doi: 10.1016/j.rehab.2025.102022 Crossref.

27. Volkening K, Kerkhoff G, Keller I. Effects of repetitive galvanic vestibular stimulation on spatial neglect and verticality perception-a randomised sham-controlled trial. Neuropsychol Rehabil. 2018;28:1179–1196. doi: 10.1080/09602011.2016.1248446 Crossref.

28. Wheeler C, Smith LJ, Sakel M, Wilkinson D. A systematic review of vestibular stimulation in post-stroke visual neglect. Neuropsychol Rehabil. 2025;35:408–440. doi: 10.1080/09602011.2024.2338603 Crossref.

29. Barrett AM. Spatial Neglect and Anosognosia After Right Brain Stroke. Continuum (Minneap Minn). 2021;27:1624–1645. doi: 10.1212/CON.0000000000001076 Crossref.

30. Morrow C, Gasque H, Woodbury M, Almallouhi E, Simpson A, Simpson K. Diagnosis of spatial neglect and rehabilitation access for stroke survivors. Cogent Gerontol. 2024;3:2375706. doi: 10.1080/28324897.2024.2375706 Crossref.

31. Barrett AM, Goedert KM, Carter AR, Chaudhari A. Spatial neglect treatment: The brain's spatial-motor Aiming systems. Neuropsychol Rehabil. 2022;32:662–688. doi: 10.1080/09602011.2020.1862678 Crossref.

32. Durfee AZ, Hillis AE. Unilateral Spatial Neglect Recovery Poststroke. Stroke. 2023;54:10–19. doi: 10.1161/STROKEAHA.122.041710 Crossref. PubMed.

33. Barrett AM, Buxbaum LJ, Coslett HB, Edwards E, Heilman KM, Hillis AE, Milberg WP, Robertson IH. Cognitive rehabilitation interventions for neglect and related disorders: moving from bench to bedside in stroke patients. J Cogn Neurosci. 2006;18:1223–1236. doi: 10.1162/jocn.2006.18.7.1223 Crossref. PubMed.

34. Diller L, Weinberg J. Hemi-inattention in rehabilitation: the evolution of a rational remediation program. Adv Neurol. 1977;18:63–82.

35. Robertson IH, North NT, Geggie C. Spatiomotor cueing in unilateral left neglect: three case studies of its therapeutic effects. J Neurol Neurosurg Psychiatry. 1992;55:799–805. doi: 10.1136/jnnp.55.9.799 Crossref.

36. Bazan R, Fonseca BHS, Miranda JMA, Nunes Hélio Rubens de Carvalho, Bazan SGZ, Luvizutto GJ. Effect of Robot-Assisted Training on Unilateral Spatial Neglect After Stroke: Systematic Review and Meta-Analysis of Randomized Controlled Trials. Neurorehabil Neural Repair. 2022;36:545–556. doi: 10.1177/15459683221110894 Crossref.

37. Marandola MM, Jimenez-Martin I, Rodriguez-Yanez M, Arias-Rivas S, Santamaría-Calavid M, Castillo J. [Constraint-induced movement therapy in the rehabilitation of hemineglect after a stroke]. Rev Neurol. 2020;70:119–126. doi: 10.33588/rn.7004.2019330 Crossref.

38. Stammler B, Flammer K, Schuster T, Lambert M, Neumann O, Lux M, Matuz T, Karnath H-O. Spatial Neglect Therapy With the Augmented Reality App "Negami" for Active Exploration Training: A Randomized Controlled Trial on 20 Stroke Patients With Spatial Neglect. Arch Phys Med Rehabil. 2023;104:1987–1994. doi: 10.1016/j.apmr.2023.07.017 Crossref.

39. Motomura K, Amimoto K, Numao T, Kaneko F. Effects of a Stimulus Response Task Using Virtual Reality on Unilateral Spatial Neglect: A Randomized Controlled Trial. Arch Phys Med Rehabil. 2024;105:1449–1457. doi: 10.1016/j.apmr.2024.05.009 Crossref.

40. Salatino A, Zavattaro C, Gammeri R, Cirillo E, Piatti ML, Pyasik M, Serra H, Pia L, Geminiani G, Ricci R. Virtual reality rehabilitation for unilateral spatial neglect: A systematic review of immersive, semi-immersive and non-immersive techniques. Neurosci Biobehav Rev. 2023;152:105248. doi: 10.1016/j.neubiorev.2023.105248 Crossref.

41. Hart E, Grattan E, Woodbury M, Herbert TL, Coker-Bolt P, Bonilha H. Pediatric unilateral spatial neglect: A systematic review. J Pediatr Rehabil Med. 2021;14:345–359. doi: 10.3233/PRM-200779 Crossref.

42. Carter AR, Barrett AM. Recent advances in treatment of spatial neglect: networks and neuropsychology. Expert Rev Neurother. 2023;23:587–601. doi: 10.1080/14737175.2023.2221788 Crossref.

43. Imura T, Mitsutake T, Hori T, Tanaka R. Predicting the prognosis of unilateral spatial neglect using magnetic resonance imaging in patients with stroke: A systematic review. Brain Res. 2022;1789:147954. doi: 10.1016/j.brainres.2022.147954 Crossref.

44. Williams LJ, Kernot J, Hillier SL, Loetscher T. Spatial Neglect Subtypes, Definitions and Assessment Tools: A Scoping Review. Front Neurol. 2021;12:742365. doi: 10.3389/fneur.2021.742365 Crossref.

45. Luvizutto GJ, Bazan R, Braga GP, Resende Luiz Antônio de Lima, Bazan SGZ, El Dib R. Pharmacological interventions for unilateral spatial neglect after stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2015;2015:CD010882. doi: 10.1002/14651858.CD010882.pub2 Crossref.

46. Doron N, Rand D. Is Unilateral Spatial Neglect Associated With Motor Recovery of the Affected Upper Extremity Poststroke? A Systematic Review. Neurorehabil Neural Repair. 2019;33:179–187. doi: 10.1177/1545968319832606 Crossref.

47. Stein MS, Kilbride C, Reynolds FA. What are the functional outcomes of right hemisphere stroke patients with or without hemi-inattention complications? A critical narrative review and suggestions for further research. Disabil Rehabil. 2016;38:315–328. doi: 10.3109/09638288.2015.1037865 Crossref.

48. Dolkun R, Li YK, Guo H, Liu Z-Y. [Zhishen Tiaosui acupuncture on the unilateral spatial neglect after stroke: a randomized controlled trial]. Zhongguo Zhen Jiu. 2019;39:1041–1045. doi: 10.13703/j.0255-2930.2019.10.003 Crossref.

49. Li Y, Xu J, Liu L, Li M, Lu H, Chen H, Li H, Chen Z. [Post-stroke unilateral spatial neglect treated with acupuncture and rehabilitation: a randomized controlled trial]. Zhongguo Zhen Jiu. 2017;37:913–917. doi: 10.13703/j.0255-2930.2017.09.001 Crossref.

50. Lin S, Guo J, Chen X, Lin N, Li Z, Liu F. Effect of acupuncture on unilateral spatial neglect after stroke: A systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials. Geriatr Nurs. 2022;46:13–20. doi: 10.1016/j.gerinurse.2022.04.022 Crossref.

51. Lelaumier C, Hassaini S, Hinault T, Petroff A, Platel H, Coello Y. Sound-based rehabilitation of unilateral spatial neglect: A systematic review of the literature. Appl Neuropsychol Adult. 2025;1–18. doi: 10.1080/23279095.2025.2459805 Crossref.

52. Onaka H, Kouda K, Nishimura Y, Tojo H, Umemoto Y, Kubo T, Tajima F, Mikami Y. Standing and supine positions are better than sitting in improving rightward deviation in right-hemispheric stroke patients with unilateral spatial neglect: A randomized trial. Medicine (Baltim). 2022;101:e31571. doi: 10.1097/MD.0000000000031571 Crossref.

53. Cha HG, Kim MK. Effects of repetitive transcranial magnetic stimulation on arm function and decreasing unilateral spatial neglect in subacute stroke: a randomized controlled trial. Clin Rehabil. 2016;30:649–656. doi: 10.1177/0269215515598817 Crossref.

54. Cotoi A, Mirkowski M, Iruthayarajah J, Anderson R, Teasell R. The effect of theta-burst stimulation on unilateral spatial neglect following stroke: a systematic review. Clin Rehabil. 2019;33:183–194. doi: 10.1177/0269215518804018 Crossref.

55. da Silva TR, de Carvalho Nunes HR, Martins LG, da Costa RDM, de Souza JT, Winckler FC, Sartor LCA, Modolo GP, Ferreira NC, da Silva Rodrigues JC, et al. Non-invasive Brain Stimulation Can Reduce Unilateral Spatial Neglect after Stroke: ELETRON Trial. Ann Neurol. 2022;92:400–410. doi: 10.1002/ana.26430 Crossref.

56. Elsner B, Kugler J, Pohl M, Mehrholz J. Transcranial direct current stimulation (tDCS) for improving activities of daily living, and physical and cognitive functioning, in people after stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2016;3:CD009645. doi: 10.1002/14651858.CD009645.pub3 Crossref. PubMed.

57. Kashiwagi FT, El Dib R, Gomaa H, Gawish N, Suzumura EA, da Silva TR, Winckler FC, de Souza JT, Conforto AB, Luvizutto GJ, et al. Noninvasive Brain Stimulations for Unilateral Spatial Neglect after Stroke: A Systematic Review and Meta-Analysis of Randomized and Nonrandomized Controlled Trials. Neural Plast. 2018;2018:1638763. doi: 10.1155/2018/1638763 Crossref.

58. Lin R, Zhang JJ, Zhong L, Chan SSY, Kwong PWH, Lorentz L, Shaikh UJ, Lam TLH, Mehler DMA, Fong KNK. Does repetitive transcranial magnetic stimulation have a beneficial effect on improving unilateral spatial neglect caused by stroke? A meta-analysis. J Neurol. 2024;271:6494–6507. doi: 10.1007/s00415-024-12612-w Crossref.

59. Longley V, Hazelton C, Heal C, Pollock A, Woodward-Nutt K, Mitchell C, Pobric G, Vail A, Bowen A. Non-pharmacological interventions for spatial neglect or inattention following stroke and other non-progressive brain injury. Cochrane Database Syst Rev. 2021;7:CD003586. doi: 10.1002/14651858.CD003586.pub4 Crossref.

60. Miranda LA, Winckler FC, da Silva TR, de Carvalho Nunes HR, Modolo GP, Ferreira NC, Favoretto DB, Aguiar L, Bazan SGZ, Edwards TGS, et al. Long-term effect of non-invasive brain stimulation on hemispatial neglect, functional outcomes, and mortality after stroke: ELETRON trial extend. Clin Neurol Neurosurg. 2025;249:108705. doi: 10.1016/j.clineuro.2024.108705 Crossref.

61. Nyffeler T, Vanbellingen T, Kaufmann BC, Pflugshaupt T, Bauer D, Frey J, Chechlacz M, Bohlhalter S, Müri RM, Nef T, et al. Theta burst stimulation in neglect after stroke: functional outcome and response variability origins. Brain. 2019;142:992–1008. doi: 10.1093/brain/awz029 Crossref.

62. Salazar APS, Vaz PG, Marchese RR, Stein C, Pinto C, Pagnussat AS. Noninvasive Brain Stimulation Improves Hemispatial Neglect After Stroke: A Systematic Review and Meta-Analysis. Arch Phys Med Rehabil. 2018;99:355–366.e1. doi: 10.1016/j.apmr.2017.07.009 Crossref.

63. Yang FA, Lin CH, Chung HN, Kuan Y-C, Escorpizo R, Chen H-C. Effects of Repetitive Transcranial Magnetic Stimulation on Poststroke Hemineglect: A Systematic Review and Network Meta-Analysis of Randomized Controlled Trials. Neurorehabil Neural Repair. 2025;39:190–201. doi: 10.1177/15459683241309572 Crossref.

7. Transitions in Care and Community Rehabilitation

7.1. Ensuring Medical and Rehabilitation Continuity Through the Rehabilitation Process and Into the Community

1. Duncan PW, Bushnell CD, Jones SB, Psioda MA, Gesell SB, D'Agostino RB, Sissine ME, Coleman SW, Johnson AM, Barton-Percival BF, et al; COMPASS Site Investigators and Teams. Randomized Pragmatic Trial of Stroke Transitional Care: The COMPASS Study. Circ Cardiovasc Qual Outcomes. 2020;13:e006285. doi: 10.1161/CIRCOUTCOMES.119.006285 Crossref. PubMed.

2. Fearon P, Langhorne P; Early Supported Discharge T. Services for reducing duration of hospital care for acute stroke patients. Cochrane Database Syst Rev. 2012;9:CD000443. doi: 10.1002/14651858.CD000443.pub3 Crossref.

3. Jee S, Jeong M, Paik N-J, Kim W-S, Shin Y-I, Ko S-H, Kwon IS, Choi BM, Jung Y, Chang W, et al. Early Supported Discharge and Transitional Care Management After Stroke: A Systematic Review and Meta-Analysis. Front Neurol. 2022;13:755316. doi: 10.3389/fneur.2022.755316 Crossref.

4. Langhorne P, Baylan S; Early Supported Discharge Trialists. Early supported discharge services for people with acute stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2017;7:CD000443. doi: 10.1002/14651858.CD000443.pub4 Crossref. PubMed.

5. Markle-Reid M, Fisher K, Walker KM, Beauchamp M, Cameron JI, Dayler D, Fleck R, Gafni A, Ganann R, Hajas K, et al. The stroke transitional care intervention for older adults with stroke and multimorbidity: a multisite pragmatic randomized controlled trial. BMC Geriatr. 2023;23:687. doi: 10.1186/s12877-023-04403-1 Crossref.

6. Sarfo FS, Ulasavets U, Opare-Sem OK, Ovbiagele B. Tele-Rehabilitation after Stroke: An Updated Systematic Review of the Literature. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2018;27:2306–2318. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2018.05.013 Crossref. PubMed.

7. Wang Y, Yang F, Shi H, Yang C, Hu H. What Type of Transitional Care Effectively Reduced Mortality and Improved ADL of Stroke Patients? A Meta-Analysis. Int J Environ Res Public Health. 2017;14:510. doi: 10.3390/ijerph14050510 Crossref.

8. Terman SW, Reeves MJ, Skolarus LE, Burke JF. Association Between Early Outpatient Visits and Readmissions After Ischemic Stroke. Circ Cardiovasc Qual Outcomes. 2018;11:e004024. doi: 10.1161/CIRCOUTCOMES.117.004024 Crossref. PubMed.

9. Freburger JK, Li D, Fraher EP. Community Use of Physical and Occupational Therapy After Stroke and Risk of Hospital Readmission. Arch Phys Med Rehabil. 2018;99:26–34.e5. doi: 10.1016/j.apmr.2017.07.011 Crossref.

10. Jumah A, Ro J, Ma T, Owens J, Wu Y, Starnes D, Christopher H, Blanke D, Henriquez L, Belagaje SR, et al. Predictors of unplanned hospital readmissions and emergency department revisits in patients with acute ischemic stroke. Front Neurol. 2025;16:1683753. doi: 10.3389/fneur.2025.1683753 Crossref.

11. Leppert MH, Sillau S, Lindrooth RC, Poisson SN, Campbell JD, Simpson JR. Relationship between early follow-up and readmission within 30 and 90 days after ischemic stroke. Neurology. 2020;94:e1249–e1258. doi: 10.1212/WNL.0000000000009135 Crossref.

12. Allison R, Shelling L, Dennett R, Ayers T, Evans PH, Campbell JL. The effectiveness of various models of primary care-based follow-up after stroke: a systematic review. Prim Health Care Res Dev. 2011;12:214–222. doi: 10.1017/S146342361100003X Crossref. PubMed.

13. Prvu Bettger J, Alexander KP, Dolor RJ, Olson DM, Kendrick AS, Wing L, Coeytaux RR, Graffagnino C, Duncan PW. Transitional care after hospitalization for acute stroke or myocardial infarction: a systematic review. Ann Intern Med. 2012;157:407–416. doi: 10.7326/0003-4819-157-6-201209180-00004 Crossref. PubMed.

14. Shepperd S, Lannin NA, Clemson LM, McCluskey A, Cameron ID, Barras SL. Discharge planning from hospital to home. Cochrane Database Syst Rev. 2013;2013:CD000313. doi: 10.1002/14651858.CD000313.pub4 Crossref.

15. Kichloo A, Albosta M, Dettloff K, Wani F, El-Amir Z, Singh J, Aljadah M, Chakinala RC, Kanugula AK, Solanki S, et al. Telemedicine, the current COVID-19 pandemic and the future: a narrative review and perspectives moving forward in the USA. Fam Med Community Health. 2020;8:e000530. doi: 10.1136/fmch-2020-000530 Crossref.

16. Takahashi EA, Schwamm LH, Adeoye OM, Alabi O, Jahangir E, Misra S, Still CH; American Heart Association Council on Cardiovascular Radiology and Intervention, Council on Hypertension, Council on the Kidney in Cardiovascular Disease, and Stroke Council. An Overview of Telehealth in the Management of Cardiovascular Disease: A Scientific Statement From the American Heart Association. Circulation. 2022;146:e558–e568. doi: 10.1161/CIR.0000000000001107 Crossref. PubMed.

17. World Health Organization. Telemedicine: opportunities and developments in member states: report on the second global survey on eHealth. World Health Organization; 2010.

18. Lutz BJ, Chumbler NR, Lyles T, Hoffman N, Kobb R. Testing a home-telehealth programme for US veterans recovering from stroke and their family caregivers. Disabil Rehabil. 2009;31:402–409. doi: 10.1080/09638280802069558 Crossref. PubMed.

19. Tyler N, Hodkinson A, Planner C, Angelakis I, Keyworth C, Hall A, Jones PP, Wright OG, Keers R, Blakeman T, et al. Transitional Care Interventions From Hospital to Community to Reduce Health Care Use and Improve Patient Outcomes: A Systematic Review and Network Meta-Analysis. JAMA Netw Open. 2023;6:e2344825. doi: 10.1001/jamanetworkopen.2023.44825 Crossref.

20. Camicia M, Lutz BJ, Theodore BR. The preparedness assessment for the transition home after stroke predicts key domains of caregiver health. Top Stroke Rehabil. 2023;30:384–392. doi: 10.1080/10749357.2022.2038835 Crossref.

7.2. Caregiver Engagement and Support

1. Sun WJ, Song YY, Wang C, Jiang Y, Cui W-Y, Liu W-J, Liu Y. Telerehabilitation for Family Caregivers of Stroke Survivors: A Systematic Review and Meta-Analysis. J Nurs Manag. 2023;2023:3450312. doi: 10.1155/2023/3450312 Crossref.

2. Hounsri K, Zhang J, Kalampakorn S, Boonyamalik P, Jirapongsuwan A, Wu Vivien X, Klainin-Yobas P. Effectiveness of technology-based psychosocial interventions for improving health-related outcomes of family caregivers of stroke survivors: A systematic review and meta-analysis. J Clin Nurs. 2024;33:4207–4226. doi: 10.1111/jocn.17370 Crossref.

3. Chin WJ, Ho YLS, Ramazanu S, Itoh S, Klainin-Yobas P, Wu Xi V. Effectiveness of technology-based interventions on psychological morbidities, quality of life for informal caregivers of stroke survivors: A systematic review and meta-analysis. J Adv Nurs. 2022;78:947–967. doi: 10.1111/jan.15130 Crossref.

4. Bartoli D, Petrizzo A, Vellone E, Alvaro R, Pucciarelli G. Impact of telehealth on stroke survivor-caregiver dyad in at-home rehabilitation: A systematic review. J Adv Nurs. 2024;80:4003–4033. doi: 10.1111/jan.16177 Crossref.

5. Crocker TF, Brown L, Lam N, Wray F, Knapp P, Forster A. Information provision for stroke survivors and their carers. Cochrane Database Syst Rev. 2021;11:CD001919. doi: 10.1002/14651858.CD001919.pub4 Crossref.

6. Bakas T, McCarthy MJ, Miller EL. Systematic Review of the Evidence for Stroke Family Caregiver and Dyad Interventions. Stroke. 2022;53:2093–2102. doi: 10.1161/STROKEAHA.121.034090 Crossref. PubMed.

7. He Y, Yi J, Zhu R, Zhang J, Guo Y, Yang Z, Xu Y, Wang S, Xiong X, Guo L. Video teach-back training method for family caregivers in stroke continuous rehabilitation: A randomized controlled trial. Geriatr Nurs. 2025;64:103385. doi: 10.1016/j.gerinurse.2025.103385 Crossref.

8. Knox M, Stewart A, Richards CL. Six hours of task-oriented training optimizes walking competency post stroke: a randomized controlled trial in the public health-care system of South Africa. Clin Rehabil. 2018;32:1057–1068. doi: 10.1177/0269215518763969 Crossref.

9. Kuo YW, Yen M, Fetzer S, Chiang L-C, Shyu Y-I, Lee T-H, Ma H-I. A home-based training programme improves family caregivers' oral care practices with stroke survivors: a randomized controlled trial. Int J Dent Hyg. 2016;14:82–91. doi: 10.1111/idh.12138 Crossref.

10. Wang TC, Tsai AC, Wang JY, Lin Y-T, Lin K-L, Chen JJ, Lin BY, Lin TC. Caregiver-mediated intervention can improve physical functional recovery of patients with chronic stroke: a randomized controlled trial. Neurorehabil Neural Repair. 2015;29:3–12. doi: 10.1177/1545968314532030 Crossref.

11. Zhou J, He B, He Y, Zhu H, Zhang M, Huang W, Wang Y. The effectiveness of psychoeducational interventions on family function among families after stroke: A meta-analysis. Int J Nurs Pract. 2022;28:e13081. doi: 10.1111/ijn.13081 Crossref.

12. Zhang XY, Sha KH, Ma XY, Li X-M, Zhang M-H. Dyadic psycho-social interventions for stroke survivors and family caregivers: A systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials. J Adv Nurs. 2023;79:3707–3726. doi: 10.1111/jan.15781 Crossref.

13. Jammal M, Kolt GS, Liu KPY, Guagliano JM, Dennaoui N, George ES. A systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials to reduce burden, stress, and strain in informal stroke caregivers. Clin Rehabil. 2024;38:1429–1445. doi: 10.1177/02692155241271047 Crossref.

7.3 Referral to Community Resources

1. Guo Y, Zhang Z, Lin B, Mei Y, Liu Q, Zhang L, Wang W, Li Y, Fu Z. The Unmet Needs of Community-Dwelling Stroke Survivors: A Systematic Review of Qualitative Studies. Int J Environ Res Public Health. 2021;18:2140. doi: 10.3390/ijerph18042140 Crossref.

2. Pindus DM, Mullis R, Lim L, Wellwood I, Rundell AV, Abd Aziz NA, Mant J. Stroke survivors' and informal caregivers' experiences of primary care and community healthcare services - A systematic review and meta-ethnography. PLoS One. 2018;13:e0192533. doi: 10.1371/journal.pone.0192533 Crossref.

3. Sauve-Schenk K, Duong P, Savard J, Durand F. A systematic review of social service and community resource interventions following stroke. Disabil Rehabil. 2022;44:2948–2957. doi: 10.1080/09638288.2020.1851780 Crossref.

4. Crocker TF, Brown L, Lam N, Wray F, Knapp P, Forster A. Information provision for stroke survivors and their carers. Cochrane Database Syst Rev. 2021;11:CD001919. doi: 10.1002/14651858.CD001919.pub4 Crossref.

5. Hotter B, Padberg I, Liebenau A, Knispel P, Heel S, Steube D, Wissel J, Wellwood I, Meisel A. Identifying unmet needs in long-term stroke care using in-depth assessment and the Post-Stroke Checklist - The Managing Aftercare for Stroke (MAS-I) study. Eur Stroke J. 2018;3:237–245. doi: 10.1177/2396987318771174 Crossref.

6. Mansson K, Soderholm M, Berhin I, Pessah-Rasmussen H, Ullberg T. The Post-Stroke Checklist: longitudinal use in routine clinical practice during first year after stroke. BMC Cardiovasc Disord. 2024;24:601. doi: 10.1186/s12872-024-04239-6 Crossref.

7. Ullberg T, Mansson K, Berhin I, Pessah-Rasmussen H. Comprehensive and Structured 3-month Stroke Follow-up Using the Post-stroke Checklist (The Struct-FU study): A Feasibility and Explorative Study. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2021;30:105482. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2020.105482 Crossref.

8. Ward AB, Chen C, Norrving B, Gillard P, Walker MF, Blackburn S, Holloway L, Brainin M, Philp I; Global Stroke Community Advisory Panel (GSCAP). Evaluation of the Post Stroke Checklist: a pilot study in the United Kingdom and Singapore. Int J Stroke. 2014;9(Suppl A100):76–84. doi: 10.1111/ijs.12291. Crossref.

9. Deijle IA, Van Schaik SM, Van Wegen EE, Weinstein HC, Kwakkel G, Van den Berg-Vos RM. Lifestyle Interventions to Prevent Cardiovascular Events After Stroke and Transient Ischemic Attack: Systematic Review and Meta-Analysis. Stroke. 2017;48:174–179. doi: 10.1161/STROKEAHA.116.013794 Crossref. PubMed.

10. Fryer CE, Luker JA, McDonnell MN, Hillier SL. Self management programmes for quality of life in people with stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2016;2016:CD010442. doi: 10.1002/14651858.CD010442.pub2 Crossref.

11. Hall P, Lawrence M, Blake C, Lennon O. Interventions for Behaviour Change and Self-Management of Risk in Stroke Secondary Prevention: An Overview of Reviews. Cerebrovasc Dis. 2024;53:1–13. doi: 10.1159/000531138 Crossref.

12. Favilla CG, Reehal N, Cummings SR, Burdett R, Stein LA, Shakibajahromi B, Yuan K, Sloane KL, Kasner SE. Personalized Video-Based Educational Platform to Improve Stroke Knowledge: A Randomized Clinical Trial. J Am Heart Assoc. 2024;13:e035176. doi: 10.1161/JAHA.124.035176 Crossref. PubMed.

13. Finch E, Coleman A, Cameron A, Moro C. Utilising interactive technology for stroke patient education: a systematic review. Disabil Rehabil Assist Technol. 2024;19:1236–1248. doi: 10.1080/17483107.2022.2161649 Crossref.

14. Freund M, Carey M, Dilworth S, Waller A, Mansfield E, Rose A, Thienel R, Hyde L. Effectiveness of information and communications technology interventions for stroke survivors and their support people: a systematic review. Disabil Rehabil. 2022;44:4563–4578. doi: 10.1080/09638288.2021.1913245 Crossref.

15. Kamal A, Khoja A, Usmani B, Magsi S, Malani A, Peera Z, Sattar S, Ahmed Akram M, Shahnawaz S, Zulfiqar M, et al. Effect of 5-Minute Movies Shown via a Mobile Phone App on Risk Factors and Mortality After Stroke in a Low- to Middle-Income Country: Randomized Controlled Trial for the Stroke Caregiver Dyad Education Intervention (Movies4Stroke). JMIR Mhealth Uhealth. 2020;8:e12113. doi: 10.2196/12113 Crossref.

16. Kang YN, Shen HN, Lin CY, Elwyn G, Huang S-C, Wu T-F, Hou W-H. Does a Mobile app improve patients' knowledge of stroke risk factors and health-related quality of life in patients with stroke? A randomized controlled trial. BMC Med Inform Decis Mak. 2019;19:282. doi: 10.1186/s12911-019-1000-z Crossref.

17. Stoykov ME, Heidle C, Kang S, Lodesky L, Maccary LE, Madhavan S. Sensory-Based Priming for Upper Extremity Hemiparesis After Stroke: A Scoping Review. OTJR (Thorofare N J). 2022;42:65–78. doi: 10.1177/15394492211032606 Crossref.

18. Post-stroke checklist (PSC) Improving Life After Stroke. World Stroke Organization. Published online May 31, 2022. Accessed October 8, 2025. https://www.world-stroke.org/publications-and-resources/resources/post-stroke-checklist

19. American Heart Association. Life’s Essential 8. Accessed October 8, 2025. https://www.heart.org/en/healthy-living/healthy-lifestyle/lifes-essential-8

7.4. Community Rehabilitation and Telerehabilitation

1. Langhorne P, Baylan S; Early Supported Discharge Trialists. Early supported discharge services for people with acute stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2017;7:CD000443. doi: 10.1002/14651858.CD000443.pub4 Crossref. PubMed.

2. Chi NF, Huang YC, Chiu HY, Chang H-J, Huang H-C. Systematic Review and Meta-Analysis of Home-Based Rehabilitation on Improving Physical Function Among Home-Dwelling Patients With a Stroke. Arch Phys Med Rehabil. 2020;101:359–373. doi: 10.1016/j.apmr.2019.10.181 Crossref.

3. Do KH, Chun MH, Paik NJ, Park YG, Lee S-U, Kim M-W, Kim D-K. Safety and efficacy of letibotulinumtoxinA(BOTULAX®) in treatment of post stroke upper limb spasticity: a randomized, double blind, multi-center, phase III clinical trial. Clin Rehabil. 2017;31:1179–1188. doi: 10.1177/0269215516689331 Crossref.

4. Huang HC, Huang YC, Lin MF, Hou W-H, Shyu M-L, Chiu H-Y, Chang H-J. Effects of Home-Based Supportive Care on Improvements in Physical Function and Depressive Symptoms in Patients With Stroke: A Meta-Analysis. Arch Phys Med Rehabil. 2017;98:1666–1677.e1. doi: 10.1016/j.apmr.2017.03.014 Crossref.

5. Nascimento LR, Gaviorno LF, de Souza Brunelli M, Gonçalves JV, Arêas FZS. Home-based is as effective as centre-based rehabilitation for improving upper limb motor recovery and activity limitations after stroke: A systematic review with meta-analysis. Clin Rehabil. 2022;36:1565–1577. doi: 10.1177/02692155221121015 Crossref.

6. Nascimento LR, Rocha RJ, Boening A, Ferreira GP, Perovano MC. Home-based exercises are as effective as equivalent doses of centre-based exercises for improving walking speed and balance after stroke: a systematic review. J Physiother. 2022;68:174–181. doi: 10.1016/j.jphys.2022.05.018 Crossref.

7. Asano M, Tai BC, Yeo FY, Yen SC, Tay A, Ng YS, De Silva DA, Caves K, Chew E, Hoenig H, et al. Home-based tele-rehabilitation presents comparable positive impact on self-reported functional outcomes as usual care: The Singapore Tele-technology Aided Rehabilitation in Stroke (STARS) randomised controlled trial. J Telemed Telecare. 2021;27:231–238. doi: 10.1177/1357633X19868905 Crossref.

8. Cramer SC, Dodakian L, Le V, See J, Augsburger R, McKenzie A, Zhou RJ, Chiu NL, Heckhausen J, Cassidy JM, et al; National Institutes of Health StrokeNet Telerehab Investigators. Efficacy of Home-Based Telerehabilitation vs In-Clinic Therapy for Adults After Stroke: A Randomized Clinical Trial. JAMA Neurol. 2019;76:1079–1087. doi: 10.1001/jamaneurol.2019.1604 Crossref. PubMed.

9. Saywell NL, Vandal AC, Mudge S, Hale L, Brown P, Feigin V, Hanger C, Taylor D. Telerehabilitation After Stroke Using Readily Available Technology: A Randomized Controlled Trial. Neurorehabil Neural Repair. 2021;35:88–97. doi: 10.1177/1545968320971765 Crossref.

10. Sun S, Li Y, Zhang G, Zhang Y, Dong J. A randomized controlled Trial of telerehabilitation intervention for acute ischemic stroke patients Post-Discharge. J Clin Neurosci. 2025;136:111245. doi: 10.1016/j.jocn.2025.111245 Crossref.

11. Sun Y, Zhang S, Zhao T, Sun C, Li P, Zhang L. Effectiveness of Telehealth-Based Exercise Interventions for Patients With Stroke: A Meta-Analysis of Randomised Controlled Trials. J Clin Nurs. 2026;35:47–60. doi: 10.1111/jocn.17792 Crossref.

12. Calugi S, Taricco M, Rucci P, Fugazzaro S, Stuart M, Dallolio L, Pillastrini P, Fantini MP; EFG/2009 investigators. Effectiveness of adaptive physical activity combined with therapeutic patient education in stroke survivors at twelve months: a non-randomized parallel group study. Eur J Phys Rehabil Med. 2016;52:72–80.

13. Cuccurullo SJ, Fleming TK, Zinonos S, Cosgrove NM, Cabrera J, Kostis JB, Greiss C, Ray AR, Eckert A, Scarpati R, et al. Stroke Recovery Program with Modified Cardiac Rehabilitation Improves Mortality, Functional & Cardiovascular Performance. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2022;31:106322. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2022.106322 Crossref. PubMed.

14. Mayo NE, Anderson S, Barclay R, Cameron JI, Desrosiers J, Eng JJ, Huijbregts M, Kagan A, MacKay-Lyons M, Moriello C, et al. Getting on with the rest of your life following stroke: a randomized trial of a complex intervention aimed at enhancing life participation post stroke. Clin Rehabil. 2015;29:1198–1211. doi: 10.1177/0269215514565396 Crossref. PubMed.

15. Taricco M, Dallolio L, Calugi S, Rucci P, Fugazzaro S, Stuart M, Pillastrini P, Fantini MP; Esercizio Fisico di Gruppo/2009 Investigators. Impact of adapted physical activity and therapeutic patient education on functioning and quality of life in patients with postacute strokes. Neurorehabil Neural Repair. 2014;28:719–728. doi: 10.1177/1545968314523837 Crossref.

16. Mulder M, Nikamp CD, Prinsen EC, Nijland RH, van Dorp M, Buurke J, Kwakkel G, van Wegen EE. Allied rehabilitation using caregiver-mediated exercises combined with telerehabilitation for stroke (ARMed4Stroke): A randomised controlled trial. Clin Rehabil. 2024;38:1321–1332. doi: 10.1177/02692155241261700 Crossref.

17. Bollinger RM, Krauss MJ, Somerville EK, Holden BM, Blenden G, Hollingsworth H, Keleman AA, Carter A, McBride TD, Barker AR, et al. Rehabilitation Transition Program to Improve Community Participation Among Stroke Survivors: A Randomized Clinical Trial. JAMA Netw Open. 2024;7:e2437758. doi: 10.1001/jamanetworkopen.2024.37758 Crossref.

18. Duncan PW, Bushnell CD, Jones SB, Psioda MA, Gesell SB, D'Agostino RB, Sissine ME, Coleman SW, Johnson AM, Barton-Percival BF, et al; COMPASS Site Investigators and Teams. Randomized Pragmatic Trial of Stroke Transitional Care: The COMPASS Study. Circ Cardiovasc Qual Outcomes. 2020;13:e006285. doi: 10.1161/CIRCOUTCOMES.119.006285 Crossref. PubMed.

19. Krauss MJ, Holden BM, Somerville E, Blenden G, Bollinger RM, Barker AR, McBride TD, Hollingsworth H, Yan Y, Stark SL. Community Participation Transition After Stroke (COMPASS) Randomized Controlled Trial: Effect on Adverse Health Events. Arch Phys Med Rehabil. 2024;105:1623–1631. doi: 10.1016/j.apmr.2024.05.015 Crossref.

20. Tan SYJ, Lee SC, Rusli KDB, Woo BFY, Ang SGM, Zhou W, Tam WSW, Liaw SY. Effectiveness of Multidisciplinary Transitional Care Interventions on Functional Status, Quality of Life and Readmission Rates in Stroke Patients: A Systematic Review and Meta-Analysis. J Clin Nurs. 2026;35:85–98. doi: 10.1111/jocn.70000 Crossref.

21. Wong FK, Yeung SM. Effects of a 4-week transitional care programme for discharged stroke survivors in Hong Kong: a randomised controlled trial. Health Soc Care Community. 2015;23:619–631. doi: 10.1111/hsc.12177 Crossref.

22. Reeves MJ. COMPASS Trial in Transitional Stroke Care: Navigating Towards True North. Circ Cardiovasc Qual Outcomes. 2020;13:e006745. doi: 10.1161/CIRCOUTCOMES.120.006745 Crossref. PubMed.

23. Dromerick AW, Geed S, Barth J, Brady K, Giannetti ML, Mitchell A, Edwardson MA, Tan MT, Zhou Y, Newport EL, et al. Critical Period After Stroke Study (CPASS): A phase II clinical trial testing an optimal time for motor recovery after stroke in humans. Proc Natl Acad Sci U S A. 2021;118:e2026676118. doi: 10.1073/pnas.2026676118 Crossref.

24. Lee KB, Lim SH, Kim KH, Kim KJ, Kim YR, Chang WN, Yeom JW, Kim YD, Hwang BY. Six-month functional recovery of stroke patients: a multi-time-point study. Int J Rehabil Res. 2015;38:173–180. doi: 10.1097/MRR.0000000000000108 Crossref. PubMed.

25. Ifejika NL, Awosika OO, Black T, Duncan PW, Harvey RL, Katz DI, Kimberley TJ, Lutz B, O'Neil F, Stein J, et al. Improving Access to Stroke Rehabilitation and Recovery: A Policy Statement From the American Heart Association/American Stroke Association. Stroke. 2025;56:e218–e233. doi: 10.1161/STR.0000000000000493 Crossref. PubMed.

26. Laver KE, Adey-Wakeling Z, Crotty M, Lannin NA, George S, Sherrington C. Telerehabilitation services for stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2020;1:CD010255. doi: 10.1002/14651858.CD010255.pub3 Crossref.

27. Sarfo FS, Ulasavets U, Opare-Sem OK, Ovbiagele B. Tele-Rehabilitation after Stroke: An Updated Systematic Review of the Literature. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2018;27:2306–2318. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2018.05.013 Crossref. PubMed.

28. Sharififar S, Ghasemi H, Geis C, Azari H, Adkins L, Speight B, Vincent HK. Telerehabilitation service impact on physical function and adherence compared to face-to-face rehabilitation in patients with stroke: A systematic review and meta-analysis. PM R. 2023;15:1654–1672. doi: 10.1002/pmrj.12988 Crossref.

29. Wu Z, Xu J, Yue C, Li Y, Liang Y. Collaborative Care Model Based Telerehabilitation Exercise Training Program for Acute Stroke Patients in China: A Randomized Controlled Trial. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2020;29:105328. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2020.105328 Crossref.

30. Benvenuti F, Stuart M, Cappena V, Gabella S, Corsi S, Taviani A, Albino A, Scattareggia Marchese S, Weinrich M. Community-based exercise for upper limb paresis: a controlled trial with telerehabilitation. Neurorehabil Neural Repair. 2014;28:611–620. doi: 10.1177/1545968314521003 Crossref. PubMed.

31. Deshmukh S, Madhavan S. Can post stroke walking improve via telerehabilitation? A systematic review in adults with stroke. Front Rehabil Sci. 2023;4:1154686. doi: 10.3389/fresc.2023.1154686 Crossref.

32. Pitliya A, Siddiq AB, Oli D, Wijaya JH, Batra V, Vasudevan SS, Choudhari J, Singla R, Pitliya A. Telerehabilitation in post-stroke care: a systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials. Top Stroke Rehabil. 2025;32:323–335. doi: 10.1080/10749357.2024.2392439 Crossref.

33. Su Z, Guo Z, Wang W, Liu Y, Liu Y, Chen W, Zheng M, Michael N, Lu S, Wang W, et al. The effect of telerehabilitation on balance in stroke patients: is it more effective than the traditional rehabilitation model? A meta-analysis of randomized controlled trials published during the COVID-19 pandemic. Front Neurol. 2023;14:1156473. doi: 10.3389/fneur.2023.1156473 Crossref.

34. Veronese M, Vellone E, Alvaro R, Pucciarelli G. The transitional care from hospital to home for stroke survivors and their caregivers: a systematic review. J Vasc Nurs. 2025;43:86–98. doi: 10.1016/j.jvn.2025.03.002 Crossref.

35. Demir Avci Y, Gözüm S. Effects of transitional care model–based interventions for stroke patients and caregivers on caregivers’ competence and patient outcomes: randomized controlled trial. CIN. 2023;41:805–814. doi: 10.1097/cin.0000000000000991 Crossref.

36. Deng A, Yang S, Xiong R. Effects of an integrated transitional care program for stroke survivors living in a rural community: a randomized controlled trial. Clin Rehabil. 2020;34:524–532. doi: 10.1177/0269215520905041 Crossref.

37. Li L, Huang J, Wu J, Jiang C, Chen S, Xie G, Ren J, Tao J, Chan CCH, Chen L, et al. A Mobile Health App for the Collection of Functional Outcomes After Inpatient Stroke Rehabilitation: Pilot Randomized Controlled Trial. JMIR Mhealth Uhealth. 2020;8:e17219. doi: 10.2196/17219 Crossref.

38. Bok SK, Song Y, Lim A, Jin S, Kim N, Ko G. High-Tech Home-Based Rehabilitation after Stroke: A Systematic Review and Meta-Analysis. J Clin Med. 2023;12:2668. doi: 10.3390/jcm12072668 Crossref.

39. Gelineau A, Perrochon A, Robin L, Daviet J-C, Mandigout S. Measured and Perceived Effects of Upper Limb Home-Based Exergaming Interventions on Activity after Stroke: A Systematic Review and Meta-Analysis. Int J Environ Res Public Health. 2022;19:9112. doi: 10.3390/ijerph19159112 Crossref.

7.5. Sexual Function

1. Richards A, Dean R, Burgess GH, Caird H. Sexuality after stroke: an exploration of current professional approaches, barriers to providing support and future directions. Disabil Rehabil. 2016;38:1471–1482. doi: 10.3109/09638288.2015.1106595 Crossref.

2. Low MA, Power E, McGrath M. Sexuality after stroke: Exploring knowledge, attitudes, comfort and behaviours of rehabilitation professionals. Ann Phys Rehabil Med. 2022;65:101547. doi: 10.1016/j.rehab.2021.101547 Crossref.

3. McGrath M, Low MA, Power E, McCluskey A, Lever S. Addressing Sexuality Among People Living With Chronic Disease and Disability: A Systematic Mixed Methods Review of Knowledge, Attitudes, and Practices of Health Care Professionals. Arch Phys Med Rehabil. 2021;102:999–1010. doi: 10.1016/j.apmr.2020.09.379 Crossref.

4. Stein J, Hillinger M, Clancy C, Bishop L. Sexuality after stroke: patient counseling preferences. Disabil Rehabil. 2013;35:1842–1847. doi: 10.3109/09638288.2012.754953 Crossref. PubMed.

5. Dusenbury W, Palm Johansen P, Mosack V, Steinke EE. Determinants of sexual function and dysfunction in men and women with stroke: A systematic review. Int J Clin Pract. 2017;71:e12969. doi: 10.1111/ijcp.12969 Crossref.

6. Zhang Z, Deng L, Lv XN, Li Z-Q, Li Q. Post stroke sexual dysfunction - a current review. Neurol Sci. 2025;46:605–615. doi: 10.1007/s10072-024-07841-w Crossref.

7. Park JH, Ovbiagele B, Feng W. Stroke and sexual dysfunction - a narrative review. J Neurol Sci. 2015;350:7–13. doi: 10.1016/j.jns.2015.02.001 Crossref.

8. McGrath M, Lever S, McCluskey A, Power E. How is sexuality after stroke experienced by stroke survivors and partners of stroke survivors? A systematic review of qualitative studies. Clin Rehabil. 2019;33:293–303. doi: 10.1177/0269215518793483 Crossref.

9. Montalvan V, Ulrich AK, Tirschwell DL, Zunt JR. Assessing sexual dysfunction among stroke survivors and barriers to address this issue by physicians at a Latin American reference hospital. Clin Neurol Neurosurg. 2021;205:106642. doi: 10.1016/j.clineuro.2021.106642 Crossref.

10. Winstein CJ, Stein J, Arena R, Bates B, Cherney LR, Cramer SC, Deruyter F, Eng JJ, Fisher B, Harvey RL, et al; American Heart Association Stroke Council, Council on Cardiovascular and Stroke Nursing, Council on Clinical Cardiology, and Council on Quality of Care and Outcomes Research. Guidelines for Adult Stroke Rehabilitation and Recovery: A Guideline for Healthcare Professionals From the American Heart Association/American Stroke Association. Stroke. 2016;47:e98–e169. doi: 10.1161/STR.0000000000000098 Crossref. PubMed.

11. Dusenbury W, Hill TJ, Mosack V, Steinke EE. Risk Factors, Depression, and Drugs Influencing Sexual Activity in Individuals With and Without Stroke. Rehabil Nurs. 2020;45:23–29. doi: 10.1097/RNJ.0000000000000145 Crossref.

7.6. Recreational, Leisure, and Social Activity Participation

1. Reeves MJ, Thetford C, McMahon N, Forshaw D, Brown C, Joshi M, Watkins C. Life and Leisure Activities following Stroke or Transient Ischaemic Attack (TIA): An Observational, Multi-Centre, 6-Month Follow-Up Study. Int J Environ Res Public Health. 2022;19:13848. doi: 10.3390/ijerph192113848 Crossref.

2. Toglia J, Askin G, Gerber LM, Jaywant A, O'Dell MW. Participation in Younger and Older Adults Post-stroke: Frequency, Importance, and Desirability of Engagement in Activities. Front Neurol. 2019;10:1108. doi: 10.3389/fneur.2019.01108 Crossref.

3. Trevorrow S, Gustafsson L, Hodson T. Leisure Engagement Among People Living With Acquired Brain Injury: A Scoping Review. OTJR (Thorofare N J). 2024;44:263–277. doi: 10.1177/15394492231221962 Crossref.

4. Tse T, Linden T, Churilov L, Davis S, Donnan G, Carey LM. Longitudinal changes in activity participation in the first year post-stroke and association with depressive symptoms. Disabil Rehabil. 2019;41:2548–2555. doi: 10.1080/09638288.2018.1471742 Crossref.

5. Byrne C, Saville CWN, Coetzer R, Ramsey R. Stroke Survivors Experience Elevated Levels of Loneliness: A Multi-Year Analysis of the National Survey for Wales. Arch Clin Neuropsychol. 2022;37:390–407. doi: 10.1093/arclin/acab046 Crossref.

6. Li Y, Xu H, Zhang T, Lu X, Xie X, Gao J. Factors associated with social isolation in stroke patients: a systematic review and meta-analysis. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2025;34:108201. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2024.108201 Crossref.

7. Meng M, Ma Z, Zhou H, Xie Y, Lan R, Zhu S, Miao D, Shen X. The impact of social relationships on the risk of stroke and post-stroke mortality: a systematic review and meta-analysis. BMC Public Health. 2024;24:2403. doi: 10.1186/s12889-024-19835-6 Crossref.

8. Valtorta NK, Kanaan M, Gilbody S, Ronzi S, Hanratty B. Loneliness and social isolation as risk factors for coronary heart disease and stroke: systematic review and meta-analysis of longitudinal observational studies. Heart. 2016;102:1009–1016. doi: 10.1136/heartjnl-2015-308790 Crossref. PubMed.

9. Willroth EC, Rule PD, Graham EK, Nicholas ML, Hattori R, Thompson T, Connor LT. A Longitudinal Investigation of the Association Between Stroke and Loneliness. J Gerontol B Psychol Sci Soc Sci. 2024;79:gbae048. doi: 10.1093/geronb/gbae048 Crossref.

10. Porter H, Goodno H, Wahl N, Bowman E, et al. Leisure education and leisure counseling in adult stroke: a systematic review. Ther Recreation J. 2023;57:97–115. Crossref.

11. Espernberger KR, Fini NA, Peiris CL. Personal and social factors that influence physical activity levels in community-dwelling stroke survivors: A systematic review of qualitative literature. Clin Rehabil. 2021;35:1044–1055. doi: 10.1177/0269215521993690 Crossref.

12. Ju M, Li Y, Pei J, Xing J, Wu L, Liu H, Liao Z, Zhuang YY. Association Between Leisure-Time Physical Activity and All-Cause Mortality Among Stroke Survivors: Findings From National Health and Nutrition Examination Survey. J Phys Act Health. 2025;22:182–191. doi: 10.1123/jpah.2024-0287 Crossref.

13. Li X, Yang X, Fan Y, Tang Y, Shu Y. Experience of physical activity in patients with stroke: A qualitative meta-synthesis. Medicine (Baltim). 2024;103:e40500. doi: 10.1097/MD.0000000000040500 Crossref.

14. Morris JH, Oliver T, Kroll T, Joice S, Williams B. From physical and functional to continuity with pre-stroke self and participation in valued activities: a qualitative exploration of stroke survivors', carers' and physiotherapists' perceptions of physical activity after stroke. Disabil Rehabil. 2015;37:64–77. doi: 10.3109/09638288.2014.907828 Crossref.

15. Vadas D, Prest K, Turk A, Tierney S. Understanding the facilitators and barriers of stroke survivors' adherence to recovery-oriented self-practice: a thematic synthesis. Disabil Rehabil. 2022;44:6608–6619. doi: 10.1080/09638288.2021.1968512 Crossref.

16. Yu C, Cao Y, Liu Q, Tan H, Xia G, Chen B, Du F, Lu K, Saposnik G. Sitting Time, Leisure-Time Physical Activity, and Risk of Mortality Among US Stroke Survivors: A Prospective Cohort Study From the NHANES 2007 to 2018. Stroke. 2025;56:1738–1747. doi: 10.1161/STROKEAHA.124.049672 Crossref. PubMed.

17. Norwood M, Aplin T, Gustafsson L. Nature-based interventions and nature interaction for people with acquired brain injury: a systematic scoping review. J Environ Psychol. 2025;104:102612. doi: 10.1016/j.jenvp.2025.102612 Crossref.

18. Yang GY, Hunter J, Bu FL, Hao W-L, Zhang H, Wayne PM, Liu J-P. Determining the safety and effectiveness of Tai Chi: a critical overview of 210 systematic reviews of controlled clinical trials. Syst Rev. 2022;11:260. doi: 10.1186/s13643-022-02100-5 Crossref.

19. Lan Y, You Q, Jiang Q, Peng X, Cao S, Sun J. Effect of Qigong exercise on non-motor function and life quality in stroke patients: A systematic review and meta-analysis. Brain Behav. 2023;13:e3246. doi: 10.1002/brb3.3246 Crossref.

20. Thayabaranathan T, Andrew NE, Immink MA, Hillier S, Stevens P, Stolwyk R, Kilkenny M, Cadilhac DA. Determining the potential benefits of yoga in chronic stroke care: a systematic review and meta-analysis. Top Stroke Rehabil. 2017;24:279–287. doi: 10.1080/10749357.2016.1277481 Crossref.

21. Cronin E, Broderick P, Clark H, Monaghan K. What are the effects of pilates in the post stroke population? A systematic literature review & meta-analysis of randomised controlled trials. Journal of Bodywork and Movement Therapies 2023;33:223–232. doi: 10.1016/j.jbmt.2022.09.028 Crossref.

22. Lombardo R, Triolo G, Ivaldi D, Quartarone A, Lo Buono V. The Role of Dance in Stroke Rehabilitation: A Scoping Review of Functional and Cognitive Effects. J Clin Med. 2025;14:5742. doi: 10.3390/jcm14165742 Crossref.

23. Declerck L, Kaux JF, Vanderthommen M, Lejeune T, Stoquart G. The Effect of Adaptive Sports on Individuals with Acquired Neurological Disabilities and Its Role in Rehabilitation: A Systematic Review. Curr Sports Med Rep. 2019;18:458–473. doi: 10.1249/JSR.0000000000000662 Crossref.

24. Pfeiffer CF, Magee WL, Fulop R, Nace TC, Castro C, Iturri A, Franceschi J, Echauri G, Gassull L, Russo MJ. Exploring Music-Based Interventions for Executive Functioning and Emotional Well-Being in Stroke Rehabilitation: A Scoping Review. NeuroSci. 2024;5:565–599. doi: 10.3390/neurosci5040041 Crossref.

25. Liu S, Huang X, Liu Y, Yue J, Li Y, Chen L. A scoping review of the use of creative activities in stroke rehabilitation. Clin Rehabil. 2024;38:497–509. doi: 10.1177/02692155241227049 Crossref.

26. Fernandes CS, Magalhaes B, Goncalves F, Lima A, Silva M, Moreira MT, Santos C, Ferreira S. Exergames for rehabilitation in stroke survivors: Umbrella review of meta-analyses. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2025;34:108161. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2024.108161 Crossref.

27. Kenea CD, Abessa TG, Lamba D, Bonnechère B. Immersive Virtual Reality in Stroke Rehabilitation: A Systematic Review and Meta-Analysis of Its Efficacy in Upper Limb Recovery. J Clin Med. 2025;14:1783. doi: 10.3390/jcm14061783 Crossref.

28. Abdullah AH, Sharip S, Rahman AHA, Bakar L. Cognitive reserve in stroke patients. Psych J. 2021;10:444–452. doi: 10.1002/pchj.423 Crossref.

29. Ihle A, Zuber S, Gouveia ER, Gouveia BR, Mella N, Desrichard O, Cullati S, Oris M, Maurer J, Kliegel M. Cognitive Reserve Mediates the Relation between Openness to Experience and Smaller Decline in Executive Functioning. Dement Geriatr Cogn Disord. 2019;48:39–44. doi: 10.1159/000501822 Crossref.

30. Li F, Kong X, Zhu H, Xu H, Wu B, Cao Y, Li J. The moderating effect of cognitive reserve on cognitive function in patients with Acute Ischemic Stroke. Front Aging Neurosci. 2022;14:1011510. doi: 10.3389/fnagi.2022.1011510 Crossref.

31. Jellema S, van der Sande R, van Hees S, Zajec J, Steultjens EM, Nijhuis-van der Sanden MW. Role of Environmental Factors on Resuming Valued Activities Poststroke: A Systematic Review of Qualitative and Quantitative Findings. Arch Phys Med Rehabil. 2016;97:991–1002.e1. doi: 10.1016/j.apmr.2016.01.015 Crossref.

32. Ashaie SA, Castro N. Complexity of Participation Post-Stroke: Longitudinal Assessment of Community Participation, Positive Affect, Social Support and Functional Independence. J Rehabil Med. 2022;54:jrm00335. doi: 10.2340/jrm.v54.2238 Crossref.

33. Della Vecchia C, Preau M, Haesebaert J, Viprey M, Rode G, Termoz A, Dima A, Schott A-M. Factors associated with post-stroke social participation: A quantitative study based on the ICF framework. Ann Phys Rehabil Med. 2023;66:101686. doi: 10.1016/j.rehab.2022.101686 Crossref.

34. Elloker T, Rhoda AJ. The relationship between social support and participation in stroke: A systematic review. Afr J Disabil. 2018;7:357. doi: 10.4102/ajod.v7i0.357 Crossref.

35. Ezekiel L, Collett J, Mayo NE, Pang L, Field L, Dawes H. Factors Associated With Participation in Life Situations for Adults With Stroke: A Systematic Review. Arch Phys Med Rehabil. 2019;100:945–955. doi: 10.1016/j.apmr.2018.06.017 Crossref.

36. Gingrich N, Bosancich J, Schmidt J, Sakakibara BM. Capability, opportunity, motivation, and social participation after stroke. Top Stroke Rehabil. 2023;30:423–435. doi: 10.1080/10749357.2022.2070358 Crossref.

37. Jellema S, van Hees S, Zajec J, van der Sande R, Nijhuis-van der Sanden MW, Steultjens EM. What environmental factors influence resumption of valued activities post stroke: a systematic review of qualitative and quantitative findings. Clin Rehabil. 2017;31:936–947. doi: 10.1177/0269215516671013 Crossref.

38. Nayak A, Bhave AC., Misri Z, et al. Facilitators and barriers of community reintegration among individuals with stroke: a scoping review. Eur J Physiother. 2023;25:291–304. Crossref.

39. Ribeiro de Souza F, Sales M, Rabelo Laporte L, Melo A, Manoel da Silva Ribeiro N. Body structure/function impairments and activity limitations of post-stroke that predict social participation: a systematic review. Top Stroke Rehabil. 2023;30:589–602. doi: 10.1080/10749357.2022.2095086 Crossref.

40. Samuelsson H, Redfors P, Holmegaard L, Hjalmarson S, Zeijlemaker J, Blomstrand C, Jern C, Jood K. Long‐Term Life Participation in Young Stroke Survivors: Independent Associations With Depressive Symptoms, Communication Skills, Mobility, and Social Situation. Acta Neurol Scand. 2025;2025:8814382. doi: 10.1155/ane/8814382 Crossref.

41. Stolwyk RJ, Mihaljcic T, Wong DK, Chapman JE, Rogers JM. Poststroke Cognitive Impairment Negatively Impacts Activity and Participation Outcomes: A Systematic Review and Meta-Analysis. Stroke. 2021;52:748–760. doi: 10.1161/STROKEAHA.120.032215 Crossref. PubMed.

42. Zhou X, Wang Y, Zhou L. Social participation, resilience, and coping tendency in a sample of stroke survivors: a multi-centre cross-sectional study in China. J Rehabil Med. 2024;56:jrm12448. doi: 10.2340/jrm.v56.12448 Crossref.

43. He J, LaVela SL, Bombardier CH, Fong MWM, Lee SI, Metts CL, Shi Y, Tsang HWH, Wong AWK. Topic: Evaluation and Treatment of Social Isolation and Loneliness: Evidence-based Recommendations for Stroke and Neurological Rehabilitation. Curr Phys Med Rehabil Rep. 2025;13:6. doi: 10.1007/s40141-025-00477-7 Crossref.

44. Theeke LA, Mallow JA, Theeke E. A Pilot One Group Feasibility, Acceptability, and Initial Efficacy Trial of LISTEN for Loneliness in Lonely Stroke Survivors. SAGE Open Nurs. 2021;7:23779608211015154. doi: 10.1177/23779608211015154 Crossref.

45. Cai Q, Cai SB, Chen JK, Bai X-H, Jing C-X, Zhang X, Li J-Q. Tai Chi for anxiety and depression symptoms in cancer, stroke, heart failure, and chronic obstructive pulmonary disease: A systematic review and meta-analysis. Complement Ther Clin Pract. 2022;46:101510. doi: 10.1016/j.ctcp.2021.101510 Crossref.

46. Garcia-Munoz C, Gonzalez-Garcia P, Casuso-Holgado MJ, Martínez-Calderón J, Heredia-Rizo AM. Are movement-based mindful exercises (QIGONG, TAI CHI, AND YOGA) beneficial for stroke and Parkinson's disease? A scoping review. Complement Ther Med. 2023;72:102912. doi: 10.1016/j.ctim.2022.102912 Crossref.

47. Shao Y, Han JY, Li HL, Ren Z-P, Yang H. Effect of traditional Chinese exercises on the physical and mental health of stroke patients: a meta-analysis. Front Neurol. 2024;15:1455679. doi: 10.3389/fneur.2024.1455679 Crossref.

48. Su JJ, Lin RSY, Batalik L, Abu-Odah H, Pepera G, Xu Q, Yeung WF. Effects of mind-body exercise on physical and psychosocial well-being of stroke patients: A systematic review and network meta-analysis. Geriatr Nurs. 2024;55:346–353. doi: 10.1016/j.gerinurse.2023.12.011 Crossref.

49. Walter AA, Van Puymbroeck M, Bosch P, Schmid AA. Complementary and integrative health interventions in post-stroke rehabilitation: a systematic PRISMA review. Disabil Rehabil. 2022;44:2223–2232. doi: 10.1080/09638288.2020.1830440 Crossref.

50. Zheng X, Wu X, Liu Z, Wang J, Wang K, Yin J, Wang X. The Influences of Tai Chi on Balance Function and Exercise Capacity among Stroke Patients: A Meta-Analysis. Evid Based Complement Alternat Med. 2021;2021:6636847. doi: 10.1155/2021/6636847 Crossref.

51. Malone LA, Mendonca CJ, Kim Y. Active Videogaming Interventions in Adults with Neuromuscular Conditions: A Scoping Review. Games Health J. 2022;11:141–156. doi: 10.1089/g4h.2021.0096 Crossref.

52. Unibaso-Markaida I, Iraurgi I. Commercial videogames in stroke rehabilitation: systematic review and meta-analysis. Top Stroke Rehabil. 2022;29:551–567. doi: 10.1080/10749357.2021.1943798 Crossref.

53. Chan MWM, Lo SHS, Sit JWH, Choi KC, Tao A. Effects of visual arts-based interventions on physical and psychosocial outcomes of people with stroke: A systematic review and meta-analysis. Int J Nurs Stud Adv. 2023;5:100126. doi: 10.1016/j.ijnsa.2023.100126 Crossref.

54. Morris J, Toma M, Kelly C, Joice S, Kroll T, Mead G, Williams B. Social context, art making processes and creative output: a qualitative study exploring how psychosocial benefits of art participation during stroke rehabilitation occur. Disabil Rehabil. 2016;38:661–672. doi: 10.3109/09638288.2015.1055383 Crossref.

55. Sit JWH, Chan AWH, So WKW, Chan CWH, Chan AWK, Chan HYL, Fung OWM, Wong EML. Promoting Holistic Well-Being in Chronic Stroke Patients Through Leisure Art-Based Creative Engagement. Rehabil Nurs. 2017;42:58–66. doi: 10.1002/rnj.177 Crossref.

56. Ersoy C, Iyigun G. Innovative boxing training program outperforms the traditional scapular stabilization training program in post-stroke patients. Sci Rep. 2024;14:21001. doi: 10.1038/s41598-024-71331-4 Crossref.

57. Nayak P, Mahmood A, Kumaran DS, Natarajan M, Unnikrishnan B, Solomon JM. Adaptive sports for promoting physical activity in community-dwelling adults with stroke: a feasibility study. J Bodyw Mov Ther. 2021;28:341–347. doi: 10.1016/j.jbmt.2021.07.004 Crossref.

58. Jammal M, Kolt GS, Liu KPY, Dennaoui N, George ES. The impact of caregiving on the roles and valued activities of stroke carers: A systematic review of qualitative studies. PLoS One. 2024;19:e0304501. doi: 10.1371/journal.pone.0304501 Crossref.

59. Jellema S, Wijnen MAM, Steultjens EMJ, Nijhuis-van der Sanden MWG, van der Sande R. Valued activities and informal caregiving in stroke: a scoping review. Disabil Rehabil. 2019;41:2223–2234. doi: 10.1080/09638288.2018.1460625 Crossref.

60. Pendergrass A, Hautzinger M, Elliott TR, Schilling O, Becker C, Pfeiffer K. Family caregiver adjustment and stroke survivor impairment: A path analytic model. Rehabil Psychol. 2017;62:81–88. doi: 10.1037/rep0000118 Crossref.

61. Office of the Surgeon General (OSG). Our Epidemic of Loneliness and Isolation: The US Surgeon General’s Advisory on the Healing Effects of Social Connection and Community; Office of the Surgeon General (OSG): 2023.

62. Shi Y, Fong MWM, Metts CL, LaVela SL, Bombardier C, Hu L, Wong AWK. Dynamics of Perceived Social Isolation, Secondary Conditions, and Daily Activity Patterns Among Individuals With Stroke: A Network Analysis of Ecological Momentary Assessment Data. Arch Phys Med Rehabil. 2024;105:1314–1321. doi: 10.1016/j.apmr.2024.02.733 Crossref.

63. Theeke L, Horstman P, Mallow J, Lucke-Wold N, Culp S, Domico J, Barr T. Quality of life and loneliness in stroke survivors living in Appalachia. J Neurosci Nurs. 2014;46:E3–15. doi: 10.1097/JNN.0000000000000097 Crossref.

64. Lee S, Randolph SB, Baum CM, Nicholas ML, Connor LT. Social participation mediates the relationship between self-efficacy and loneliness among people with stroke during COVID-19: a cross-sectional study. Top Stroke Rehabil. 2024;31:585–594. doi: 10.1080/10749357.2024.2312639 Crossref.

65. Nour K, Desrosiers J, Gauthier P, Carbonneau H. Impact of a Home Leisure Educational Program for Older Adults Who Have Had a Stroke (Home Leisure Educational Program). Ther Recreation J. 2002;36:48–64.

66. Desrosiers J, Noreau L, Rochette A, Carbonneau H, Fontaine L, Viscogliosi C, Bravo G. Effect of a home leisure education program after stroke: a randomized controlled trial. Arch Phys Med Rehabil. 2007;88:1095–1100. doi: 10.1016/j.apmr.2007.06.017 Crossref. PubMed.

67. Ryan C, Stiell K, Gailey G, et al. Evaluating a family centered approach to leisure education and community reintegration following a stroke. Ther Recreation J. 2008;42:119–131.

68. Fini NA, Holland AE, Keating J, Simek J, Bernhardt J. How Physically Active Are People Following Stroke? Systematic Review and Quantitative Synthesis. Phys Ther. 2017;97:707–717. doi: 10.1093/ptj/pzx038 Crossref. PubMed.

69. Miller KK, Porter RE, DeBaun-Sprague E, Van Puymbroeck M, Schmid AA. Exercise after Stroke: Patient Adherence and Beliefs after Discharge from Rehabilitation. Top Stroke Rehabil. 2017;24:142–148. doi: 10.1080/10749357.2016.1200292 Crossref.

70. Whyte M, Douwes J, Ranta A. Green space and stroke: A scoping review of the evidence. J Neurol Sci. 2024;457:122870. doi: 10.1016/j.jns.2024.122870 Crossref. PubMed.

71. Lyu D, Wang J, Yang F, Zhang Y, Zhang W, Liu H, Lyu X, Fang B. Effect of Tai Chi on post-stroke non-motor disorders: a systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials. Clin Rehabil. 2021;35:26–38. doi: 10.1177/0269215520951020 Crossref.

72. Van Puymbroeck M, Allsop J, Miller KK, Schmid AA. ICF-based improvements in body structures and function, and activity and participation in chronic stroke following a yoga-based intervention. Am J Recreation Ther. 2014;13:23–33. doi: 10.5055/ajrt.2014.0076 Crossref.

73. Patterson KK, Wong JS, Prout EC, Brooks D. Dance for the rehabilitation of balance and gait in adults with neurological conditions other than Parkinson's disease: A systematic review. Heliyon. 2018;4:e00584. doi: 10.1016/j.heliyon.2018.e00584 Crossref.

74. Ares-Benitez I, Billot M, Rigoard P, Cano-Bravo F, David R, Luque-Moreno C. Feasibility, acceptability and effects of dance therapy in stroke patients: A systematic review. Complement Ther Clin Pract. 2022;49:101662. doi: 10.1016/j.ctcp.2022.101662 Crossref.

75. Terrill AL, Kirby AV, Nagata N, Bell S, Edgley S. Exploring the physical, psychological, and social benefits of adaptive outdoor cycling in persons with stroke using a mixed methods approach. Disabil Health J. 2025;18:101737. doi: 10.1016/j.dhjo.2024.101737 Crossref.

76. Zoerink D, Carter MJ. A case report of a physical activity intervention for adults with stroke: Enhancing balance and functional fitness through golf. Ther Recreation J. 2015;49:238–252.

77. Huang WH, Dou ZL, Jin HM, Cui Y, Li X, Zeng Q. The Effectiveness of Music Therapy on Hand Function in Patients With Stroke: A Systematic Review of Randomized Controlled Trials. Front Neurol. 2021;12:641023. doi: 10.3389/fneur.2021.641023 Crossref.

78. Le Perf G, Donguy AL, Thebault G. Nuanced effects of music interventions on rehabilitation outcomes after stroke: a systematic review. Top Stroke Rehabil. 2019;26:473–484. doi: 10.1080/10749357.2019.1623518 Crossref.

7.7. Return to Work

1. Clarke DJ, Powers K, Trusson D, Craven K, Phillips J, Holmes J, McKevitt C, Bowen A, Watkins CL, Farrin AJ, et al. The RETurn to work After stroKE (RETAKE) trial: Findings from a mixed-methods process evaluation of the Early Stroke Specialist Vocational Rehabilitation (ESSVR) intervention. PLoS One. 2024;19:e0311101. doi: 10.1371/journal.pone.0311101 Crossref.

2. Craven K, Holmes J, Kettlewell J, Radford K. Development of a digital, self-guided return-to-work toolkit for stroke survivors and employers using intervention mapping. PLOS Digit Health. 2025;4:e0000971. doi: 10.1371/journal.pdig.0000971 Crossref.

3. Radford K, Grant MI, Sinclair EJ, Kettlewell J, Watkin C. Describing Return to Work after Stroke: A Feasibility Trial of 12-month Outcomes. J Rehabil Med. 2020;52:jrm00048. doi: 10.2340/16501977-2647 Crossref.

4. Radford KA, Wright-Hughes A, Thompson E, Clarke DJ, Phillips J, Holmes J, Powers K, Trusson D, Craven K, Watkins C, et al. Effectiveness of early vocational rehabilitation versus usual care to support RETurn to work after stroKE: A pragmatic, parallel-arm multicenter, randomized controlled trial. Int J Stroke. 2025;20:471–485. doi: 10.1177/17474930241306693 Crossref.

5. Ntsiea MV, Van Aswegen H, Lord S, Olorunju S S. The effect of a workplace intervention programme on return to work after stroke: a randomised controlled trial. Clin Rehabil. 2015;29:663–673. doi: 10.1177/0269215514554241 Crossref.

6. Mead G, Gillespie D, Barber M, House A, Lewis S, Ensor H, Wu S, Chalder T. Post stroke intervention trial in fatigue (POSITIF): Randomised multicentre feasibility trial. Clin Rehabil. 2022;36:1578–1589. doi: 10.1177/02692155221113908 Crossref.

7. Schwarz B, Claros-Salinas D, Streibelt M. Meta-Synthesis of Qualitative Research on Facilitators and Barriers of Return to Work After Stroke. J Occup Rehabil. 2018;28:28–44. doi: 10.1007/s10926-017-9713-2 Crossref.

8. Sinclair E, Radford K, Grant M, Terry J. Developing stroke-specific vocational rehabilitation: a soft systems analysis of current service provision. Disabil Rehabil. 2014;36:409–417. doi: 10.3109/09638288.2013.793410 Crossref.

9. Trusson D, Powers K, Radford K, Bowen A, Craven K, Holmes J, Lindley R, McKevitt C, Phillips J, Thompson E, et al. Experiences of support to return to work after stroke: longitudinal case studies from RETAKE trial. Health Technol Assess. 2025;1:1–27. doi: 10.3310/wrks9661 Crossref.

10. van Meijeren-Pont W, van Velzen JM, Volker G, Arwert HJ, Meesters JJL, de Kloet AJ, van Bennekom CAM, Vliet Vlieland TPM, Tamminga SJ, Oosterveer DM; SCORE-study group. Stroke survivors' long-term participation in paid employment. Work. 2024;77:839–850. doi: 10.3233/WOR-230037 Crossref.

11. Chen NYC, Dong Y, Kua ZZJ. Addressing mood and fatigue in return-to-work programmes after stroke: a systematic review. Front Neurol. 2023;14:1145705. doi: 10.3389/fneur.2023.1145705 Crossref.

12. Craven K, Kettlewell J, De Dios Pérez B, Powers K, Holmes J, Radford KA. What do employers need when supporting stroke survivors to return to work?: a mixed-methods study. Top Stroke Rehabil. 2025;32:392–404. doi: 10.1080/10749357.2024.2409005 Crossref.

13. La Torre G, Lia L, Francavilla F, Chiappetta M, De Sio S. Factors that facilitate and hinder the return to work after stroke: an overview of systematic reviews. Med Lav. 2022;113:e2022029. doi: 10.23749/mdl.v113i3.13238 Crossref.

14. Lindgren I, Brogårdh C, Pessah-Rasmussen H, Jonasson SB, Gard G. Work conditions, support, and changing personal priorities are perceived important for return to work and for stay at work after stroke - a qualitative study. Disabil Rehabil. 2022;44:2500–2506. doi: 10.1080/09638288.2020.1836522 Crossref.

15. Renedo D, Acosta JN, Leasure AC, Sharma R, Krumholz HM, de Havenon A, Alahdab F, Aravkin AY, Aryan Z, Bärnighausen TW, et al. Burden of Ischemic and Hemorrhagic Stroke Across the US From 1990 to 2019. JAMA Neurol. 2024;81:394–404. doi: 10.1001/jamaneurol.2024.0190 Crossref.

16. Dedijer Dujović S, Djordjević O, Vidaković A, Mitrović S, Grajić M, Tomić TD, Rosić S, Radić A, Konstantinović L. Inequities in Stroke Recovery: Examining Sociodemographic Predictors of Rehabilitation Success. Healthcare (Basel). 2025;13:1739. doi: 10.3390/healthcare13141739 Crossref.

17. Peng S, Liu X, Cao W, Liu Y, Liu Y, Wang W, Zhang T, Guan X, Tang J, Zhang Q. Global, regional, and national time trends in mortality for stroke, 1990-2019: An age-period-cohort analysis for the global burden of disease 2019 study and implications for stroke prevention. Int J Cardiol. 2023;383:117–131. doi: 10.1016/j.ijcard.2023.05.001 Crossref.

18. Chen X, Lu L, Xiao C, Lan Y, Zhong S, Qin C, Tang Y. Global burden of ischemic stroke in adults aged 60 years and older from 1990 to 2021: Population-based study. PLoS One. 2025;20:e0322606. doi: 10.1371/journal.pone.0322606 Crossref.

19. Duong P, Egan M, Meyer M, Morrison T, Sauvé-Schenk K. The impact of stroke on employment income: A cohort study using hospital and income tax data in Ontario, Canada. Clin Rehabil. 2024;38:1109–1117. doi: 10.1177/02692155241249345 Crossref.

20. Vyas MV, Hackam DG, Silver FL, Laporte A, Kapral MK. Lost Productivity in Stroke Survivors: An Econometrics Analysis. Neuroepidemiology. 2016;47:164–170. doi: 10.1159/000454730 Crossref.

21. Gou R, Luo C, Liang X, Qin S, Wu H, Li B, Pan F, Li J, Chen J-A. Elderly stroke burden: a comprehensive global study over three decades. Front Aging. 2025;6:1489914. doi: 10.3389/fragi.2025.1489914 Crossref.

22. Edwards JD, Kapoor A, Linkewich E, Swartz RH. Return to work after young stroke: A systematic review. Int J Stroke. 2018;13:243–256. doi: 10.1177/1747493017743059 Crossref. PubMed.

23. VALPAR. Bases of Virginia LLC. Accessed October 17, 2025. https://www.basesofva.com/tpal-the-therapists-portable-assessment-laboratory/

24. Moore N, Reeder S, O’Keefe S, Alves-Stein S, Schneider E, Moloney K, Radford K, Lannin NA. "I've still got a job to go back to": the importance of early vocational rehabilitation after stroke. Disabil Rehabil. 2024;46:2769–2776. doi: 10.1080/09638288.2023.2230125 Crossref.

25. Orange C, Lanhers C, Coll G, Coste N, Dutheil F, Hauret I, Pereira B, Coudeyre E. Determinants of Return to Work After a Stroke: A Systematic Review and Meta-analysis. Arch Phys Med Rehabil. 2024;105:359–368. doi: 10.1016/j.apmr.2023.08.027 Crossref.

26. Westerlind E, Persson HC, Törnbom K, Sunnerhagen KS. Return to work predicts perceived participation and autonomy by individuals with stroke. Disabil Rehabil. 2020;42:3673–3678. doi: 10.1080/09638288.2019.1608324 Crossref.

27. Han J, Lee HI, Shin YI, Son JH, Kim S-Y, Kim DY, Sohn MK, Lee J, Lee S-G, Oh G-J, et al. Factors influencing return to work after stroke: the Korean Stroke Cohort for Functioning and Rehabilitation (KOSCO) Study. BMJ Open. 2019;9:e028673. doi: 10.1136/bmjopen-2018-028673 Crossref.

28. Hinkle JL, Becker KJ, Kim JS, Choi-Kwon S, Saban KL, McNair N, Mead GE; American Heart Association Council on Cardiovascular and Stroke Nursing and Stroke Council. Poststroke Fatigue: Emerging Evidence and Approaches to Management: A Scientific Statement for Healthcare Professionals From the American Heart Association. Stroke. 2017;48:e159–e170. doi: 10.1161/STR.0000000000000132 Crossref. PubMed.

29. Landínez-Martínez D, Grisales-Aguirre A. Limited Transfer of Working Memory Training to Instrumental Activities of Daily Living in Chronic Stroke Survivors: A Randomized Controlled Trial. Pathophysiology. 2025;32:40. doi: 10.3390/pathophysiology32030040 Crossref.

30. Bollinger RM, Krauss MJ, Somerville EK, Holden BM, Blenden G, Hollingsworth H, Keleman AA, Carter A, McBride TD, Barker AR, et al. Rehabilitation Transition Program to Improve Community Participation Among Stroke Survivors: A Randomized Clinical Trial. JAMA Netw Open. 2024;7:e2437758. doi: 10.1001/jamanetworkopen.2024.37758 Crossref.

7.8. Return to Driving

1. Hird MA, Vetivelu A, Saposnik G, Schweizer TA. Cognitive, on-road, and simulator-based driving assessment after stroke. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2014;23:2654–2670. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2014.06.010 Crossref.

2. Hwang S, Song CS. Driving Rehabilitation for Stroke Patients: A Systematic Review with Meta-Analysis. Healthcare (Basel). 2023;11:1637. doi: 10.3390/healthcare11111637 Crossref.

3. Stapleton T, Connolly D, O’Neill D. Factors Influencing the Clinical Stratification of Suitability to Drive after Stroke: A Qualitative Study. Occup Ther Health Care. 2015;29:253–271. doi: 10.3109/07380577.2015.1036192 Crossref.

4. Vander Veen A, Johnston L, Holmes J, Tucker P, Alvarez L. Screening fitness to drive after stroke across demographic subgroups: a systematic review. OTJR. 2025;46:573–590. doi: 10.1177/15394492251344518 Crossref.

5. George S, Crotty M, Gelinas I, Devos H. Rehabilitation for improving automobile driving after stroke. Cochrane Database Syst Rev. 2014;2014:CD008357. doi: 10.1002/14651858.CD008357.pub2 Crossref.

6. Unsworth CA, Baker A. Driver rehabilitation: a systematic review of the types and effectiveness of interventions used by occupational therapists to improve on-road fitness-to-drive. Accid Anal Prev. 2014;71:106–114. doi: 10.1016/j.aap.2014.04.017 Crossref.

7. Mazer B, Gélinas I, Duquette J, Vanier M, Rainville C, Chilingaryan G. A randomized clinical trial to determine effectiveness of driving simulator retraining on the driving performance of clients with neurological impairment. Br J Occup Ther. 2015;78:369–376. doi: 10.1177/0308022614562401 Crossref.

8. Blane A, Lee HC, Falkmer T, Willstrand TD. Assessing Cognitive Ability and Simulator-Based Driving Performance in Poststroke Adults. Behav Neurol. 2017;2017:1378308. doi: 10.1155/2017/1378308 Crossref.

9. Groeger JA, Murphy G. Driving and cognitive function in people with stroke and healthy age-matched controls. Neuropsychol Rehabil. 2022;32:1075–1098. doi: 10.1080/09602011.2020.1869566 Crossref.

10. Tiu J, Harmon AC, Stowe JD, Zwa A, Kinnear M, Dimitrov L, Nolte T, Carr DB. Feasibility and Validity of a Low-Cost Racing Simulator in Driving Assessment after Stroke. Geriatrics (Basel). 2020;5:35. doi: 10.3390/geriatrics5020035 Crossref.

11. Maresova P, Krejcar O, Maskuriy R, Bakar NAA, Selamat A, Truhlarova Z, Horak J, Joukl M, Vítkova L. Challenges and opportunity in mobility among older adults - key determinant identification. BMC Geriatr. 2023;23:447. doi: 10.1186/s12877-023-04106-7 Crossref.

Đăng nhận xét

X